Hà Nhân - Nghịch lý văn chương và thông điệp đẫm máu

  • Bởi Khách
    23/04/2014
    8 phản hồi

    Hà Nhân

    (Nhân đọc “PGS.TS. Phan Trọng Thưởng: Để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn” đăng trên vanvn.net ngày 19.4.2014)

    Bài nhận xét luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan do PGS.TS Phan Trọng Thưởng viết khá dài, ước chừng khoảng 10 trang A4. Đọc đi đọc lại thì thấy có nhiều chỗ “bi hài thống thiết” nên phải viết ra đây, coi như lời tản mạn, nhàn đàm của một “thảo dân” biết chữ.

    1. Nghịch lý thứ nhất: Luận văn phức tạp, còn lời nhận xét thì đơn giản ngoài sức tưởng tượng. Tôi cho rằng luận văn của Đỗ Thị Thoan rất phức tạp trên nhiều phương diện: vấn đề phức tạp, phương pháp phức tạp, câu chữ phức tạp, kết luận phức tạp, dư luận phức tạp.

    • Vấn đề phức tạp: vì đối tượng nghiên cứu không chỉ là nhóm Mở Miệng và thơ của nhóm này mà là vấn đề “thực hành thơ” dưới góc nhìn “văn hóa”. Không thể phiên dịch “thực hành thơ” chỉ là làm thơ (bởi nội hàm nó rộng hơn, còn có nghĩa là “nghịch thơ”, “chơi thơ”, v.v…), ở đây cần hiểu là một hành vi sáng tạo chưa định danh, một xu thế về thể loại. Nghiên cứu một xu thế văn chương cũng giống như giải một bài toán về quĩ tích, tìm một điểm M vô hình nào đó luôn động của một tập hợp điểm, phức tạp quá chứ còn gì.
    • Phương pháp phức tạp: cách tiếp cận và giải quyết vấn đề trong trường hợp này đòi hỏi một phương pháp liên ngành ở chiều sâu (đòi hòi quá nhiều tri thức vệ tinh như lý thuyết thơ đương đại, lý thuyết hậu hiện đại, triết học hậu hiện đại,…), đồng thời phải có bản lĩnh về loại hình học. Chỉ cần đặt câu hỏi thơ nhóm Mở Miệng có phải là thơ không, thì toàn bộ luận văn đã có nguy cơ đổ. Vì thế, cô Thoan thông minh đã đặt “Mở miệng” vào “góc nhìn văn hóa”, vào thế “thực hành”. Đó là cách “thoát” của cô. Xét về bản lĩnh học thuật, cách thoát đó cũng đã đủ làm chứng cho trình độ thạc sĩ của cô rồi.
    • Câu chữ phức tạp: Cô Đỗ Thị Thoan dùng rất nhiều câu ghép, câu phức, phương tiện liên kết câu linh hoạt, trích dẫn trùng điệp, trộn lẫn câu nghi vấn và câu khẳng định khiến người không quen đọc rất khó tiếp cận. Chưa kể những dẫn chứng về tác phẩm của nhóm Mở Miệng cũng thuộc loại ngôn từ khó đọc.
    • Kết luận phức tạp: Tuy cô Thoan có viết phần kết luận trong luận văn (theo nguyên tắc trường qui đối với luận văn cao học) nhưng vấn đề về Mở Miệng không thể kết luận, vì tính đương đại của nó, và vì bản chất khoa học xã hội, nhân văn không phải là thứ dễ đi đến một kết luận cuối cùng. Cái thông minh của cô Thoan lại nằm ở mấy câu hỏi.
    • Dư luận phức tạp: Cô Thoan viết luận văn khi mà trước đó, trong khi đó, và sau này, những đánh giá về nhóm Mở miệng vẫn còn phân hóa cao độ.

    Với một núi phức tạp xoay quanh đề tài, có thể nói rằng, luận văn của cô Thoan được viết bằng tất cả sự “ngây ngô chính trị” của một người trẻ ham hiểu biết, ham đọc, ham nghĩ, ham trình bày và diễn giải, ham đặt vấn đề, ham ngắm mình qua vấn đề mà mình tâm đắc đến cao độ. (Tôi phải dùng từ “ngây ngô chính trị” trong ngoặc kép để đối lập cái nhận xét của ông Thưởng dành cho cô Thoan là “kích động chính trị”. Nếu muốn kích động, thì hỡi ôi, Thuyên ơi là Thuyên, dại gì mà viết hàng trăm trang trong một bài tập luận văn để người ta đánh giá, chấm điểm, công bố?). Cô Thoan nói về chính trị bằng sự ngây ngô trong thái độ (sống) và sự già dặn trong nhận thức học thuật (trong tình huống nghiên cứu của cô). Cái “ngây ngô” của cô Thoan rất gần với sự hồn nhiên. Cô không biết (hoặc không chú ý rằng) việc chọn lựa đối tượng nghiên cứu và cách viết của mình sẽ “chạm nọc” một thiết chế cằn cỗi, một hệ thống báo động thuần thục, một cảm hứng “truy xét” vốn tràn trề trong cái bầu khí quyển xứ này.

    Ngược lại, người nhận xét (là Phó Giáo sư Phan Trọng Thưởng) lại có vẻ “già dặn” trong thái độ (sống) và “ngây ngô” trong nhận thức học thuật. “Già dặn” vì ông chấm luận văn nhưng toàn nói chuyện “quốc gia đại sự”, ngỡ như giọng của một người “ưu dân ái quốc” xa xưa. “Ngây ngô” vì chỗ cần phân tích thì ông không nói, chỗ cần lý luận thì không bàn, ông chỉ nói cái ông đã “đinh ninh”, cái ông nghĩ trước rồi đặt vào “cho tiện” (một phong cách rất chuẩn “quan cách”). Ông trích dẫn nhiều nhưng không mổ xẻ (chắc ông cũng ngại!), trích dẫn nhiều đến nỗi thi thoảng người đọc có cảm giác ông cũng… ngầm thích mấy cái dẫn chứng đó hay sao (?!), hoặc không đủ sức phân tích cái đống ngôn từ ngồn ngộn mà ông trót trích ra. Thế không “ngây ngô” thì gọi là gì?

    Cô Thoan không thể nhân danh một quyền lực chính trị nào để viết (vì làm sao có được một quyền lực nào?). Cô Thoan lập luận nhiều hơn kết luận (vì cô phải cố gắng viết để còn ra bảo vệ trước hội đồng học thuật). Còn ông Thưởng thì không nhận xét mà phán xét (vì ông được cho và tự cho mình quyền đó), không lập luận mà kết luận (vì ông không có thời gian và trình độ để thông diễn). Thái độ hai chiều trong tương quan người viết-người đọc ở đây là rất “bí hiểm”. Mà mấy cái câu kết luận của ông, hình như câu nào cũng có vấn đề. Ví dụ: “Với quan điểm lựa chọn như trên, có thế nói luận văn đã tập trung nghiên cứu một hiện tượng nổi loạn, không chính thống, một hiện tượng bên lề, một dòng ngầm không chỉ mang ý nghĩa văn chương đơn thuần mà còn mang ý nghĩa chính trị phản kháng, phản động”. Sao vậy? Sao “một hiện tượng nổi loạn, không chính thống, một hiện tượng bên lề, một dòng ngầm” thì lại “mang ý nghĩa chính trị phản kháng, phản động”? Chắc ông lo làm chính trị nên quên cách viết văn sao cho có nghĩa. Viết như thế làm gì có nghĩa gì. Một số kết luận khác trong bài nhận xét của ông Thưởng:

    • “Đó là những luận điểm sai trái mang tính kích động chính trị rõ rệt”
    • “đây là chương được xem như cơ sở lý thuyết, như là khung lý luận của luận văn”
    • “Về thực chất đây là một luận văn chính trị trá hình, văn chương chỉ là cái cớ”.
    • “Trong bối cảnh cuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra khá phức tạp hiện nay, nếu để lưu hành luận văn này sẽ gây tác hại không chỉ đến văn học, nghệ thuật mà còn gieo rắc những tư tưởng nổi loạn, chống đối, gây mất bình ổn trong đời sống chính trị, tư tưởng, tác động tiêu cực tới thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên trong nhà trường”.
    • Về mẫu câu, ta thấy chủ yếu ông dùng mẫu: “Đây là”, “Đó là” (vì nó rất dễ dùng). Ở câu cuối cùng, ngữ pháp tiếng Việt được ông sử dụng “loạn xạ”, ai hiểu được thì hiểu.

    Viết như thế, hoặc là ông không thể suy nghĩ được nữa, do tuổi tác, do lạm dụng hay ám ảnh quá khứ quyền lực, hoặc là ông quen với một số “mẫu câu cơ bản” được rèn luyện qua mấy đợt học chính trị cao cấp, dùng để đọc người khác, cái khác, hoặc ông mất khả năng liên tưởng về ngôn từ. Cái nào cũng nguy hại quá chừng!

    Dùng một cách viết đơn giản, ngây ngô như một nắm tay sắt để đối chọi lại một hiện tượng học thuật vô cùng phức tạp, đó là “bản lĩnh chính trị” của PGS Thưởng hay thói quen “viết lách” của ông từ trước đến nay? Câu hỏi này làm tôi nghĩ mãi.

    2. Nghịch lý thứ hai: Luận văn viết theo phong cách khá nghệ sĩ, bản nhận xét thì có màu sắc lời nghị án của tòa.

    Luận văn được viết trong tâm thế cho một người đọc lý tưởng - người đọc được đón đợi nhiều nhất trong tâm lý người viết. Điều này cũng là bình thường. Ai cũng biết đó là qui luật của tâm lý tiếp nhận, mỹ học hồi đáp. Nói như thế để thấy sự đam mê quá đà của cô Thoan trong quá trình viết luận văn. Nhưng đọc kỹ luận văn thì mới thấy là không phải cô đam mê chính nhóm Mở miệng mà cô đam mê những hiện tượng tinh thần và các rắc rối của nhóm Mở miệng xoay xung quanh những dự cảm và hệ lụy của kiểu sáng tác này. Cô đam mê đến mức viết luận văn mà như viết thơ, viết tùy bút, nhiều chỗ phóng bút mạnh mẽ, liều lĩnh để chờ đợi những tri âm của mình. Và đó cũng là điều mà Hội đồng chính thức cách đây hơn 3 năm đã trân trọng đánh giá cô. Điểm 10 của cô là điểm 10 của tiềm năng, hứng khởi chứ không phải là một sự xác quyết về tài năng tuyệt đối hay sự xác lập thái độ phe cánh chính trị. Đó là cái lý của Hội đồng chính thức lần 1. Họ có quyền nghiêng về quan điểm phóng khoáng, nghệ sĩ hay chặt chẽ, kín kẽ trong quá trình đánh giá, phản biện. Sự chênh lệch về điểm khi nghiêng về quan điểm này hay quan điểm khác hoàn toàn nằm trong cái khung đảm bảo những đúng đắn về tiêu chí đào tạo sau đại học; cho nên kết quả của Hội đồng lần 1 không có bất kỳ lý do gì để bị phủ quyết. Họ còn xa lắm mới “thấp xuống” thành cái gọi là “ổ phản động” như nhận định của ai đó trong cuộc chiến nóng hổi “đánh Nhã Thuyên” đã (và đang) diễn ra.

    Nhưng có vẻ như ông Thưởng không thuộc vào số người đọc lý tưởng của cô Thoan (đương nhiên, mà ông cũng không muốn thế chút nào!). Ông thuộc vào “số khác”.

    Tôi rất lấy làm lạ kỹ năng “đọc nhanh”, “đọc lướt” của PGS Phan Trọng Thưởng (và ngờ ngợ hay giáo sư không quen đọc tiếng Việt, nhất là mấy câu phức khó, dài?). Cô Đỗ Thị Thoan chưa bao giờ từ nhận mình là “chính trị đội lốt văn chương”. Nhưng ông Thưởng thì chắc như đinh đóng cột: “Như tác giả luận văn đã tự xác nhận, đây là một luận văn “chính trị đội lốt văn chương””. Nguyên văn đâu phải thế, cô Thoan viết là: “Câu hỏi đây là sự cách tân văn chương mang tính chính trị hay là hành vi chính trị đội lốt văn chương thấm đẫm nguyên lý ý thức hệ và sự lệ thuộc vào một từ chính trị được cắt nghĩa hẹp hòi: Tại sao các anh không cứ cách tân đi, bởi văn chương mới chính là lĩnh vực của anh? Tại sao phải lên tiếng về chính trị và bình luận xã hội? “Nay ở trong thơ nên có thép” có chính trị không? Không phải chúng ta đã bội thực thứ văn chương (phục vụ) chính trị rồi sao?”. Ôi ông Thưởng ơi, đời thuở nhà ai lại có người ngu dại thế, lại tự nhận mình là “chính trị đội lốt văn chương” làm gì cho khổ. Cô Thoan cô ấy nói rằng nếu như đặt hai câu hỏi đối với hiện tượng nhóm Mở Miệng: 1 là “cách tân văn chương mang tính chính trị”, 2 là “chính trị đội lốt văn chương” thì cả hai câu hỏi đó đều bị hạn hẹp bởi cách hiểu thô thiển về chính trị. Sau đó, cô ấy đặt ra mấy câu hỏi mở rộng. Mà mấy câu đó đều xoay quanh vấn đề bản chất của văn chương là gì? Mối quan hệ giữa văn chương và chính trị thực chất là gì? Cô Thoan quan tâm điều đó, chứ cô Thoan không gọi làng nước tới hoặc be be lên chứng minh mình là cừu đen lạc trong đám cừu trắng đâu.

    Cái nghịch lý bi hài cao độ của vụ Nhã Thuyên là: Hội đồng chấm luận văn lần thứ nhất (chính thống về học thuật) là một sự hợp nhất của cái nhìn nghệ sĩ (tất nhiên nghệ sĩ tuyệt đối trong học thuật thì cũng có mặt hay dở của nó). Hội đồng thứ hai (chính thống về chính trị) là một sự “thăng hoa” của uy quyền. Điểm 10 được biểu quyết là sự cộng hợp các trạng thái nghệ sĩ của người viết, người chấm. Còn kết luận hủy diệt là sự đồng tình nhất trí của những người “bảo hoàng hơn vua”, quyết tâm sống mái chấm dứt những “thăng hoa” … không giống mình.

    3. Nghịch lý thứ ba: Luận văn thực sự là một hiện tượng trong nghiên cứu và giảng dạy văn học đương đại, bản nhận xét là một “hiện tượng ăn theo” có khả năng “nổi tiếng” hơn “chính chủ”.

    Có thể nói, đến giờ phút này, PGS. TS. Phan Trọng Thưởng “nổi tiếng ngoài dự kiến”, đi vào lịch sử ngoài dự kiến. Ông có đến mấy cái nổi tiếng hơn người. Trong danh sách tham gia “thẩm định lại” luận văn cô Đỗ Thị Thoan, ông là người từng có địa vị danh giá nhất (Viện trưởng Viện Văn học). Đó là cái nổi tiếng thứ nhất. Danh giá thế mà lại dự phần vào cái “cuộc nhiễu nhương” này. Đó là cái nổi tiếng thứ hai. Tham gia chấm lại xong, ông rất bình tĩnh đưa bài nhận xét lên báo mạng (tất nhiên là báo chính thống của Hội Nhà văn Việt Nam). Đó là cái nổi tiếng thứ ba. Bài nhận xét, đứa con tinh thần của ông, giờ phiêu bạt chân trời nào, bị thiên hạ đối xử ra sao, chắc ông không thể lường nổi, không thể lường hết. Đó là cái nổi tiếng thứ tư của ông. Và chắc là ông còn được nhắc đến nhiều nữa như một “huyền thoại” của “kỳ tích” đào tạo đại học xứ Việt.

    4. Nghịch lý thứ tư: Người viết luận văn thì say cuồng văn chương, người viết nhận xét thì mê mẩn uy quyền

    Cô Đỗ Thị Thoan quả là say nghề say chữ. Có lẽ phong cách viết của cô Thoan đã chiếm được cảm tình Hội đồng lần 1 bởi tính chuyên nghiệp và bản lĩnh ngôn từ. Cô Thoan không viết luận văn như học trò làm bài tập mà viết như một trí thức có nhiều suy nghĩ trưởng thành, sắc sảo, có một trình độ diễn đạt nhuần nhuyễn. Đó là một sự khác biệt không thể bỏ qua. Nhưng cô cũng là nạn nhân của chính mình. Cái sai lớn nhất của Nhã Thuyên là (có lẽ do quá say viết) đã chọn nhầm điểm-rơi-thái-độ với đối tượng nghiên cứu của mình: đẩy thực hành thơ của Mở miệng lên góc nhìn mỹ học (Không phải bất kỳ một hiện tượng thực hành thơ nào cũng có một nền tảng mỹ học hoặc có khả năng xây dựng một mỹ học cho mình. Ngay nhóm Xuân Thu nhã tập với hoài bão làm nên một mỹ học về Đạo, về sự trong sáng của thơ, cũng chấp nhận dở dang và không thể xem là đã có một mỹ học, huống gì những bước đi tìm kiếm và bề bộn của Mở miệng). Đó mới là cái lệch lớn nhất của luận văn. Cái lệch ấy, nếu có thể gọi là sai, thuộc về cái sai của một đẳng cấp học thuật, chứ không phải cái sai của tư cách công dân.

    Thế nhưng, trong khi người viết say mê văn chương bao nhiêu thì người chấm lại mê mẩn việc tiêu diệt văn chương bấy nhiêu. Cái uy quyền mà PGS Thưởng thể hiện trong bài nhận xét thể hiện ở lượng từ vựng “an ninh” được dùng một cách hào hứng và kiên trì. Đặc biệt, như trên đã phân tích, luận văn được trích trong bài nhận xét rất nhiều (chắc là phải đến gần 80% lượng chữ), không cân đối một chút nào với mấy lời điểm chú rất “quái dị”, tối tăm của ông giáo sư.

    Chỉ có sự uyên bác, tài năng và niềm tin vào chân lý học thuật mới là quyền lực cao nhất và cần có nhất ở môi trường trí thức. Ngoài ra, mọi “quyền lực khác” đều là lố bịch.

    Trong cuốn tiểu thuyết Vạn Xuân viết về Nguyễn Trãi của một tác giả người Pháp Yveline Féray, tôi nhớ có một câu như thế này: “Bi kịch của Nguyễn Trãi là bi kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội nhỏ bé”. Cái thước thì ngắn mà đo những thứ quá cao quá dài – sự thật đó là bi kịch của cái thước hay bi kịch của cái thứ cao dài kia? Nguyễn Trãi bi kịch vì sinh ra ở Việt Nam, hay Việt Nam bi kịch vì đã giết Nguyễn Trãi? Một môi trường học thuật mà quan hệ giữa thầy và trò trở thành quan hệ dân – quan, quan hệ tử tù và thẩm phán thì hỡi ôi, trước khi cái thước ngắn cũn cỡn kia lâm vào bi kịch bất lực, nó cũng giết đi bao nhiêu thứ dài cao vô hạn; nó đo hết và trảm hết những cái vượt ra ngoài cái nó đo. Ai đã đẻ ra cái thước đó, và ai cho nó quyền được đo tất cả?

    5. Nghịch lý thứ năm: Nhan đề phản chủ

    Có lẽ ông Phan Trọng Thưởng suy nghĩ rất cẩn trọng để chọn một nhan đề rất nhã nhặn, lịch sự trong bối cảnh “dầu sôi lửa bỏng” hiện nay: “để hiểu rõ hơn thực chất của một luận văn”. Song, chẳng hiểu thế nào mà nội dung bài viết ấy lại làm người đọc hiểu rõ hơn thực chất về… PGS.TS Phan Trọng Thưởng! Đó là sự diễn tiến của chữ nghĩa ngoài đoán định của PGS. Nếu như thế thì chính chữ nghĩa của ông đã nổi loạn với chính ông. Vậy, chẳng phải “nổi loạn là điều kiện để sáng tạo hay sao”, thưa ông? Vậy, sao ông lại bức xúc khi người khác nói về sự “nổi loạn”?

    6. Nghịch lý thứ sáu: Viết về “Mở miệng” nhưng bị bắt “Im mồm”

    Cô Đỗ Thị Thoan hẳn không thể tưởng tượng nổi một kết cục cười ra nước mắt: luận văn viết 3 năm được thông qua bây giờ bị hủy, hào hứng viết về “Mở miệng” thì bị tịch thu, đuổi việc và bắt “im mồm”…

    Khi viết bài này, tôi luôn ám ảnh trong đầu ông Phan Trọng Thưởng là một “thiên sứ”, hoặc một “sứ giả” mang thông điệp từ một Đấng nào đó để đáp xuống cái Khoa Ngữ văn của Đại học Sư Phạm Hà Nội đang bề bộn bao nhiêu vấn đề… Đúng như cái tên ông vậy, một sự “trọng thưởng” từ phía nào đó vô hình trên cao dành cho cương vị ông có, cho tiếng nói ông nói. Ông viết nhận xét như dạo một bản “nhạc thánh”, tuyên bố về luận văn như tung chiếu chỉ!

    Không một trí thức đích thực nào ở nước Việt Nam này không biết đến vụ án Nhân văn Giai phẩm hồi giữa thế kỷ XX; Gọi là một cuộc chơi cũng đúng, một cuộc chiến cũng đúng, một lỡ lầm, một quá đáng, một ăn năn, một uất nghẹn…, đều đúng! Chắc chắn rằng bao nhiêu con người ngậm khối tinh thần đau đớn đem chôn xuống ba tấc đất ngày ấy cũng đã thấm thía những tờ “thánh chỉ” có một không hai kiểu như “bản nhận xét thẩm định” của ông Thưởng. Những thông điệp bên ngoài có vẻ lịch sự, nhã nhặn, trịnh trọng tựa như lời của kẻ “cầm cân nảy mực” cho sơn hà lại chứa đựng nhiều dự cảm đẫm máu (như đã từng xảy ra).

    Văn chương, nghệ thuật không nhất thiết phải trở thành nạn nhân trong bất cứ thời đại nào, cũng như không có quy luật nào cho phép khoa học là nạn nhân của thần học cực đoan. Nhưng sự thật là: khoa học vẫn từng chết dưới tay thần học, văn chương vẫn bị chính trị hành quyết. Những cuộc “tuẫn tiết” diễn ra trong quá khứ đã chứng minh rằng khi một nền văn nghệ sống trong sự kiểm duyệt của “văn hóa công an” thì bề nào nó cũng trở thành nạn nhân. Hoặc là nó “vinh dự” trở thành một nạn nhân tự nguyện, tự mình cắt cụt chiếc cánh tự do vô tận, hoặc là nó cam khổ trở thành một nạn nhân bị cưỡng bức, mọc chiếc cánh tự do như một “quái thai” bay tới một chân trời mà điểm dừng của nó là những song sắt nhà tù lè tè dưới mặt đất.

    PGS.TS Phan Trọng Thưởng thật “dũng cảm” khi công bố bản nhận xét của ông (“Dũng cảm” trong nhiều nghĩa!). Vậy là vẫn còn những bản nhận xét khác nữa (vì Hội đồng thẩm định đâu chỉ một người). Ai quyết được rằng hàng tá lời thẩm định trong bóng tối kia sẽ không dắt díu tới những ngày buồn đẫm máu một thời của “nạn chữ nạn văn”…?

    22.4.2014

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Phản hồi: 

    PGS Phan Trọng Thưởng đã lấy cây thước ngắn của Tuyên giáo để đo tư tưởng tự do học thuật cao xa của cô Đỗ thị Thoan.
    Chắc chắn với cây thước này cô Thoan sẽ bị cắt đầu hay cắt chân cho vừa với khuôn khổ của Tuyên giáo.

    Phản hồi: 

    Khách Trương Phi viết: "Thưa ông, ông có biết toán cao cấp là gì không? Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không? Ông có biết quỹ tích là gì không? Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không? Trong toán cao cấp (xưa) có ai dạy quỹ tích không?
    Ngoài ra, kiến thức về văn học của ông chưa có gì, ông nên nghe và đọc nhiều hơn nữa."

    Nhiều người cũng không biết "toán cao cấp là gì", ngày nay không "dùng chữ ấy" thì dùng chữ gì? Vậy xin khách Trương Phi giải thích hộ những điều đã phê phán người khác, xin tác giả cũng giải thích luôn cả "quỹ tích" nữa. Laị còn hoạnh "Trong toán cao cấp (xưa) có ai dạy quỹ tích không?" Thế thì "xưa" Trương Phi có học toán cao cấp không mà biết người ta không dạy?

    Còn phê người ta "kiến thức về văn học của ông chưa có gì", thế kiến thức văn học cuả Trương Phi đến đâu?

    Cứ cái kiểu phê chung chung thế này sao giống CS thế. Nhiều người bàn về cái luận án thạc sĩ của Nhã Thuyên nhưng xem ra có mấy ai chuyên văn đâu, ngay cả nhà toán học cũng lên tiếng đấy thôi, các còm chỉ phê cái cung cách làm ăn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cấp bằng và thu hồi bằng một cách tùy tiện chứ các còm có đi sâu vào những vấn đề chuyên sâu thuần văn như những người chuyên văn đâu.

    Phản hồi: 

    Ông Trương Phi viết: "Thưa ông, ông có biết toán cao cấp là gì không? Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không? Ông có biết quỹ tích là gì không? Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không? Trong toán cao cấp (xưa) có ai dạy quỹ tích không?"

    Thành thực mà nói: tôi chẳng hiểu các ông nói gì, chỉ tháy ông nọ chê ông kia là không biết. Ông Trương Phi viết những cau trên thì ông thử giải thích cho nhiều người không biết như tôi xem sao.

    Tôi có thằng cháu đã học khoa toán trường Đại học khoa học tự nhiên cũng thấy cháu nó nói là trước kia nhà trường cũng dạy quỹ tích và ra trường cháu đi dạy môn toán, cháu có dạy môn quỹ tích.

    Laị viết "Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không?", xin ông TP giải thích "chữ ấy" là chữ gì? Nói rõ thêm để ông TP hiểu: ông hãy giải thích toán cao cấp là gì? Quỹ tích là gì? Nếu ông không giải thích được thì chính ông phải đi học lại rồi hãy chê người khác.

    Phản hồi: 

    "Cô Thoan không viết luận văn như học trò làm bài tập mà viết như một trí thức có nhiều suy nghĩ trưởng thành, sắc sảo, có một trình độ diễn đạt nhuần nhuyễn. Đó là một sự khác biệt không thể bỏ qua." Đây là những lời tác giả Hà Nhân khen luận văn của cô Nhã Thuyên.

    Đối với luận văn thạc sĩ của cô Nhã Thuyên thì nhiều người đã bàn nhiều rồi, tôi không muốn tham gia thêm, mặt khác bản thân tôi không có khă năng văn học vì là dân ngoại đạo văn chương. Nhưng thấy tác giả Hà Nhân khen văn của cô Nhã Thuyên, vậy tôi xin hỏi: Hà Nhân hiểu Nhã Thuyên nói gì qua những dòng sau đây trong bản luận văn ấy? Xin trích nguyên văn cả một đoạn toàn những con số và chỉ chua vài chữ:

    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
    2 4 6 8 10
    10 10 10 10 10 10 10 10 10 10 10
    1,001 1,002 1,003 1,004 1,005 1,006 1,007 1,008 1,009
    2 2 (bằng) 4
    (khoảng) 7 8
    (mồm) 5 (miệng) 10
    3 5 7 cn

    1…2 1…2 1..2 1..2 1…2
    (trên) 6
    (dƣới) 8

    9,5 9,5 9,5 9,7 9,5
    1 2 3 4 5 6 7 8
    2 2 3 4 5 6 7 8
    3 2 3 4 5 6 7 8
    4 2 3 4 5 6 7 8 (hít thở)

    Phản hồi: 

    "... nhưng ông tác giả này lại chưa học toán cao cấp nên ông không biết có trường hợp quỹ tích là cả không gian, thế thì làm sao tìm ra lời giải. " (Trích của ông Mọi) Ông Mọi này hãy học câu: "hỡi anh thợ đóng giày, không nên cao hơn những chiếc giày!" hoặc câu dễ hiểu hơn: " Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe."
    Thưa ông, ông có biết toán cao cấp là gì không? Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không? Ông có biết quỹ tích là gì không? Ngày nay có ai dùng những chữ âý nữa không? Trong toán cao cấp (xưa) có ai dạy quỹ tích không?
    Ngoài ra, kiến thức về văn học của ông chưa có gì, ông nên nghe và đọc nhiều hơn nữa.

    Phản hồi: 

    "Nghiên cứu một xu thế văn chương cũng giống như giải một bài toán về quĩ tích, tìm một điểm M vô hình nào đó luôn động của một tập hợp điểm, phức tạp quá chứ còn gì."

    Ôi ông này lại đem văn ra so sánh với toán. Ngày nay toán học đã xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực, riêng lĩnh vực văn học. Ông tác giả này là người đầu tiên muốn áp dụng toán vào văn học hay sao mà nói "Nghiên cứu một xu thế văn chương cũng giống như giải một bài toán về quĩ tích" thế nhưng ông tác giả này lại chưa học toán cao cấp nên ông không biết có trường hợp quỹ tích là cả không gian, thế thì làm sao tìm ra lời giải.

    Đúng là cái luận văn của Nhã Thuyên chưa có lời giải nên nhiều người bàn quá mà chưa biết đúng sai thế nào. Tôi đã đọc vài lần cả 114 trang viết của cái luận văn này, nhưng chẳng hiểu quan niệm hay tiêu chí đânh giá một tác phẩm văn học như thế nào để khen hay chê những bài thơ của nhóm Mở miệng cũng như khen hay chê cái luận văn của NHã Thuyên.

    Trước kia thì các cụ nghiên cứu và giảng dạy môn văn ở các trường thì đánh giá một tác phẩm văn học theo mấy tiêu chí là tính hiện thực, tính đảng, tính giai cấp, tính đấu tranh, rồi lại còn chia ra các dòng văn học như văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn học cách mạng, văn học XHCN. Còn nay nếu hỏi các cụ ấy những tác phẩm văn học hiện nay như các tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ đang trên các báo thì thuộc dòng văn học nào, có phải văn học XHCN hay không thì đến ông viện trưởng Viện văn học cũng không trả lời được.

    Có lẽ cái gốc của ta là môn lý luận văn học bị khủng hoảng cho nên mới không xác định được "quỹ tích của điểm M vô hình nào đó". Có lẽ đây cũng là một thành tựu của môn lý luận văn học theo quan điểm mỹ học Mác Lê nin mà Đảng ta chỉ đạo cũng nên. Động đến cái gì thì khủng hoảng cái đó, khủng hoảng kinh tế, rồi khủng hoảng xã hội đạo đức, rồi khủng hoảng chính trị, nay lại đến khủng hoảng văn học. Suốt mấy chục năm qua, Hội nhà văn luôn luôn bổ sung nhiều nhà văn mới mà một nghiên cứu sinh không tìm đâu ra đề tài để làm luận văn mà phải nhờ đến cái nhóm thơ bên lề (không ở trong Hội nhà văn) để làm đề tài nghiên cứu kiếm cái văn bằng thạc sĩ, rồi lại bị thu hồi. Chán quá, xin chia sẻ cái chán ấy và cả cái chán cho cái nền văn học hiện đại của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã có thành tích là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đã từng đánh thắng ba đế quốc to để rồi... đang tụt hậu một bước lớn, rõ nhất là tụt hậu về giáo dục, chính cái nhà trường đã cấp bàng thạc sĩ rồi đòi lại bằng cũng chứng tỏ một cách giáo dục hay ra trò, nhất thế giới.

    Phản hồi: 

    Lập luận của tác giả rất sắc bén! Ông Phan Trọng Thưởng xứng đáng nhận được bài học về những nguyên tắc căn bản nêu trong bài viết, để "đi ra đi vô" khuôn viên đại học mà không ngượng với SV.

    Ngày trước, ngoài những yếu tố của một xã hội đang tiến dần đến một nền pháp trị hoàn thiện, các đại học ở miền Nam đều được tự trị, nên không có "trò hề" không thể tưởng nổi của vụ Nhã Thuyên. Hầu hết các Giáo sư, Giảng viên đều được sự tôn kính của SV lẫn cộng đồng dân chúng và cả chính quyền. Dù trong hoàn cảnh chiến tranh với nhiều khuynh hướng chính trị họ vẫn giữ được tư cách vì họ độc lập trong môi trường giáo dục và có sĩ khí.

    Sau vụ Nhã Thuyên, nếu không được giải quyết thỏa đáng, tôi đề nghị các đại học ở VN nên được đặt dưới sự thống thuộc trực tiếp của ban Tuyên giáo Trung ương cho chính danh.

    Phản hồi: 

    [quote]Người viết luận văn thì say cuồng văn chương, người viết nhận xét thì mê mẩn uy quyền[/quote]

    Mê mẩn uy quyền hay liếm giày uy quyền, nô bộc uy quyền, là thằng 'điếm chữ' uy quyền để kiếm sống nhưng tỏ ra 'trinh trung' với cái 'câu trúc chế độ' đẻ ra toàn bộ cái nhân cách 'chữ nghĩa' tanh hôi ấy, cái mà có một tay (cựu) Viện trưởng Viện toán đã phán thẳng thừng rằng: ở VN làm đêk gì có khoa học xã hội mà bàn với luận. Sự ỏm tỏi của đám 'nôm na cha mách qué' thao túng quyền được mở mồm một cách tự nhiên như nắng, như gió, như mặt trời buổi sáng và như cả bão tố trong đêm đen làm cho ta có phần tin rằng, lời nhận xét ấy không phải không có lý !