Alan Phan - Nghèo Là Một Cái Tội?

  • Bởi Mắt Bão
    31/03/2014
    7 phản hồi

    Alan Phan

    Một bạn để ý là tôi có nhiều sách về những câu châm ngôn phát đi từ các danh nhân và triết gia trong tủ sách. Được hỏi câu nào mang nhiều ý nghĩa nhất, tôi buột miệng theo tiềm thức, “Nghèo là một cái tội.” Trước khi ném đá và giương cao ngọn cờ “đấu tranh giai cấp”, xin các bạn cho ông già này giải thích.

    Tôi đã nhiều lần rỗng túi, chạy quanh đường phố để suy nghĩ mà không biết ngày mai tiền sẽ từ đâu đến để trả cho cả trăm cái bills (hóa đơn). Tôi cũng đã từng có rất nhiều tiền mà suốt ngày phải họp với các chuyên gia thuế vụ để tìm cách làm “giảm hay hoãn” thuế. Nhìn lại, dù có tiền hay không, hạnh phúc hay đau khổ của tôi trong những hoàn cảnh này đều không liên quan đến tiền. Tuy nhiên, dù khóc hay cười, tôi nghiệm ra một điều là “có tiền” thì vẫn thú vị hơn. Mặt khác, tôi cũng có thể chắc chắn một điều: dù “không tiền”, tôi vẫn chưa bao giờ “nghèo”.

    “Nghèo” không đơn thuần chỉ là “không tiền”. Dưới góc nhìn chủ quan của tôi, một con người toàn diện phải hội đủ 6 thành tố: sức khỏe, trí tuệ, tinh thần, tâm linh, xã hội và tài chánh.Một người có nhiều tiền nhưng nghèo sức khỏe vẫn hoang phí tháng ngày. Nghèo kiến thức thì dù là một đại gia vẫn được xếp vào hạng ngu. Cha mẹ cho rất nhiều tiền nhưng tinh thần và tâm linh kém cỏi, yếu đuối thì trước sau gì cũng đi vào khổ lụy. Thêm nữa, dù có một gia đình bền chặt và một kết nối xã hội tốt, bạn vẫn không làm gì được cho ai nếu không có tài chánh.

    Nghèo” là người không có gì để “cho”. Dĩ nhiên, ta không thể cho những gì ta không có.

    Ngoài những người bất hạnh với tật nguyền bẩm sinh, sứ mệnh của con người theo nhiều tôn giáo, triết thuyết … là để đóng góp một “cái gì đó” cho tha nhân. “Nghèo” hay không có gì để đóng góp có phải là một tội lỗi?

    Tôi nhận xét một điều là ở Việt Nam, người dân không thiếu cơ sở hay dữ kiện để truy cập và phát triển về những yếu tố quan trọng như trí tuệ, tinh thần, tâm linh, xã hội, gia đình hay sức khỏe. Trong khi đó, vì chuyện chính trị là một vùng nhậy cảm cho nhà cầm quyền, nên kiến thức về kinh tế tài chánh lại thiếu hụt, kém chính xác và luôn bị những định hướng chính trị bẻ cong.

    Do đó, trong bài viết này, tôi sẽ giới hạn suy nghĩ của mình về yếu tố tài chánh. Tôi cố gắng phân tích ra những lý do cốt lõi đã gây nên cái nghèo “tiền” cho gần 90% dân số. Dĩ nhiên, tiền không phải là hiện thân của tất cả giá trị con người, nhưng từ ngàn xưa, văn hóa Đông Phương đã hiểu rằng, “dân có giàu, nước mới mạnh”.

    Giàu phải là một nghĩa vụ quốc gia, mà tôi cho rằng cũng quan trọng không kém nghĩa vụ quân sự hay văn hóa.

    rich n poor

    Tư duy nghèo

    Từ nhỏ và ngay cả khi bắt đầu biết đọc sách, suy nghĩ, tâm trí của tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ một văn hóa và môi trường “ghét người giàu, và đồng hóa cái nghèo với trong sạch”. Dù chế độ VNCH cũ được coi như là một tiền đồn của chủ nghĩa tư bản, chánh phủ vẫn giáo dục người dân về các “tội lỗi” của người giàu (không biết có phải vì cạnh tranh để mua lòng dân nghèo với Cộng Sản?).

    Từ chánh phủ với chính sách “người cầy có ruộng” hay “xây nhà bình dân” đến trong lớp học, ngoài đời, văn hóa “thanh bần và trọc phú” là những biểu hiện thường trực. Những câu chuyện khổ nạn của Oliver Twist, Les Miserables, Grapes of Wrath…rất phổ biến, tạo một tư duy “nửa xã hội nửa tiểu tư sản”. Nếu sinh ra thời đó, Bill Gates, Warren Buffett…có lẽ là những tên tuổi xấu thay vì được ngưỡng mộ như gần đây.

    Descartes nói, “Je pense, donc je suis” (tôi trở thành người tôi nghĩ). Mỹ có thành ngữ,” Tư duy tạo nên hành động, hành động tạo thói quen, thói quen tạo cá tính và cá tính tạo định mệnh.” Một tư duy “nghèo” chắc chắn phải đem đến một định mệnh “nghèo”.

    Đây là suy tưởng của những người miền Nam đã sống với “tư bản Pháp rồi Mỹ”. Còn những người miền Bắc sống với “xã hội của Mác Lê” thì chắc chắn không được phép tư duy “giàu”. Khi mọi suy nghĩ đều cho rằng “nghèo” hơn “giàu” thì từ cá nhân đến xã hội không thể nào vượt trên tư duy đó.

    Kiến thức nghèo:

    Trong những người giàu có mà tôi hân hạnh được quen biết, họ đều chia sẻ một cá tính chung “rất chịu khó học hỏi tìm tòi và sẵn sàng chấp nhận những mới lạ thay đổi”. Ngoài các quan chức và đại gia làm giàu nhờ quan hệ dựa trên quyền lực, ngay cả những người giàu từ các chế độ XHCN đều thể hiện tinh thần và phong thái cởi mở nói trên.
    Người Do Thái suy nghĩ rất nhiều về tiền bạc, nhưng họ cũng chịu khó bỏ ra một số lượng thời gian khá lớn để học hỏi các phương cách làm giàu, từ gia đình bạn bè hay sách vở kinh giảng. Trong trường đại học của tôi, có nhiều social clubs (câu lạc bộ) cho các sinh viên có chung sở thích từ thể thao, từ thiện, chính trị…đến toán học, kịch nghệ hay tranh luận (debate). Nhiều bạn Do Thái chỉ gia nhập how-to-get-rich clubs (làm giàu).

    Người Trung Quốc cũng đam mê giàu có từ bản chất. Họ rất bén nhậy với cơ hội, cần cù, nâng đỡ nhau trong các bang hội…để cùng làm giàu. Họ thực tế, không hoang tưởng và mặc cho sự giáo huấn của đảng cộng sản 70 năm qua, bản sắc làm giàu vẫn tiềm tàng mạnh trong mỗi gia đình và cá nhân.

    Làm giàu là một hành trình lâu bền và khổ cực. Kiến thức là phương tiện quan trọng để thâu ngắn chặng đường. Nghèo kiến thức thì nghèo kết quả.

    Môi trường nghèo:

    Một đặc điểm của tôn giáo Do Thái là việc đề cao sự giàu có vật chất. Trong khi Ki Tô Giáo và Phật Giáo khuyến thị tín đồ phải “ép xác” hay “tránh tham” để tự giải thoát tinh thần và tâm linh khỏi vòng khổ nạn, lãnh tụ các tôn giáo này thường nâng cấp góc cạnh “nghèo” qua các bài giảng. Kết quả là một đa số quần chúng coi giàu là một tội lỗi, người giàu là một địch thủ. Sự thù hận, đố kỵ này được các chính trị gia Mác Lê lợi dụng triệt để để thâu tóm quyền lực, tạo nên một môi trường “của người nghèo, do người nghèo và vì người nghèo”. Dĩ nhiên, đó chỉ là thủ đoạn, họ và các phe nhóm hay con cháu…thì không bao giờ nghèo.

    Ngay cả trong những nước tư bản tự do làm giàu, một đứa trẻ sinh ra trong một môi trường nghèo như tại các khu ổ chuột thành phố, hay các vùng quê xa xôi hẻo lánh, thường bị ảnh hưởng nặng nề bởi con người và hoàn cảnh bao quanh. Trừ một thiểu số có ý chí và tư duy mạnh mẽ, đa số âm thầm chịu đựng rồi đổ thừa cho số mệnh. Câu “cái số mình nó thế” nghe rất quen thuộc ở những môi trường nghèo.

    Con người có đặc tính “bầy đàn”. Khi đám đông nghèo thì ta cũng “hạnh phúc” với cái nghèo, biện luận là phải “chia sẻ” với láng giềng. Nhiều người lại còn tự hào về cái hạnh phúc trong nghèo đói của mình.

    Nghèo hành động:

    Tôi quan sát (hoàn toàn chủ quan, không kiểm chứng được) là những người nghèo thường thích “nói” nhiều. Họ luôn luôn có những kế hoạch thần sầu để trở thành một đại gia “top ten” của quốc gia hay thế giới. Kế hoạch luôn thay đổi vì chưa làm gì thì đã có một ý tưởng mới hay hơn, tốt hơn. Hoặc có làm thì thường bỏ cuộc sau 5 phút vào trận đấu vì thực tế thị trường không tươi đẹp như trên giấy tờ hay các khẩu hiệu.

    Nói chung, họ thích nhàn (không muốn nhận là lười biếng) và coi đây là một triết lý sống khôn ngoan. Nếu nhờ chút mánh mun mà kiếm được tiền hay quyền, họ sẽ coi họ là đỉnh cao của xã hội. Nói phét, nổ bậy …trong các bàn tiệc nhậu nhẹt be bét là một thói quen rất dễ nhận ra.

    Nhiều người nghèo khác thì lười nhưng thích ra dáng trầm uất, bất cần đời…hay khơi động lòng thương hại của người khác. “Xin-cho”, “ăn mày quá khứ”…là những hành xử phổ thông của các nhóm nghèo này.

    Chọn bạn nghèo:

    Một châm ngôn thông dụng của Âu Mỹ là “bạn cho tôi biết thu nhập của 5 người thân thiết nhất trong đời bạn, và tôi sẽ tính ra con số thu nhập trung bình của bạn”. Á Đông thì rõ ràng hơn, “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

    Tôi nhớ những ngày còn trẻ, tôi hay la cà cùng bạn bè ở quán cà phê, quán rượu, garage nhà hàng xóm. Chúng tôi miên man mơ mộng và nói về những tương lai khi chúng tôi giúp nhau giàu có để trả hận đời. Một ngày, tôi chợt nhận ra là tất cả bạn này đều nghèo rớt mồng tơi như tôi. Tụ họp ngày ngày với nhau, tôi chắc chắn tương lai duy nhất của chúng tôi là sẽ trở thành những ông già nghèo rớt mồng tơi. Sau khi nhận ra chân lý, tôi dứt khoát rời bỏ đám đông “tình nghĩa” này đề đi tìm cho mình một tương lai khác.

    Qua những trải nghiệm và suy nghĩ của mình, tôi đúc kết 5 nguyên nhân cốt lõi trên mà tôi cho rằng đang cột chặt bạn với cái nghèo. Tôi có thể sai, tôi còn nhiều thiếu sót, tôi có nhiều định kiến chủ quan…Có lẽ vậy. Nhưng đây là kết luận của một người đã từng rất nghèo, rất ngu và biết thay đổi kịp thời.


    Quốc gia nghèo

    Một điều nữa. Khi chia sẻ với nhau, nhiều bạn có gởi tôi những cuốn sách, những bài khảo luận về đề tài “lý do khiến một quốc gia nghèo”. Có những lý thuyết rất cao siêu từ tháp ngà hàn lâm (vì chúng làm tôi ngủ thật ngon sau vài trang), có những khôn ngoan rất dễ hiểu (như các bài viết hay phát ngôn của Warren Buffett). Tuy nhiên, tôi cho rằng 5 lý do khiến một cá nhân nghèo như tôi đã trình bày, cũng rất giống 5 lý do cốt lõi khiến một quốc gia nghèo.

    Nói về lý do chọn bạn chẳng hạn. Nhìn qua lịch sử, bạn của anh nhà giàu Hoa Kỳ thường giàu theo như Tây Âu, Nhật, Úc, Singapore…Còn bạn của các anh Liên Xô, Trung Quốc, Cuba…vẫn nghèo rớt mồng tơi (ngôn ngữ Việt phong phú nhỉ).

    Văn hóa Á Đông thường chê trách về chuyện “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Tôi không dám nói về chuyện vợ chồng vì sẽ bị ném đá, ngay tại nhà. Nhưng nếu có những ông bạn suốt ngày cứ ca tụng chuyện nghèo, tôi sẽ không ngần ngại tránh xa. Họ độc hại hơn các hóa chất trong thực phẩm của Trung Quốc. Lỡ ăn nhầm, vẫn có thể vào bệnh viện bơm ruột. Nhưng nếu tư duy nghèo đã ăn vào trí não và xương tủy, thì cả cuộc đời trở thành lãng phí.

    Tôi nhớ một câu message (tin nhắn) thú vị, nhiều người thâu vào hộp thư thoại (voice mail box) của họ,” Xin để lại tên và điện thoại của bạn. Tôi đang tìm cách thay đổi đời mình. Nếu tôi không gọi lại bạn, thì bạn nên hiểu bạn là một trong những thay đổi đó”.

    Không biết bao giờ các lãnh đạo của Việt Nam mới can đảm nói với “xứ lạ” điều này?

    Alan Phan

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Bạn Tuấn nói đúng về một số giáo dân Công giáo hiện tại không tuân thủ giào luật về ngừa thai. Tuy nhiên số này chưa nhiều so với tổng số giáo dân. Những quốc gia Nam Mỹ như Mehico về vùng quê nơi tôi đi qua đàn bà sinh tới 15 đứa con là chuyện thường! Nếu qua Philippine thì 6-8 con không lạ.

    Đông con, tài nguyên bị xài nhiều, làm ra ít vì đàn bà lo cho con không sản xuất. Làm sao tích lũy để đầu tư?

    Đông con mà nghèo thì làm sao có tiền nuôi con ăn học? Có phải kéo dài sự nghèo khó xuyên thế hệ?

    Chúng ta cũng nên nhớ rằng trong và sau cách mạng kỹ nghệ tại Âu châu, dân Công giáo bắt đầu suy nghĩ độc lập, số đi nhà thờ ít hẳn, một số khác bỏ đạo. Nhà thờ tại một số quốc gia bị bán đi vì không còn giáo dân. Hiện giờ tại Hoa kỳ người đi tu làm linh mục rất ít không đủ linh mục coi xứ. Mỹ phải nhập khẩu giáo sĩ từ các quốc gia Á hay Phi châu. Chính cái chính sách bắt linh mục độc thân gây hậu quả khan hiếm linh mục tại các quốc gia tiên tiến. Chính sách cấm ngừa thai ngoài chuyện kiêng khem và phương pháp Ô gi nô làm các gia đinh CG luôn đông con hơn các gia đình thuộc tin lành (trừ số nhóm bảo thủ) ảnh hưởng tới tài chánh của các gia đình CG. Cho nên nếu dân trí thấp và nhiều người theo CG như các nước Nam Mỹ hay Phi thì khó vươn lên cương vị phú cường.

    Bạn Tuấn nói đúng về một số giáo dân Công giáo hiện tại không tuân thủ giào luật về ngừa thai. Tuy nhiên số này chưa nhiều so với tổng số giáo dân. Những quốc gia Nam Mỹ như Mehico về vùng quê nơi tôi đi qua đàn bà sinh tới 15 đứa con là chuyện thường! Nếu qua Philippine thì 6-8 con không lạ.

    Đông con, tài nguyên bị xài nhiều, làm ra ít vì đàn bà lo cho con không sản xuất. Làm sao tích lũy để đầu tư?

    Đông con mà nghèo thì làm sao có tiền nuôi con ăn học? Có phải kéo dài sự nghèo khó xuyên thế hệ?

    Chúng ta cũng nên nhớ rằng trong và sau cách mạng kỹ nghệ tại Âu châu, dân Công giáo bắt đầu suy nghĩ độc lập, số đi nhà thờ ít hẳn, một số khác bỏ đạo. Nhà thờ tại một số quốc gia bị bán đi vì không còn giáo dân. Hiện giờ tại Hoa kỳ người đi tu làm linh mục rất ít không đủ linh mục coi xứ. Mỹ phải nhập khẩu giáo sĩ từ các quốc gia Á hay Phi châu. Chính cái chính sách bắt linh mục độc thân gây hậu quả khan hiếm linh mục tại các quốc gia tiên tiến. Chính sách cấm ngừa thai ngoài chuyện kiêng khem và phương pháp Ô gi nô làm các gia đinh CG luôn đông con hơn các gia đình thuộc tin lành (trừ số nhóm bảo thủ) ảnh hưởng tới tài chánh của các gia đình CG. Cho nên nếu dân trí thấp và nhiều người theo CG như các nước Nam Mỹ hay Phi thì khó vươn lên cương vị phú cường.

    Tôi không tin là đạo Công giáo (ngày nay) ảnh hưởng lên lối sinh sống làm lụng khiến con người trở thành nghèo, không màng đến việc tạo ra nhiều của cải vật chất. Giáo lý (dựa vào Bài Giảng Trên Núi của Jesus) nói là một chuyện, nhưng người Công giáo, nhất là ở phương Tây, không làm theo các điều khuyến dạy nếu họ thấy chúng gây cản trở trong mưu cầu phúc lợi và tiện nghi của cuộc sống.
    Lấy thí dụ, đạo CG chống lại việc sử dụng phương pháp ngừa thai nhân tạo, nhưng tại phương Tây trên 2/3 phụ nữ đi cột ống dẫn trúng hay sử dụng thuốc, vòng xoắn. Mấy ông vẫn vô dầu mỡ xe, chùi cầu, sơn nhà vv ngày chủ nhật (kinh thánh kể chuyện có ông kia chỉ vì đi nhặt củi ngày Sabbath mà bị ném đá cho chết). Đừng nghĩ người CG là những "con chiên" ngoan ngoãn theo nghĩa đen, họ hành xử cũng như người không có đạo khi trực diện với cuộc sống thông thường qua các sinh hoạt tình dục, tài chánh, dinh dưỡng, học vấn. Tôi khẳng định điều này không dựa vào động cơ bảo vệ hay chỉ trích đạo CG, mà căn cứ trên dữ kiện (1) cũng như các mối quan hệ giao tiếp với người theo đạo CG.

    (1) http://www.guttmacher.org/media/resources/Religion-FP-tables.html

    Không có cái nào gọi là đạo Thiên chúa cả. Tin vào Jesus Christ là cứu tinh loài người và thuyết Chúa Trời sáng tạo quả đất trong 6 ngày là Thiên chúa giáo?

    Thực chất cái chung TCG bị gom thành một rọ là gồm nhiều giáo hội khác nhau:
    -Công Giáo thuộc quyền quản trị La mã rất khác với
    -Tin Lành gồm nhiều hệ phái hay giáo hội khác nhau, độc lập, có khi đả kích nhau tại Âu châu và Bắc Mỹ;
    -Chính thống giáo phương Đông thịnh hành tại Nga và Đông Âu.

    Mỗi sub categories này có giáo điều, giáo luật, và sự quản trị khác biệt. Ví dụ đạo Công giáo chê bai giaù có, ca tụng sự thanh bần, (vị Tân Giáo Hoàng là một chứng minh ngoài kinh sách) nhưng đạo Tin lành thì không. Nam và Trung Mỹ có dân đa số là Công giáo không biết có phài vì cái giảng dạy của đạo mà nghèo hơn Bắc Mỹ, nơi đa số dân theo Tin lành. Cũng không biết có phải nước Đức giàu hơn các quốc gia Âu châu khác vì dân Đức nơi xuất phát đạo Tin lành so với các quốc gia Âu châu theo Công giáo?

    Người Việt đa số cúng bái ông bà hay thờ Phật nên hiểu biết về các tôn giáo khác khá giới hạn. Bạn nào có khả năng ngoại ngữ một nguồn có nhiều thông tin, nghiên cứu vế các tôn giáo trên thế giới là Duke University tại Mỹ

    http://religiousstudies.duke.edu/

    Tôi đề nghị ngưng ngay chuyện dùng sai từ khi gom nhiều giáo hội có nét chung chung rồi đồng hóa thành một tôn giáo. Ông già Alan lại lẩm cẩm chuyện này rồi.

    Bác TTN nói đúng đấy, các ngành XH có phương pháp nghiên cứu rất tỉ mỉ và có hệ thống, bởi vậy mới được gọi là khoa học xã hội (khác với khoa nhân văn). Mặc dù bên khoa học tự nhiên có khuynh hướng xem thường KHXH qua cái tên gọi "khoa học mềm" (tương phản với khoa học "cứng" như vật lý, hoá học - từ thành ngữ "hard/soft on evidences"), thật ra KHXH phải được gọi là "hard" sciences mới đúng (hard = khó - khó tín nhiệm hơn, ít khi giúp tiên đoán chính xác được).

    Vấn đề gì mà có liên quan đến yếu tố con người là trở nên thành phức tạp, khó rút ra được các quy luật khả tín (trừ vài cái: con người ai cũng chết, đa số người ta thích giàu có, thích tự do vv)
    Môn "khoa học" xã hội gần với khoa học nhất (vì có phương pháp nghiên cứu khả tín nhất) có lẽ là tâm lý học. Nhưng chúng ta chớ đặt quá nhiều niềm tin vào những cái gọi là nguyên tắc hay phát hiện của tâm lý học. Thậm chí cả một ngành học đồ sộ như môn phân tâm học (Freud) đã bị tâm lý học của Anh và Mỹ xét lại, phủ nhận và "đẩy" qua bộ môn nhân văn (trừ ở bên Pháp vẫn chuộng Freud).

    Bên khoa học tự nhiên, ngành sinh lý và dinh dưỡng đúng là các khoa học chặt chẽ về mặt thực nghiệm và trong phòng thí nghiệm, tuy nhiên khi lôi yếu tố con người và cách sinh hoạt của con người vào thì ngành dinh dưỡng trở nên khó tin hơn, bởi vậy ta chớ nhẹ dạ nghe hôm nay người này nói ăn mỡ có hại, ngày mai lại đổi ý lại là ăn bột có hại, ăn theo diet này là tốt, ăn theo kiểu kia là có hại, thức ăn này giúp trí tuệ minh mẫn vv Nói cách khác, trong khi các nhà dinh dưỡng vẫn còn đang chờ đợi thu thập dữ kiện (rất chống trọi và mâu thuẫn với nhau) thì báo chí đã tung tin lên là "ăn cái này/uống vitamin này giúp ngừa được bệnh lẫn trí lúc tuổi già".

    Trong bài nói trên, Alan Phan nêu lên yếu tố môi trường, đặc biệt là giáo lý, chẳng hạn như đạo Thiên Chúa, như là một trong 5 lý do làm con người nghèo khó:

    "Trong khi Ki Tô Giáo và Phật Giáo khuyến thị tín đồ phải “ép xác” hay “tránh tham” để tự giải thoát tinh thần và tâm linh khỏi vòng khổ nạn, lãnh tụ các tôn giáo này thường nâng cấp góc cạnh “nghèo” qua các bài giảng."

    Nếu kết luận ấy mà đúng thì nó phải giúp ta tiên đoán được sự việc (như môn vật lý đã làm). Nước Mỹ có dân số theo đạo TC đến trên 85% nhưng lại là quốc gia giàu nhất trên thế giới. Tương tự như vậy ta có thể kiểm chứng lại xem giáo lý của đạo TC có làm một số các quốc gia ở Tây Âu nghèo không.
    Vấn đề phức tạp hơn người ta nghĩ: các tiểu bang nghèo nhất tại Mỹ thường ngoan đạo hơn, nước Phi Luật Tân và một số nước Phi châu theo đạo TC cũng nghèo.
    Như vậy, bản chất của mối tương quan giữa đạo TC và sự thịnh vượng là cái gì? Làm thế nào để kiểm soát (control) được tất cả các yếu tố khác mà ảnh hưởng lên sự giàu nghèo của con người? Tôi chưa bao giờ nghe một nhà KHXH có tiếng tăm nào mà tuyên bố là đạo Phật và đạo TC làm con người nghèo khổ. Ấy không phải là các nhà nghiên cứu đó sợ đụng chạm vào điểm nhậy cảm tôn giáo mà là vì chẳng có dữ kiện nào đáng tin được về chuyện ấy cả.

    Tuan34344 viết:
    Làm sao ta biết 5 yếu tố được phân tích trong bài là lý do làm cá nhân bị nghèo, chứ không phải là hậu quả, hay là thực trạng, tình trạng thường xảy ra một khi người ta đã bị nghèo lâu năm rồi? (thí dụ: vì nghèo nên người ta thường chọn bạn nghèo, thường có kiến thức nghèo, rồi nảy sinh ra tư tưởng ghét người giàu, đồng hóa cái nghèo với trong sạch” vv)

    Sự khó khăn trong việc xác định xem một mối liên hệ (correlation) có phải là nguyên nhân không, đấy là vấn đề của các môn "khoa học" xã hội. Bên khoa học tự nhiên (vật lý, sinh vật, hoá vv) người ta có thể kiểm soát, giữ một yếu tố cố định (control) rồi quan sát sự biến thiên của kết quả dựa vào yếu tố còn lại, nên chứng minh được cái nào là nguyên nhân, cái nào là hậu quả. Từ đó tiên đoán được sự việc.

    Còn phương pháp "hậu đoán" (ngược lại với tiên đoán dựa vào quy luật được chứng minh rồi) chỉ thấy sự việc xảy ra rồi mới ngẫm nghĩ lại (hindsight), và khi nhìn lại quá khứ lúc nào mình cũng "sáng suốt" thấy được tất cả "nguyên nhân".

    Lấy một thí dụ rất thô cộc: Ngay đêm trước ngày bầu cử tổng thống giữa Obama và Romney (hay là bất kỳ hai ứng viên nào khác), mọi người theo dõi căng thẳng, chẳng ai dám cam đoan mình biết ai sẽ thắng cử. Ngày hôm sau biết kết quả rồi thì ai cũng mạnh miệng nói: tôi biết "trước" mà, có nhiều lý do khiến Mitt Romney phải thất cử, nào là thế này, nào là thế kia.

    Đấy không phải là vì "khoa học" xã hội dở kém hơn khoa học tự nhiên, mà vì người ta không thể kiểm soát các yếu tố xã hội và biến nó thành hằng số được, các yếu tố liên quan đến hành vi và lối sinh hoạt của con người quá phức tạp: con người không thay thế con chuột bạch hay trái banh lăn được :)

    Đồng ý với bạ Tuấn 34344 là xác định nhân quả (cause and effect) trong khoa học kỹ thuật dể hơn trong khoa học xã hội vì người ta có thể control mọi thứ trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, nhân quả cũng vẫn xác định được trong khoa học xã hội với những phưong pháp thích hợp (appropriate).

    Trước hết, để xác định nhân quả cần có mối liên hệ giữa hai yếu tố (relationship hay correlation). Tiếp đó là xác định thứ tự thời gian (time order). Quả (effect) phải được xãy ra sau nhân (cause) và được xác định bằng dữ liệu (longitudinal data).

    Ngoài ra, người ta còn dùng các phương pháp phân tích thống kê (statistical analysis) để tìm ra ảnh hưởng của yếu tố chính cần tìm hiểu (cause) bằng cách control ãnh hưởng của các yếu tố khác (control variables). Phương pháp phân tích thống kê thông dụng để làm việc này là multiple regression. Bạn có thể tìm đọc thêm các bài về phương pháp này ở trên mạng hay trong các sách về phân tích thống kê cho khoa học xã hội (statistical analysis for social science).

    Làm sao ta biết 5 yếu tố được phân tích trong bài là lý do làm cá nhân bị nghèo, chứ không phải là hậu quả, hay là thực trạng, tình trạng thường xảy ra một khi người ta đã bị nghèo lâu năm rồi? (thí dụ: vì nghèo nên người ta thường chọn bạn nghèo, thường có kiến thức nghèo, rồi nảy sinh ra tư tưởng ghét người giàu, đồng hóa cái nghèo với trong sạch” vv)

    Sự khó khăn trong việc xác định xem một mối liên hệ (correlation) có phải là nguyên nhân không, đấy là vấn đề của các môn "khoa học" xã hội. Bên khoa học tự nhiên (vật lý, sinh vật, hoá vv) người ta có thể kiểm soát, giữ một yếu tố cố định (control) rồi quan sát sự biến thiên của kết quả dựa vào yếu tố còn lại, nên chứng minh được cái nào là nguyên nhân, cái nào là hậu quả. Từ đó tiên đoán được sự việc.

    Còn phương pháp "hậu đoán" (ngược lại với tiên đoán dựa vào quy luật được chứng minh rồi) chỉ thấy sự việc xảy ra rồi mới ngẫm nghĩ lại (hindsight), và khi nhìn lại quá khứ lúc nào mình cũng "sáng suốt" thấy được tất cả "nguyên nhân".

    Lấy một thí dụ rất thô cộc: Ngay đêm trước ngày bầu cử tổng thống giữa Obama và Romney (hay là bất kỳ hai ứng viên nào khác), mọi người theo dõi căng thẳng, chẳng ai dám cam đoan mình biết ai sẽ thắng cử. Ngày hôm sau biết kết quả rồi thì ai cũng mạnh miệng nói: tôi biết "trước" mà, có nhiều lý do khiến Mitt Romney phải thất cử, nào là thế này, nào là thế kia.

    Đấy không phải là vì "khoa học" xã hội dở kém hơn khoa học tự nhiên, mà vì người ta không thể kiểm soát các yếu tố xã hội và biến nó thành hằng số được, các yếu tố liên quan đến hành vi và lối sinh hoạt của con người quá phức tạp: con người không thay thế con chuột bạch hay trái banh lăn được :)