Luật sư Hà Huy Sơn - Giấy mời, giấy triệu tập và quyền có luật sư được pháp luật quy định như thế nào?

  • Bởi Admin
    26/03/2014
    7 phản hồi

    Luật sư Hà Huy Sơn

    I. Giấy mời, giấy triệu tập hiểu theo Đại từ điển tiếng Việt Nguyễn Như Ý (Chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM năm 2010:

    Từ điển không có từ “giấy mời” chỉ có “mời” là: Tỏ ý mong muốn, yêu cầu ai làm việc gì với thái độ lịch sự trân trọng (tr 1059). Nên có thể hiểu “giấy mời” là “mời” được ghi ra giấy.

    Từ “triệu tập” là: “Gọi, mời đến tập trung một địa điểm (thường mở hội nghị, lớp học)” (tr 1653).

    II. Theo quy định của pháp luật:

    1. Không có một điều khoản hay một văn bản pháp luật nào hiện hành quy định công dân khi nhận được “giấy mời” của cơ quan nhà nước, công chức là bắt buộc phải đến theo yêu cầu. Hay nói cách khác là người được mời có quyền tùy nghi, đến hoặc không đến.

    2. Giấy triệu tập theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì những người sau đây phải có mặt:

    2.1. Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (khoản 3, Điều 49);

    2.2. Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án (khoản 3, Điều 50);

    2.3. Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án (khoản 4, Điều 51);

    2.4. Nguyên đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 3, Điều 52);

    2.5. Bị đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 3, Điều 53);

    2.6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 2, Điều 54);

    2.7. Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải (điểm a, khoản 4, Điều 55).

    Điểm 1.4, mục 1 Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12/01/2006 của Bộ Công an ban hành hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, quy định:

    “Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự nên chỉ Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng. Việc sử dụng giấy triệu tập phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định. Giấy triệu tập bị can tại ngoại; giấy triệu tập hoặc giấy mời người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đến Cơ quan điều tra để làm việc chỉ có giá trị làm việc trong một lần.

    Nghiêm cấm lợi dụng việc sử dụng giấy triệu tập để giải quyết các việc không đúng mục đích, đối tượng, chức năng, thẩm quyền như lợi dụng việc ký, sử dụng giấy triệu tập gọi hỏi nhiều lần về các vấn đề không quan trọng, không liên quan đến vụ án hoặc hỏi đi hỏi lại về một vấn đề mà họ đã trình bày, v.v. làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghiêm cấm Điều tra viên gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời. Trước khi triệu tập hoặc mời thì Điều tra viên phải tính toán về thời gian, về việc đi lại của người được triệu tập để tránh gây phiền hà về thời gian hoặc đi lại nhiều lần của người được triệu tập hoặc được mời. Nếu người được triệu tập hoặc được mời ở quá xa trụ sở của Cơ quan điều tra thì có thể triệu tập hoặc mời họ đến trụ sở Công an nơi ở hoặc nơi làm việc của họ để lấy lời khai hoặc báo cáo đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án thực hiện việc ủy thác điều tra”.

    3. Quyền công dân có luật sư:

    Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, quy định:

    “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

    Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

    Khoản 4, Điều 56, quy định: “ Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.

    Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.”

    Điều 58, quy định trích:

    1. Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

    2. Người bào chữa có quyền:

    a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

    b) Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;”

    Khoản 1, Điều 59, quy định: “ Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình.”

    Tôi nêu ra một số quy định pháp luật về giấy mời, giấy triệu tập và quyền có luật sư để giúp cho những người quan tâm hiểu được quyền của công dân trong vấn đề liên quan.

    Hà Nội, 25/03/2014

    H.H.S.

    Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    NGT viết:
    Trích dẫn:
    Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, quy định:

    “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

    Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, rất "mơ hồ" trong cụm từ "hoặc người khác bào chữa". Người khác là người nào ? Nên dẹp bỏ cụm từ mơ hồ này vì nó sẽ đưa đến tùy tiện

    Người khác là người nào => là "bào chữa viên nhân dân" ? và ... ??

    Trích dẫn:
    Đã đến lúc bỏ bào chữa viên nhân dân

    http://plo.vn/Ph%C3%A1p%20lu%E1%BA%ADt%20ch%E1%BB%A7%20nh%E1%BA%ADt/da-den-luc-bo-bao-chua-vien-nhan-dan-78442.html

    Theo BLTTHS hiện hành, bào chữa viên nhân dân có thể là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Quy định này đang được các chuyên gia đề nghị sửa đổi vì không còn phù hợp với tình hình hiện nay.

    Bào chữa viên nhân dân (BCVND) xuất hiện do hoàn cảnh lịch sử của nước ta, xuất phát từ quy định “người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mướn luật sư” tại Điều 67 Hiến pháp năm 1946. Thời ấy, nước ta đang có chiến tranh, nghề luật sư chưa phát triển được nên Bác Hồ mới quy định về BCVND trong Sắc lệnh số 69 ngày 18-6-1949 nhằm đảm bảo quyền bào chữa cho người bị đưa ra xét xử hình sự.

    Theo văn bản của Luật Việt Nam thì "Bào chữa viên nhân dân" là người của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử ra để bảo vệ quyền lợi của thành viên mặt trận này. Dân thường không được quyền có "Bào chữa viên nhân dân"
    Còn "người khác" thì chỉ có thể người đại diện hợp pháp như Bố mẹ người vị thành niên , người bảo trợ cho người tâm thần ...

    Hiến pháp ghi chung như vậy , nhưng Luật lại phân biệt đối xử người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử với thành phần nào thì được quyền nhờ luật sư , với thành phần nào thì được nhờ cả luật sư và người khác .
    Ngoài ra còn có sự bất nhất trong Hiến Pháp và Bộ luật , như từ "người khác" trong luật tố tung HS thì không chứa thành phần " Bào chữa viên nd" . Thành phần "Bào chữa viên nd" đứng riêng với "người khác" Cho nên trong HP đã ghi những người bị lao lý được quyền dùng Luật sư và người khác thì "Bào chữa viên nd " là thành phần ngoài vòng pháp luật , không được tham gia bào chữa.
    Nói về Pháp luật Việt Nam như chó cắn đuôi , quay vòng chóng cả mặt

    Trích dẫn:
    Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, quy định:

    “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

    Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, rất "mơ hồ" trong cụm từ "hoặc người khác bào chữa". Người khác là người nào ? Nên dẹp bỏ cụm từ mơ hồ này vì nó sẽ đưa đến tùy tiện

    Người khác là người nào => là "bào chữa viên nhân dân" ? và ... ??

    Trích dẫn:
    Đã đến lúc bỏ bào chữa viên nhân dân

    http://plo.vn/Ph%C3%A1p%20lu%E1%BA%ADt%20ch%E1%BB%A7%20nh%E1%BA%ADt/da-den-luc-bo-bao-chua-vien-nhan-dan-78442.html

    Theo BLTTHS hiện hành, bào chữa viên nhân dân có thể là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Quy định này đang được các chuyên gia đề nghị sửa đổi vì không còn phù hợp với tình hình hiện nay.

    Bào chữa viên nhân dân (BCVND) xuất hiện do hoàn cảnh lịch sử của nước ta, xuất phát từ quy định “người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mướn luật sư” tại Điều 67 Hiến pháp năm 1946. Thời ấy, nước ta đang có chiến tranh, nghề luật sư chưa phát triển được nên Bác Hồ mới quy định về BCVND trong Sắc lệnh số 69 ngày 18-6-1949 nhằm đảm bảo quyền bào chữa cho người bị đưa ra xét xử hình sự.

    Trích dẫn:
    Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, quy định:

    “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

    Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

    Khoản 4, Điều 56, quy định: “ Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.

    1)Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp 2013, rất "mơ hồ" trong cụm từ "hoặc người khác bào chữa". Người khác là người nào ? Nên dẹp bỏ cụm từ mơ hồ này vì nó sẽ đưa đến tùy tiện

    Tốt nhất trong các vụ hình sự có "bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố" bắt buộc chỉ có luật sư để hướng dẫn giải thích luật pháp cho nghi can hoặc chính nghi can tự bào chữa nếu muốn.
    Nếu nghi can không có tiền thuê luật sư, văn phòng hỗ trợ pháp lý của bộ tư pháp cung cấp danh sách các luật sư miễn phí/giá rẻ cho nghi can

    2)Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Khoản 4, Điều 56, vi phạm Hiến pháp, vi phạm quyền con người.

    Ở những nước khác, việc này có thể đưa tòa án Hiến Pháp để kiện và đòi hủy bỏ một đạo luật vi phạm quyền con người và hiến pháp

    Các luật sư đoàn, các đại biểu QH, toàn dân phải mạnh mẽ đòi hủy bỏ Khoản 4, Điều 56 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 vì hai điểm :

    - Luật sư là người bào chữa thì không cần phải có giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Chỉ cần luật sư có thẻ hành nghề có giá trị là được bào chữa ngay trong suốt quá trình tham dự từ khâu điều tra cho đến lúc nghi can ra tòa

    - Dẹp bỏ câu : Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do. Câu này rất vô lý, phạm pháp trong việc tùy ý, tùy tiện mà không hề chỉ ra tại sao có quyền từ chối và khi luật sư + nghi can không đồng ý thì họ phải làm gì ?
    Ví dụ lý do từ chối là "nghi can và luật sư nhìn đểu ... cán bộ" thì cứ việc từ chối cấp giấy chứng nhận ?

    Tran Thi Ngự viết:
    Luật hình sự VN đòi hỏi luật sư phải xin phép để được bào chữa là một sự vi phạm trắng trợn nhân quyền tức quyền được bào chữa trước toà án. Khi giao cho toà án thẩm quyền cấp giấp phép cho luật sư bào chữa, luât hình sự VN đã làm mất đi tính cách khách quan của các vụ án, vi phạm quyền lợi của bị cáo vì làm cho việc bào chữa bị ảnh hưởng của toà hay công tố.

    Các tổ chức ngành nghề luật sư ở VN như luật sư đoàn hay hội luật gia hãy đòi hỏi chính quyền huỷ bỏ điều khoản về việc toà án cấp giấp phép bào chữa trong luật hình sự và luật hành nghề luật sư ở VN để tạo điều kiện cho các luật sư làm việc theo đúng với chức năng cố vấn pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền được bào chữa một cách đúng mức của bị cáo.

    Luật pháp VN còn cho phép cả cơ quan điều tra được quyền ch phép ls tham gia thi Ls viết đơn xin phép. Có lẽ luật sư VN biết cái thân phận của mình là làm kiểng nên chỉ tham gia cho có lệ , rồi nhăm vào các việc khác trong vai trò chạy án và moc ngoặc để thu lợi thôi . Kiếp luật sư VN nhục quá, bọn CA ở cơ quan điều tra hầu như là thiếu học vấn , nhưng lại có quyền bắt ls phải xin . Nhục quá nên tôi cũng ọ ẹ ẳng được vài câu cho đễ tài ls phải xin phép đây

    Luật hình sự VN đòi hỏi luật sư phải xin phép để được bào chữa là một sự vi phạm trắng trợn nhân quyền tức quyền được bào chữa trước toà án. Khi giao cho toà án thẩm quyền cấp giấp phép cho luật sư bào chữa, luât hình sự VN đã làm mất đi tính cách khách quan của các vụ án, vi phạm quyền lợi của bị cáo vì làm cho việc bào chữa bị ảnh hưởng của toà hay công tố.

    Các tổ chức ngành nghề luật sư ở VN như luật sư đoàn hay hội luật gia hãy đòi hỏi chính quyền huỷ bỏ điều khoản về việc toà án cấp giấp phép bào chữa trong luật hình sự và luật hành nghề luật sư ở VN để tạo điều kiện cho các luật sư làm việc theo đúng với chức năng cố vấn pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền được bào chữa một cách đúng mức của bị cáo.

    Những điều luật của VN ghi trên về " người bào chữa" của LS Hà Huy Sơn đều là những điều vớ vẩn trong Luật pháp VN . Luật VN phải soạn lại trước khi thực thi.
    Mọi người đều có quyền thuê LS riêng cả đời ( nếu có tiền) và có thể nhờ luật sự đại diện có mặt để " nói thay mình" tất cả những điều mà mình muốn nói . Điễu này là đúng đắn vì luật sư khi nói những điều mà "thân chủ" muốn nói thì lý lẽ sẽ rõ ràng và logic , dễ hiểu hơn . Mà khi làm việc với nhau thì ai cũng muốn dễ hiểu để khỏi phải mất thời gian.
    Việc các cơ quan tố tụng bắt Ls phải xin phép xong ( được sự đồng ý và cấp giấy chứng nhận của các cơ quan tố tụng )thì mới được bảo vệ thân chủ là sai trái. Nó vô hiệu hóa hợp đồng dân sự thuê ls của công dân. Ví dụ ông A thuê ls B tư vấn pháp lý , mỗi khi có việc gì ông A đều nhờ ls B tư vấn . Khi có sự việc tố tụng . CA, Tòa án lại bắt ls B phải xin phép và khi được phép mới được bảo vệ ông A. Đó là thủ tục vớ vẩn. Cái trò phía lãnh đạo không hiểu, không biết thì cứ nghĩ ra cách ngăn cấm để giải quyết theo ý mình nên chấm dứt.
    LUẬT PHÁP nước ngoài văn minh , khi có liên quan đến bí mật quốc gia thì phía Nhà nước vẫn phải cho LS biết các tài liệu bí mật mà phái Tố tụng đã dùng nó để kết tội "thân chủ" . Ls cần phải biết để phản bác lại nếu cho rằng bằng chứng bí mật đó không liên quan đến "thân chủ" .... . Phía Nhà nước tin vào sự hiểu luật của LS nên họ chỉ cần bắt buộc Ls KHÔNG ĐƯỢC TIẾT LỘ nội dung tài liệu mật mà Ls đã được nghiên cứu trong vụ án. Nếu đã được giải thích và ký kết mà Ls tiết lộ thì Cơ quan chức năng sẽ truy cứu LS , Đó là hành vi đã được Pháp luật tính toán và quản lý.
    Ngoài ra. Luật sư và các Văn Phòng Luật với chức năng bảo vệ Công Lý nên họ có quyền tham gia bất cứ vụ án nào mà họ cho là Công lý, lẽ phải của đương sự cần được chứng minh . Khi nào chính đương sự thấy sự hiện diện bất ngờ của Ls tự phát đến tòa thì đương sự có quyền không công nhận Ls "không mời" là người bảo vệ mình.
    Luật sư của Nga đang làm việc trong trật tự văn mình này . vậy mà nhiều lẽ phải vẫn còn khốn khổ , bị vùi dập . Còn ở Việt Nam . Luật sư như một kẻ ăn xin , lạy lục trước lạm dụng của bạo quyền . Nghĩ mà buồn , không ẳng được .