Michael Lang - Kết cục tất yếu cho một thể chế đóng

  • Bởi Admin
    08/04/2014
    4 phản hồi

    Michael Lang

    Các thể chế cầm quyền trên thế giới có thể chia làm hai loại: đóng và mở.

    Thể chế đóng là thể chế được thiết lập bởi một tập đoàn cầm quyền, tồn tại trước hết vì quyền lợi của tập đoàn đó. Nó có thể đem lại cho xã hội hoặc cho phép xã hội tự đạt được một số quyền lợi nào đó, nếu không làm tổn hại đến lợi ích của tập đoàn cầm quyền. Trong trường hợp quyền lợi của xã hội mâu thuẫn với quyền lợi của tập đoàn này, nó sẽ tìm cách triệt tiêu mọi con đường để xã hội có được những quyền lợi đó.

    Thành phần nhân sự của tập đoàn cầm quyền tất nhiên không hoàn toàn cố định; theo thời gian, một số nhân vật bị đào thải (do tuổi tác hoặc vì lý do khác) và được thay thế bởi những nhân vật khác. Tuy nhiên, sự biến động chậm chạp về nhân sự cộng với sự cố thủ về đường lối làm cho tập đoàn cầm quyền mang một tính chất giống như một nhóm người không có sự thay đổi về thành phần.

    Các nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, độc tài, độc đảng các loại đều thuộc loại thể chế đóng. Đặc điểm chung của chúng là tự tuyệt đối hóa, coi tập đoàn cầm quyền là “con trời”, là “đỉnh cao nhất của trí tuệ nhân loại”. Một trong những dấu hiệu nhận diện thể chế đóng là sự hiện diện của chính sách “bảo vệ thể chế” và sự thực hiện chính sách đó bằng mọi giá, kể cả đàn áp khốc liệt.

    Thể chế mở là thể chế trong đó nhà nước chỉ giống như một tập thể những người làm một nghề như bao nghề khác. Không có một đặc quyền nào cho những người trong cái tập thể đó. Việc thay đổi thành phần nhân sự của tập thể này diễn ra thường xuyên. Người muốn tham gia vào bộ máy nhà nước chỉ cần thạo việc và không phạm luật, không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, để bảo đảm cho những người trong bộ máy công quyền không cấu kết với nhau để biến nhà nước thành thể chế đóng, hiến pháp và các bộ luật phải tạo ra hành lang pháp lý cho chế độ đa đảng và sự phân lập quyền lực (thông thường là tam quyền).

    Ví dụ điển hình của thể chế mở là các nước Bắc Âu. Ở đó, người ta quan niệm thật đơn giản về nghề làm chính trị. Vậy nên thủ tướng cũng phải tự nấu ăn hoặc vợ hay chồng nấu cho. Không ai lái xe cho, và không người bảo vệ (mà cũng chẳng cần!). Năm nay làm chính khách, sang năm có thể làm việc khác, nhường chỗ cho người thích hợp hơn hoặc nhiệt tình hơn.

    Chỉ có thể chế mở mới là thể chế dân chủ. Thể chế đóng, dù có nói bao nhiêu lời hoa mỹ về “quyền làm chủ của dân”, đều là phản dân chủ.

    *

    Dù là do kết quả của một cuộc cách mạng từ bên ngoài hay do xung đột vì mâu thuẫn bên trong, mọi thể chế đóng đều có kết cục tất yếu là sụp đổ. Đó là sự thể hiện của một nguyên lý triết học: hữu sinh (thì) hữu tử. Một thực thể, nếu đã được sinh ra, thì cũng sẽ đến lúc phải biến đi. Cho dù ai đó luôn nuôi hy vọng vào sự vĩnh hằng của thực thể này, nhưng đó chỉ là hy vọng hão. Chỉ có thể chế mở, trong đó nhà nước không phải là một thực thể cố định, mà như một dòng sông luôn được thay nước mới, mới có triển vọng trường tồn.

    Trong lịch sử nhân loại, mỗi khi ở một quốc gia xuất hiện những hiện tượng như lòng dân oán thán thể hiện ra bằng những bài vè, câu ca, lời đồng dao nói bóng gió về sự suy đồi của chế độ, thì đó là lúc chế độ đang đứng ở bờ vực tiêu vong. Nặng hơn nữa, nếu thường xuyên xảy ra những vụ đàn áp điên cuồng nhắm vào những tầng lớp quần chúng và giới sỹ phu, những vụ tước đoạt tài sản, quyền sống, quyền làm người của nhân dân lao động, thì chế độ đã đến hồi kết!

    Những cố gắng cuối cùng để tự “chỉnh đốn” chỉ có tác dụng trong vài năm, thậm chí mấy tháng. Sau đó, tất cả sẽ lại diễn ra theo quy luật: sự tha hóa của các lực lượng công quyền ngày càng trầm trọng, mâu thuẫn giữa bộ máy cầm quyền cùng lực lượng bảo vệ nó với dân chúng ngày càng sâu sắc. Sẽ sớm đến ngày không còn một nhân vật nào hay nhóm người nào có thể ngăn cản được sự lao dốc của một con tàu đã hỏng phanh.

    Trừ khi nhà cầm quyền chấp nhận để cho thể chế chuyển thực sự một cách kịp thời sang hướng mở.

    MICHAEL LANG

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Thử coi "thể chế" như một căn nhà nhiều phòng có cửa chính và nhiều cửa phụ thông ra ngoài.

    "Thể chế đóng" là mọi cửa đều bị khóa, như trong những chế độ cộng sản thời Stalin, Mao, và như chế độ Bắc Hàn ngày nay.

    "Thể chế mở" là mọi cửa đều được mở toang như trong những nước Tây Âu hiện thời.

    Thời Trung cổ ở mọi nước chỉ có Thể chế đóng.

    Tới thời Phục hưng (La Renaissance),ở một vài nước Âu châu, một vài cánh cửa mới được hé mở.

    Anh là nước mà cánh cửa chính được hé mở sớm nhất (1215) với bản Magna Carta nhờ sự tranh đấu của giới quý tộc.

    Pháp là nước mà mọi cánh cửa đều bị những người thứ dân không quần thụng (les sans-culotte) nổi dậy mở toang trong CM 1789.

    Trở lại 3 nước Nga, Trung Quốc, Việt Nam :

    Nga là nước có nhiều cánh cửa được hé mở nhất, tuy với Putin, đang bị khép kín lần lần.

    Trung Quốc vẫn chưa cánh cửa nào được mở. Nhưng ĐCSTQ biết lo xa, không khóa chặt cửa chính, khi không để trong Hiến pháp điều khoản nào khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng mà chỉ để trong Phần Mở đầu của HP "sự" lãnh đạo của ĐCSTQ dẫn đầu mọi lực lượng kể cả nhưng đảng "anh em" (cả thẩy có 8 đảng) để một ngày kia, với sự tiến triển về kinh tế và sự đòi hỏi chính trị của những tầng lớp đang lên, sẽ san sẻ một chút quyền hành với các đảng này để đi lần lần tới một chế độ Dân chủ-Xã hội.

    Chỉ ở Việt Nam, ĐCS (hay một phái trong Đảng) vẫn ngu si giữ nguyên điều 4 trong HP, khiến cánh cửa chính vẫn bị khóa chốt, kéo theo sự tham nhũng, chia bè kéo cánh, khiến kinh tế bị lụn bại, đất nước mỗi ngày một xuống dốc trong sự ơ hờ của người dân. Bởi vậy, nếu một trong 3 chóp bu trong Đảng có được một người tháo bỏ được cái chốt điều 4, để VN được như Tàu, thì cũng phúc tổ cho dân tộc VN rồi.

    Tôi thì cho rằng không nên theo một thái cực nào. Dĩ nhiên mở thì tốt hơn đóng, nhưng mở toạt không phải là không mang lại những tiêu cực.

    Mở tới một mức độ nào đó thôi, và cũng nên khép lại chút đỉnh.

    Chẳng biết những nhà lãnh đạo của ta nói chung và các ông trong Hội đồng lý luận TƯ có nhận thức được những điều trong bài viết này không? Nếu nhận thức được thì họ đã chuyển biến mà thay đổi từ thể chế đóng sang thể chế mở, chứ cứ "chỉnh đốn" mãi thì càng chỉnh càng đốn và đi đến chỗ sụp đổ theo quy luật tất yếu. Nhưng nếu người dân cứ ngồi chờ "quy luật" đến thì chắc đến tết Công gô cái thể chế đóng này mới sụp đổ.

    Tôi nghĩ chúng ta nên đặt câu hỏi tại sao có thể chế mở tại một số nước và thể chế đóng tại một số khác?

    Ai cũng thấy thể chế mở với mọi ưu điểm của nó như sự tự do cá nhân, quyền công dân được tôn trọng, kinh tế thịnh vượng trong khi thể chế khép kín vượt quá bất thường trở thành ngô nghê như Bắc Hàn, Cuba. Nhưng nếu không phân tích và tìm ra lộ trình từ kép kín sang mở là vì đâu thì mơ chỉ là mộng.

    Quyền đặt ra luật lệ, xử án và thâu thuế, bắt lính từ lâu thuộc Vua, một dạng chính quyền khép kín. Cho tới thế kỷ 17, 18 giới quí tộc Anh thấy Vua lạm quyền đánh thuế trên tài sản của họ mà không có sự đồng thuận nên nổi lên tranh đấu. Bản Magna Carta là thỏa hiệp Vua nhượng bộ giới quí tộc buộc phải có sự đồng ý của giới này khi ra sắc lệnh liên quan tài sản của giới nhà giàu. Đại Hội đồng gồm giới quý tộc là nơi Vua thảo luân việc trị quốc dần biến thể thành Quốc Hội (Parliament)> Nơi người ta nói- chữ parliament có gốc pháp parler- Quốc Hội chọn Thủ tướng và dần đẩy Vua thành hữu danh vô thực. Từ Quốc Hội của Quí tộc biến thành Quốc Hội do dân bầu, nước Anh có thể chế cai trị mở.

    Cải tổ cơ chế cai trị của Anh trùng hợp với thời kỳ Ánh sáng từ thế kỷ 17-18 tại Âu châu, nơi các triết gia như John Locke đưa ra quan niệm về liên hệ giữa người cầm quyền và dân chúng là liên hệ khế ước, là bản hợp đồng giữa dân và chính phủ. Như J.J Rouseau hoàn thiện ý niệm hợp đồng hay Montesquieu đưa ra hạn chế quyền lực của Nhà nước.

    Cho nên biến cơ chế kín thành mở cần đấu tranh của một thành phần xã hội ưu tú nhất sau Vua đòi san sẻ quyền lực cai trị và được tiến hành song song với giới trí thức nhận ra và quảng bá liên hệ giữa người cai trị và kẻ bị trị.

    Và khi có canh cải thể chế thì nó tạo hiệu ứng đất chuồi cho tới khi cơ chế hoàn toàn mở.

    Làm sao áp dụng bài học lịch sử này vào VN đó là tìm tòi và phấn đấu của chúng ta.

    TB Tôi không chọn cách mạng Pháp làm mô hình nghiên cứu vì nó đẫm máu quá. CM Mỹ được gợi hứng từ CM Anh (truất quyền Vua Anh vì đóng thuế trà mà không có đồng ý của dân Mỹ) và các nhà tư tưởng thời kỳ Ánh sáng.