Dạ Ngân - Chuyện nhỏ tháng tư

  • Bởi Diên Vỹ
    27/04/2014
    2 phản hồi

    <strong>Văn Việt: </strong>Lại sắp đến một ngày tháng 4 mà dưới lớp hào quang một phía của nó, ta vẫn còn nghe tiếng thổn thức trái tim bao nhiêu người mẹ Việt. Đau đớn thay, gần 40 năm trôi qua, câu chuyện nhỏ mà nhà văn Dạ Ngân kể dưới đây vẫn còn là “vấn đề của hôm nay”. 40 năm sau, người “thắng”, kẻ “thua”, người sống, kẻ chết, cả hai đều là con mẹ, mẹ yêu thương cả hai. Nhưng đứa con mà Mẹ Việt Nam trông đợi phải thay đổi thái độ cư xử lâu nay khiến mẹ đau lòng chính là đứa còn sống, đứa tốt số, đứa “thắng cuộc”.

    Má tiễn đứa con trai đầu vào chiến khu khi nó mười tám tuổi. Không cho đi cũng không xong. Nó bóc xóc, ăn ngủ không yên, bạn bè trang lứa nườm nượp lên đường, ở nhà nó thấy nhục.

    Đứa em trai út ít ở lại với má. Không lâu sau bom đạn thổi tạt hai mẹ con má ra ven thành, trong một xóm tản cư trên bờ sông lở lói. Đứa út rồi phải lớn, tránh bị bắt lính bằng cách khi có báo động thì treo mình trốn dưới những sàn nhà trong xóm tản cư. Má giữ riệt nó bên mình, nhất định phải có một đứa ở nhà với má!

    Nó phải có căn cước và hộ tịch để đi lại cho đàng hoàng. Rồi phải tặc lưỡi, tạm đi dân vệ, cầm súng lơ ngơ cũng được, miễn má được đỡ đần. Một lần anh trai “độn thổ” trồi lên từ dưới sàn nhà, bắt gặp em vừa đi tuần về, giận dữ tát em mình một cái nổ đom đóm rồi bỏ đi biền biệt. Má khóc tấm tức, má thương cả hai đứa nhưng má không thể không giữ một đứa bên mình.

    Má cưới vợ sớm cho con trai út. Má cũng sớm có cháu nội trai như mong ước. Một đêm tối trời, đứa con dân vệ trở về trên vai một người đồng ngũ của nó. Má thấy như bị con trai lớn mình tát cho một cái, bà thấy chưa, thấy chưa? Má nghĩ, chỗ nào cũng súng với đạn, chúng có chừa ai ra mà biết bên nào còn bên nào mất, hở con?

    Má với con dâu hì hục một chuyến tam bản, thuyết phục ba cái bót và trạm cầu mới đưa được đứa con tử sỉ về chôn vội ở vườn cũ. Má ước gặp anh nó ở nơi tự do oanh kích này. Nhưng má cũng sợ con trai quay lưng, từ mặt. Có không chuyện con từ cha từ mẹ, dám lắm chớ, nó là đứa chỉ biết có một đường, không tha thứ cho lối ngang lối rẽ. Anh em du kích giúp má cái huyệt mộ và một nắm đất. Má cũng nghe nói con trai lớn thành đạt ở trong Khu.

    Tháng Tư năm Bảy lăm má khóc mừng khóc tủi. Người như bị xé làm đôi. Con dâu đã bỏ má đi bước nữa từ trước. Má thắc thỏm cùng thằng cháu nhỏ về lại vườn nhà. Con trai về qua, rạng ngời chiến thắng. “Bàn thờ này má đặt ba thì được còn thằng dân vệ thì… Lúc nào có mặt con ở đây, má làm ơn úp ảnh nó vô vách tủ nghen!”

    Má lại khóc, hết khóc nhịn thì khóc lén. Lần nào giỗ chồng, má đều nhớ úp ảnh con trai út vô trong, những khi đó mà nghe nó tủi, nó hờn, nó uất, đủ cả, má nghe thấy mà, má là mẹ mà, má biết hết. Lỗi tại má, lỗi tại má, biết bao lầm má đấm ngực nói với đứa con trai chiến thắng của mình như vậy. Nhưng nó không chịu nghe, nó không chấp nhận bất kỳ lời thanh minh nào.

    Dĩ nhiên con dâu cả của má cũng thành đạt, con trai nó vênh vang và nhà của chúng nó xênh xang. Hai đứa cháu cùng gọi má là nội nhưng là hai số phận, đỏ và đen. Đứa cháu nông dân níu bà, níu mồ mả ông cha nên lầm than, thất học. Lép một bề. Vợ con nó vì vậy mà cũng sẽ lép một bề, mãi mãi. Nhiều lần riêng tư bà cháu, má hỏi, hồi đó mấy người bạn của ba rủ con vượt biên mà con không nỡ đi, con có tiếc không? Nó mím môi lắc đầu, nó cứ nhìn xuống đôi chân chai lì của mình lắc đầu.

    Nhưng má thì cứ thế mà khóc.

    Tác giả gửi Văn Việt

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Gửi các bác truyện ngắn "Em tôi" của tác giả Lang Lê, dựa theo bài thơ "Bé" của nhà văn quân đội VNCH, Phan Nhật Nam.

    Một trong những câu chuyện, truyện ngắn về số phận con người.
    Số phận của rất, rất nhiều gia đình có thân nhân ở hai bên chiến tuyến.
    Một câu chuyện rất cảm động, không kêu gọi oán thù, chỉ tạo nên những suy nghĩ về nỗi khổ đau của rất nhiều gia đình Việt Nam trong và sau cuộc chiến. Những cố gắng vươn lên trong cuộc sống cũng như những tàn phá của định mệnh, của chiến tranh, của hoà bình. Tôi không viết hoa chữ hoà bình vì cho đến hôm nay Dân Tộc chúng ta chưa có hoà bình thật sự.

    http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnmn3nvn31n343tq83a3q3m3237nvn

    Nguyễn Jung

    Ngày giải phóng thủ đô, một gia đình nghèo sống ở ngoại thành chứng kiến biết bao bộ đội tiến quân vào Hà Nội, bà mẹ thì mong ngóng chồng trở về, còn mấy đứa con thì mong ngóng bố trở về vì người chồng, ông bố ấy đi bộ đội ngay từ ngày đầu kháng chiến. Nhưng rồi những người mong ngóng đó thất vọng, những đứa con không biết ngày nào bố trở về.

    Rồi đến ngày thống nhất đất nước sau hơn 20 năm giải phóng thủ đô, cái gia đình ấy lại có chuyện người ở nhà mong ngóng người từ chiến trường trở về, bà mẹ nay đã già, ngóng người con trai thứ hai đã đi bộ đội và chiến đấu ở miền Nam, người chị cả mong ngóng đứa em trai trở về, chị đã "dấm" cho cậu em một cô gái ngoan ngoãn là em gái người bạn của chị. Nhưng rồi người em trai ấy cũng không về...

    Trên bàn thờ của gia đình chị thêm một chiếc ảnh thờ, đó là một thanh niên bên cạnh một người lớn tuổi, đó là hai cha con. "Lớp cha trước lớp con sau đã thành đồng chí trong câu quân hành" đúng như câu hát trong một bài hát hay bài thơ nào đó... Vui hay buồn, vinh dự hay đau lòng...đó là tùy cảm nhận của mỗi người, người ngoài cuộc khác người trong cuộc.