Xích Tử - Gene và cách mạng xã hội chủ nghĩa

  • Bởi Khách
    19/04/2014
    0 phản hồi

    Xích Tử

    Sau 1954 ở miền bắc và sau 1975 trên cả nước, chính sách sử dụng con người, nằm trong cái gọi là chiến lược con người, nhất là trong tuyển sinh vào các cơ sở đào tạo, tuyển dụng cán bộ công chức, viên chức, công nhân nhà nước, đề bạt bổ nhiệm các chức vụ... được thực hiện theo phương thức chủ yếu căn cứ vào lý lịch.

    Đây là phương thức chung, tuy có đặc thù khác nhau, ở các nước “xã hội chủ nghĩa” và một số chế độ độc tài khác.

    Thì ra, do cuộc cách mạng không tự nhiên, chủ yếu là bằng bạo lực, chiến tranh; và xã hội sau cách mạng đó phát triển theo con đường cũng chẳng tự nhiên, hầu như tầng lớp lãnh đạo chống lại cả nhân dân, dân tộc của mình, tạo ra lắm kẻ thù, thực tế và tiềm năng, nên họ phải luôn lo sợ, phòng hờ sự chống lại, tạo phản.

    Nhờ vậy, những người trải qua bước ngoặt của cách mạng, sinh ra và trưởng thành sau cách mạng mới biết thêm cái từ lý lịch và thế nào là lý lịch, như thế nào là viết lý lịch. Trước 1975 ở miền nam, tòa án – cơ quan tư pháp, chỉ quản lý một loại giấy tùy thân của người dân là Lược giải cá nhân (đến 16 tuổi) và Lý lịch tư pháp (từ 18 tuổi) chứ không có loại lý lịch chính trị. Nhờ vậy, con em cháu của những người tập kết ra bắc hoặc thoát ly nhảy núi đều được đối xử công bằng.

    Còn cái lý lịch sau cách mạng là lý lịch chính trị. Cả đời người, nhất là công chức, vào đảng v.v.. phải chịu ngốn thời gian và tâm trí vào cái việc viết lý lịch đó nhiều vô cùng. Mỗi bản lý lịch đó, tùy yêu cầu và mục đích sử dụng, dài từ 3 đến hàng chục trang, kể lể từ ông bà nội, ngoại, phía vợ lẫn phía chồng, và cố nặn ra những gì thật gần gũi với cách mạng, chẳng hạn tuy là địa chủ nhưng không khai báo hầm bí mật của cách mạng trong đất của mình, hoặc đi lính nhưng chỉ toàn bắn chỉ thiên... Rồi mỗi năm lại phải bổ sung một lần, khai đầy đủ những chi tiết mới ví dụ có người yêu là Việt kiều không và xác nhận tuy là Việt kiều nhưng đều đặn gởi tiền về đầu tư cho quê hương.

    Cái phương thức lý lịch đó đã là minh chứng hùng hồn từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI cho học thuyết ưu sinh đặc biệt ở nước ta. Nó không phản động như kiểu nòi giống thượng đẳng trong chủ nghĩa phát xít Đức hoặc chủ nghĩa apartheid ở Nam Phi vốn gắn với vấn đề chủng tộc. Thuyết đó cũng dựa trên dấu hiệu di truyền là gene, song chỉ xét ở khía cạnh tư nhiên của sinh học. Chủ nghĩa lý lịch ở Việt Nam chẳng hạn, tuy cũng là gene, nhưng là gene đã xã hội hóa, chính trị hóa. Nhóm gene ưu sinh của Việt Nam được lựa chọn từ một nhóm lợi ích xã hội: đó là gene của những người, vì nhiều lý do khác nhau, tư phát hoặc tự giác, bị truy nã, giết người bỏ trốn, bị đòi nợ, du côn du đãng... có tham gia cách mạng. Sau cách mạng, để ghi công, để xóa dấu vết vi phạm hình sự trong chế độ cũ, và để cùng chia chác lợi ích được tạo nên bởi cuộc cách mạng, họ được trả công trực tiếp và được chọn gene vào nhóm ưu sinh. Vậy là con cháu của họ được tập ấm hưởng lộc vĩnh viễn, trừ trường hợp gene nhầm lẫn cá biệt dẫn đến phạm trọng tội hình sự, tội chống chế độ. Té ra, cách mạng đã tự nhiên là một công cuộc chiêu mộ nhóm lợi ích từ rất sớm, chuẩn bị những đầu cơ cho tương lai rất xa. Nghĩ như vậy thì mới thấy thanh thỏa cho cuộc tranh luận về chiến tranh ý thức hệ hay chiến tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc trước đây. Nếu quả là chiến tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc, có lẽ sẽ rất ít kẻ thù trong nước – ai lại đi chống cái mục đích ấy ? Và do vậy, có lẽ cũng không cần sự phân loại thành phần chính trị của dân tộc khốc liệt theo học thuyết ưu sinh nội bộ giống nòi trên đất nước này.

    Từ sự phân loại ấy, con liệt sĩ, thương binh, gia đình có công, rồi con ông cháu cha của những người đó, mãi mãi chiếm lĩnh sự “lãnh đạo”, mà thực tế là tiếm quyền và kiếm tiền, bất kể tài năng, đức độ. Còn con em của những người dính líu ít nhiều với chế độ cũ, mãi mãi ở về phía bên kia, mờ khuất trong lịch sử dân tộc, bị biếm nhẽ, bị kỳ thị, bị coi thường, bị loại bỏ hoặc chỉ được sử dụng như những người phục vụ cho nhóm được chọn gene để ưu sinh. Công cuộc hòa hợp hòa giải dân tộc cho kỷ niệm 39 năm ngày 30/4 đang còn như vậy.

    Xích Tử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi