Minh Châu - Tâm lý học đám đông và 4 ½ đề nghị cho phong trào dân chủ Việt Nam

  • Bởi Hồ Gươm
    03/03/2014
    0 phản hồi

    Minh Châu

    Mấy ngày gần đây, trên Dân Luận cũng như nhiều trang “lề trái” khác xuất hiện nhiều bài viết góp ý cho phong trào dân chủ Việt Nam nhân sự kiện Ukraine. Bài viết này nhằm bàn luận rộng thêm, cũng như trao đổi lại với một số tác giả.

    I. Tâm lý đám đông dưới góc nhìn của Gustave Le Bon

    Gustave Le Bon (1841 - 1931) là nhà tâm lí học xã hội nổi tiếng người Pháp với lí thuyết về đám đông. Ông viết về nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Pháp đương thời. Những tác phẩm nền tảng nhất của Le Bon là Quy luật tâm lí về sự tiến hoá của các dân tộc (Les Lois psychologiques des l’evolution des peuples, 1894), Cách mạng Pháp và tâm lí học về các cuộc cách mạng (La Révolution française et la psychologie des révolutions, 1912) và Tâm Lý Học Đám Đông (La Psychologie des foules, 1895)…

    Sau khi nghiên cứu cuốn Tâm Lý Học Đám Đông của Le Bon, tôi thấy có sự tương đồng kỳ lạ giữa những "đám đông" trong xã hội châu Âu thời đó với tính cách người dân Việt Nam, "đám đông" ở Việt Nam hiện tại. Tuy quan điểm của Le Bon còn gặp nhiều chỉ trích, nhưng giá trị của nó là không thể phủ nhận. Vụ hôi bia ở Đồng Nai, vụ bạo động ở nhà máy SamSung Thái Nguyên là những minh chứng. Xa hơn là cả miền Bắc say cuồng trong vụ cải cách ruộng đất. Bởi vậy, có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của Le Bon vào xã hội Việt Nam bây giờ.

    Đám đông là gì?

    Theo nghĩa thông thường đám đông có nghĩa là một sự kết hợp của những cá nhân bất kỳ không phụ thuộc vào dân tộc, giới tính và nguyên do kết hợp.

    Theo quan điểm tâm lý học khái niệm "Đám đông" mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Trong những điều kiện nhất định và chỉ ở đó mà thôi, một tập hợp những con người sẽ có những đặc tính hoàn toàn khác biệt với những đặc tính của riêng từng con người trong đó. Cá tính có ý thức bị biến mất, tình cảm và suy nghĩ của mọi cá nhân đều hướng về một phía. Một tâm hồn chung được hình thành, nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng hoàn toàn là một thể loại xác định. Toàn bộ cái đó lúc này đã trở thành, tôi tạm gọi nó là "đám đông có tổ chức", nếu ai muốn khác cũng có thể gọi là đám đông tâm lý. Đám đông là một cơ thể duy nhất và chịu tác động của quy luật đồng nhất tâm hồn đám đông (loi de l'unite des foules). Hiện tượng, nhiều cá nhân vô tình tụ hợp lại với nhau, cũng chưa tạo cho nó những đặc tính của một đám đông. Hàng nghìn người tình cờ xuất hiện trên một quảng trường không có một mục đích nhất định sẽ không bao giờ tạo nên được một đám đông theo nghĩa tâm lý học. Để nó có thể có được những đặc tính riêng của đám đông cần phải có những tác động kích thích, hình thức và bản chất của chúng là điều chúng ta cần nghiên cứu.

    Quy luật về sự đồng nhất tâm hồn đám đông

    Việc diễn tả một cách chính xác tâm hồn đám đông quả không dễ, bởi tổ chức của nó không chỉ biến thiên theo chủng tộc và cấu trúc của đám đông, mà còn biến thiên theo bản chất và mức độ của sự kích thích tác động vào đám đông đó. Tuy nhiên khó khăn kiểu như vậy cũng xuất hiện trong việc nghiên cứu về tâm lý bất kỳ loại sinh vật nào. Chỉ trong các loại tiểu thuyết, chứ không phải trong cuộc sống thực tế, các cá thể mới có một tính cách bền vững. Nội riêng sự đồng dạng của môi trường cũng đã tạo nên những tính cách giống nhau rất rõ ràng. Ở chỗ khác Le Bon đã chỉ ra rằng, tất cả các trạng thái tinh thần đều chứa đựng khả năng tạo thành những tính cách, chúng có thể bộc lộ ra dưới tác động của sự thay đổi môi trường một cách đột ngột.

    Do ở đây ta không thể nghiên cứu được hết tất cả các tầng nấc phát triển trong sự hình thành đám đông, cho nên chúng ta sẽ tập trung sự chú ý đặc biệt vào trạng thái tại đó tổ chức của đám đông đã hoàn thiện. Bằng cách này ta thấy đám đông cuối cùng có thể trở thành cái gì, dĩ nhiên nó sẽ không còn là như nó trước đây. Chỉ riêng trong trạng thái tổ chức ở mức phát triển này những tính chất hoàn toàn mới và đặc biệt sẽ được cấu thành trên cái nền tảng chủng tộc vững chắc, đầy ảnh hưởng, và nó tiến hành xoay chuyển tất cả tình cảm, suy nghĩ của toàn thể vào cùng một hướng. Chỉ như thế thôi cũng đã làm sáng tỏ những gì ở trên Le Bon gọi là quy luật đồng nhất tâm hồn của đám đông. Đám đông và cá thể riêng biệt có nhiều đặc điểm chung giống nhau, nhưng ngược lại có những đặc điểm duy nhất chỉ riêng đám đông mới có. Trước hết chúng ta muốn nghiên cứu những tính chất đặc biệt, để làm sáng tỏ ý nghĩa của chúng.

    Điểm đáng ngạc nhiên nhất của đám đông tâm lý là: cho dù những thành viên riêng biệt tạo nên đám đông khác nhau kiểu gì, cho dù lối sống, việc làm, tính cách, học thức của họ giống nhau hoặc khác nhau ra sao, dù là anh nông dân hay nhà bác học, chỉ cần qua sự trở thành đám đông, tất cả họ sẽ cùng có một kiểu tâm hồn tập thể, điều này làm cho họ cảm nhận, suy nghĩ, hành động theo kiểu hoàn toàn khác hẳn khi họ còn là những cá thể riêng biệt cảm nhận, suy nghĩ và hành đông. Có những ý nghĩ và tình cảm nhất định chỉ xuất hiện hoặc biến thành hành động cụ thể ở những cá nhân gắn bó với một đám đông. Đám đông tâm lý là một thể chất không xác định, được hình thành từ những thành phần không giống nhau, liên kết với nhau tại một thời điểm nhất định, giống hệt như sự liên kết của những tế bào sinh vật, từ đó một thể chất mới được hình thành với những tính chất hoàn toàn khác so với những tính chất của từng thành phần riêng biệt tạo nên nó.

    Tính vô thức tập thể của đám đông

    Theo Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tưởng; họ không kiên định, thất thường, và đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ ngẩn nhất. Vả lại, do thể tạng của mình, những đám đông ấy cần có một thủ lĩnh, một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho bản năng của họ một ý nghĩa. “Những người cầm đầu hiện nay càng có khuynh hướng thay thế quyền lực công thì quyền lực công càng bị chất vấn và suy yếu đi. Sự bạo ngược của những ông chủ mới này làm đám đông ngoan ngoãn vâng lời họ hơn cả khi họ đã từng vâng lời chính quyền” (Tâm lí học đám đông, tr.183). Vậy nên, thời hiện đại được định tính bằng sự lên ngôi của những đám đông được người cầm đầu dẫn dắt. Và trong thời đại hỗn loạn và lo âu ấy, bằng việc đánh mất lí tưởng của mình, chủng tộc đã đánh mất tâm hồn mình và lại trở thành đám đông. “Nền văn minh chẳng có sự cố định nào, bị phó mặc cho mọi ngẫu nhiên. Bọn tiện nhân thành bà hoàng và những kẻ dã man tiến lên” (Sđd, tr.309).

    Sau khi đã giới thiệu chung về những đặc tính tiêu biểu của đám đông bây giờ chúng ta sẽ đi vào xem xét từng tính chất cụ thể.

    1. Tình cảm của đám đông

    Nhiều tính chất đặc biệt của đám đông như, tính bốc đồng (impulsivité), tính dễ bị kích thích (irritabilité), không thể tư duy một cách lôgic, thiếu khả năng phán quyết và đầu óc suy luận, tính phóng đại của tình cảm (exagération des sentiments) và nhiều thứ khác nữa, là những biểu hiện của một thể chất đang ở giai đoạn phát triển thấp, giống như ta quan sát thấy ở hoang thú hoặc trẻ nhỏ.

    Bây giờ tôi sẽ lần lượt đi vào những tính chất dễ nhận thấy ở phần lớn các đám đông.

    1.1. Tính bốc đồng, tính dễ thay đổi, tính dễ bị kích thích của đám đông

    Khi nghiên cứu những tính chất cơ bản của đám đông chúng tôi đã nhận xét rằng, đám đông hầu như chủ yếu bị điều khiển bởi sự vô thức. Hành động của họ bị điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật nhiều hơn là bởi não bộ. Những hành động được thực hiện xét về mặt trọn vẹn có thể là hoàn hảo, nhưng do bởi chúng không được điều khiển bởi não bộ cho nên mỗi cá nhân hành động tùy theo những kích thích ngẫu nhiên. Một người độc lập cũng có thể phải chịu cùng những tác động giống như đám đông, nhưng được bộ não của nó chỉ cho thấy những hậu quả bất lợi nếu phục tùng những sự kích động này nên nó đã không tuân theo. Tâm lý học giải thích điều này như sau, người độc lập có khả năng chế ngự những cảm tính của nó, đám đông thì không có khả năng như vậy. Những loại thèm khát có dạng khác nhau mà đám đông tuân theo tùy vào mức độ kích thích của nó sẽ có thể là tàn bạo, anh dũng, hèn nhát hoặc cao quý, là những cái thường không thể nào tránh được bởi ý thức tự kiềm chế đã nhường bước cho chúng. Do bởi những kích thích tác động vào đám đông thay đổi liên tục và họ luôn tuân theo chúng vì thế bản thân đám đông dĩ nhiên cũng sẽ rất dễ biến đổi. Chính vì vậy ta thấy họ trong phút chốc có thể chuyển từ chỗ tàn bạo đẫm máu nhất sang anh dũng hoặc cam đảm nhất. Đám đông dễ trở thành đao phủ nhưng cũng dễ trở thành kẻ tử vì đạo. Trong tim họ tràn đầy nhiệt huyết rất cần cho sự chiến thắng của mỗi một niềm tin. Người ta không cần phải quay trở lại cái thời của những anh hùng để có thể nhận ra được đám đông có khả năng gì. Không bao giờ họ mặc cả sinh mạng của mình trong một cuộc khởi nghĩa, mới chỉ cách đây không lâu, một ông tướng bỗng nhiên được nhân dân yêu mến, một khi ông ta đòi hỏi, dễ dàng có hàng ngàn người sẵn sàng chém giết vì sự nghiệp của ông ta.

    Đám đông không chỉ bốc đồng và hay biến đổi. Giống như những con thú hoang dã, họ không cho phép bất cứ một vật cản nào nằm giữa sự thèm muốn và việc thỏa mãn sự thèm muốn đó, và họ càng ít cho phép hơn, khi cái sự đa số của họ đảm bảo cho họ một cảm giác quyền lực không gì chống lại nổi. Đối với một người trong đám đông cái khái niệm "không có thể" hoàn toàn biến mất. Một người độc lập sẽ ý thức được rằng một mình nó không thể châm lửa đốt cháy một cung điện, không thể trấn lột các quán hàng, ngay cả trong ý nghĩ nó cũng không hề có một chút ham muốn làm những điều như vậy. Là thành viên của đám đông nó ý thức được cái quyền lực mà đám đông đã trao cho nó, và trong giây lát nó sẽ nghe theo sự kích động để rồi chém giết và cướp phá.

    1.2. Tính dễ bị gợi ý và tính nhẹ dạ của đám đông

    Một trong những đặc tính của đám đông đó là tính đặc biệt dễ bị gợi ý và chúng tôi cũng chứng minh rằng tính chất này lây lan rất mạnh ở mọi chỗ có đông người tụ tập; nguyên nhân của nó được giải thích bởi sự định hướng cực nhanh của tâm tư tình cảm theo một chiều nào đó. Ngay cả lúc người ta tưởng rằng giữa đám đông không hề có một thứ liên kết nào, thường cũng là lúc nó đang ở trong tình trạng căng thẳng chờ đợi, thuận lợi cho việc tiếp nhận một gợi ý nào đó vào nó. Gợi ý cụ thể đầu tiên sẽ được thông báo đến tất cả các bộ não qua đường lây nhiễm và xác định lập tức hướng tình cảm của đám đông. Trong nội tâm của những người bị gợi ý xuất hiện một sự thúc dục phải biến nhanh ý tưởng thành hành đông. Bất kể mục đích hành động là gì, hoặc thiêu hủy một lâu đài, hoặc hy sinh chính bản thân mình, đám đông cũng sẵn sàng một cách dễ dàng. Tất cả phụ thuộc vào kiểu kích thích, không còn như trong trường hợp của một người độc lập, tùy thuộc vào những mối quan hệ giữa hành động bị thúc ép và chuẩn mực của lý trí nó có thể cưỡng lại việc thực thi hành động đó. Đám đông, luôn bị lạc trong các ranh giới của sự vô thức, luôn ngả theo mọi ảnh hưởng, bị những tình cảm mãnh liệt của họ kích thích, tình cảm mức độ này là đặc tính của tất cả sinh vật không có khả năng sử dụng lý trí, miễn dịch với tất cả các kiểu phê phán, phải có một sự cả tin quá mức bình thường. Chẳng có gì đối với nó là không có thể, và người ta không được phép quên điều này, nếu như muồn hiểu, vì sao các huyền thoại và những câu chuyện vô lý nhất lại có thể dễ hình thành và lan truyền đến như vậy.

    Sự xuất hiện các huyền thoại dễ lan truyền trong đám đông không chỉ hoàn toàn do sự cả tin mà còn do sự bóp méo khủng khiếp các sự kiện trong trí tưởng tượng của đám người tụ tập lại với nhau. Một sự kiện đơn giản, đám đông chợt nhìn thấy, lập tức sẽ trở thành một sự kiện bị bóp méo. Đám đông tư duy bằng các hình ảnh, và khi một hình ảnh hiện lên sẽ kéo theo một chuỗi các hình ảnh khác, không hề có một mối liên hệ logic với hình ảnh đầu tiên. Chúng ta dễ dàng hiểu ra trạng thái này, một khi chúng ta ngẫm nghĩ xem chuỗi các liên tưởng đặc biệt nào lúc đó đã tạo nên một ấn tượng trong ta. Lý trí chỉ cho thấy sự không mạch lạc của những hình ảnh đó, nhưng đám đông không để ý đến điều này và đã trộn thêm gia giảm có được từ những tưởng tượng méo mó của họ vào trong sự kiện. Đám đông không có khả năng phân biệt được giữa cái chủ quan và cái khách quan. Nó luôn coi những hình ảnh xuất hiện trong tâm thức của nó, cái thường chẳng giống gì với thực tại quan sát được, là sự thực.

    1.3. Tính phóng đại (exagération) và tính đơn giản (simplisme) của tình cảm đám đông

    Tất cả các tình cảm tốt và xấu mà đám đông thể hiện ra có hai đặc điểm chính: chúng rất đơn giản và rất phóng đại. Cũng như trong nhiều trường hợp khác, trong mối liên quan này, thành viên của đám đông sẽ trở nên gần với những sinh thể nguyên thủy. Ở đó không tồn tại các mức độ tình cảm, anh ta nhìn sự vật một cách thô thiển, và không hề biết đến các thang bậc chuyển tiếp.

    Sự phóng đại của tình cảm càng trở nên mạnh mẽ bởi nó lan truyền rất nhanh do sự kích hoạt và lây nhiễm và do sự thán phục mà nó nhận được đã làm gia tăng một cách đáng kể mức độ căng thẳng của nó. Tính đơn giản và phóng đại của tình cảm đám đông đã bảo vệ nó tránh khỏi nghi ngờ và lưỡng lự. Giống như ở phụ nữ, nó lập tức có thể đi đến hết tầm của sự việc. Từ một sự việc rõ ràng là đáng nghi tức khắc trở thành điều chắc chắn không thể lay chuyển. Một mầm mống nhỏ của ác cảm và dè bỉu trong mình, là người độc lập nó sẽ cho qua, là thành viên của đám đông lập tức chúng lớn nhanh thành nỗi căm thù man dại.

    Sự dữ dội trong tình cảm đám đông, được hợp lại đặc biệt từ những con người khác biệt, sẽ gia tăng mạnh mẽ bởi do thiếu vắng bất kỳ một sự chịu trách nhiệm nào. Việc chắc chắn không bị trừng phạt, là cái gia tăng với độ lớn của đám đông, và ý thức về bạo lực có ý nghĩa trong giây lát quyết định bởi đám đông, đã đem lại cho tất cả mọi người những tình cảm và hành động mà một người độc lập khó có thể có được. Hòa lẫn trong đám đông, những kẻ ngu muội, những kẻ vô học và ganh ghét đã mất đi cái cảm giác vô tích sự và bất lực của họ; thay thế vào đó là ý thức về một sức mạnh thô bạo, không bền bỉ nhưng cực kỳ mạnh mẽ.

    Thật đáng buồn vì sự phóng đại của những tình cảm xấu trong đám đông đã khơi dậy những tàn dư của bản năng, kế thừa từ người nguyên thủy, những cái mà một người độc lập và có trách nhiệm do lo sợ bị trừng phạt sẽ kìm nén lại. Điều này tự nó giải thích vì sao đám đông có xu hướng bạo loạn nghiêm trọng.

    Nếu một khi đám đông được gợi ý một cách khéo léo, nó có thể rất anh dũng và sẵn sàng hy sinh. Mức độ của nó có khi còn cao hơn nhiều lần so với một cá nhân độc lập.

    2. Tư tưởng của đám đông

    Những nghiên cứu từ một công trình trước đây của Le Bon về ý nghĩa của các tư tưởng đối với sự phát triển của các dân tộc đã chứng minh rằng, mỗi một nền văn minh đều phát triển dựa trên một số ít những tư tưởng nền tảng, thường rất ít khi đổi mới. Ở đấy Le Bon đã trình bày, các tư tưởng này đã bám chặt vào tâm hồn của đám đông như thế nào, nó đã thấm vào những tâm hồn đó môt cách khó nhọc ra sao, và sau đấy nó đã đạt đến sức mạnh như thế nào. Le Bon cũng đã chỉ ra rằng, những biến đổi vĩ đại trong lịch sử thường xuất phát từ sự thay đổi của những tư tưởng nền tảng này.

    Người ta có thể phân những tư tưởng đó thành hai loại. Thuộc về loại thứ nhất, chúng ta thấy là những tư tưởng tình cờ và thoáng qua, chúng sinh ra do một ảnh hưởng tức thời: ví dụ như tình cảm dành cho một cá nhân hoặc một học thuyết. Thuộc về loại thứ hai là những tư tưởng nền tảng, được môi trường, di truyền và đức tin tạo cho một sự bền vững lâu dài, ví dụ như các giáo lý khi xưa, những tư tưởng dân chủ và xã hội ngày nay.

    Người ta có thể ví những tư tưởng nền tảng như khối nước của một dòng sông đang chậm rãi trôi, những tư tưởng thoáng qua là những gợn sóng luôn thay đổi trên bề mặt, nó làm cho bề mặt sống động mặt dù chẳng có ý ghĩa gì rõ ràng hơn là bản thân dòng chảy.

    Trong thời đại của chúng ta, những quan điểm nền tảng, mà cha ông chúng ta đã từng sống với chúng, ngày càng trở nên bị lung lay và đồng thời những thiết chế dựa trên những tư tưởng đó cũng bị chấn động hoàn toàn. Hàng ngày có biết bao nhiêu những tư tưởng thoáng qua nảy sinh, như tôi đã nói về chúng ở trên; nhưng dường như chỉ một số ít trong đó có thể đạt được ảnh hưởng đáng kể.

    Những tư tưởng nào đám đông thích tiếp nhận mặc lòng, chúng chỉ có thể phát huy tác dụng, nếu khi đám đông tiếp nhận chúng, chúng có một hình thức rất đơn giản và phản ánh vào tâm trí họ dưới dạng hình ảnh. Không có ràng buộc nào của sự sắp đặt một cách logic, hay là sự mạch lạc đuợc dùng để kết nối những hình ảnh tưởng tượng đó lại với nhau; chúng có thể thay thế nhau như những tấm kính ảnh của chiếc đèn chiếu nhiệm màu (Larterna magica), được người trình diễn lấy ra từ một cái hộp. Người ta cũng sẽ nhận thấy trong đám đông những sự tưởng tượng trái ngược nhau tiếp nối xuất hiện. Dưới gợi ý của một trong những tư tưởng được chứa sẵn trong đầu, đám đông sẽ tuân theo một một ý nghĩ chợt lóe lên và sẽ thực hiện những hành động rất khác nhau. Sự thiếu vắng hoàn toàn khả năng xét đoán đã làm cho họ không thể nhận ra được các mâu thuẫn.

    Hiện tượng như vậy không chỉ xuất hiện ở đám đông. Người ta cũng thấy nó ở nhiều con người độc lập, và không chỉ ở người nguyên thủy. Le Bon cũng đã quan sát thấy điều đó ở những người có học theo đạo Hindu, đang theo học và làm luận văn tiến sĩ tại các trường đại học ở châu Âu chúng ta. Những nền tảng xã hội và tín ngưỡng vững chắc mà họ được kế thừa không hề bị suy chuyển, khi người ta phủ lên chúng một lớp quan điểm châu Âu xa lạ. Trong những cơ hội tình cờ, những thành phần của cái nền tảng đó sẽ lộ ra, khi bằng lời nói khi bằng hành động và lúc đó ở cùng một con người cho thấy có những mâu thuẫn rất rõ ràng. Dĩ nhiên những mâu thuẫn này có vẻ hình thức nhiều hơn là thực sự, bởi đối với một người độc lập chỉ những hình ảnh được kế thừa mới đủ mạnh để có thể biến thành những động lực thúc đẩy những hành vi của nó.

    Bởi những tư tưởng, chỉ với cấu trúc rất đơn giản mới thâm nhập được vào đám đông, cho nên để có thể trở thành bình dân, dễ gần, chúng phải tự hoàn toàn đổi dạng. Nếu đó là những tư tưởng triết học hoặc khoa học cao siêu, người ta có thể định ra những thay đổi cơ bản cần thiết, từng bậc một, xuống thấp dần cho đến khi thích hợp với đám đông. Mức độ của sự thay đổi này phụ thuộc rất nhiều vào chủng tộc tạo nên đám đông đó, tuy nhiên kiểu nào thì nó cũng phải luôn thu nhỏ lại và đơn giản hơn. Bởi thế, theo quan điểm xã hội học, trong thực tế không có sự cao thấp của các tư tưởng, có nghĩa là không có quan điểm này cao hơn quan điểm kia. Chỉ qua việc, để một tư tưởng có thể đến được với đám đông và phát huy tác động, nó đã phải trải qua quá trình lột bỏ tất cả những gì từng làm nên sự vĩ đại, sự cao siêu của nó, cũng đã nói lên điều đó.

    Giá trị của một tư tưởng xếp theo thứ bậc là hoàn toàn vô nghĩa; chỉ có tác động của nó mới thực sự là điều cần phải để ý. Những tư tưởng thiên chúa giáo thời trung cổ, những tư tưởng dân chủ thế kỷ 18, những tư tưởng xã hội chủ nghĩa ngày nay chắc chắn rằng không thể có một thứ bậc thật cao, về mặt triết học người ta có thể coi chúng là những nhầm lẫn khá đáng thương, nhưng ý nghĩa của chúng đã và đang cực kỳ to lớn và sẽ còn rất lâu nữa chúng vẫn là những phương tiện cơ bản nhất để điều hành một nhà nước.

    Nhưng ngay cả khi, nếu như tư tưởng đã trải qua sự biến đổi để đám đông có thể tiếp nhận, nó cũng chỉ sẽ có tác động, nếu như nó - qua những bước khác nhau, những bước này là gì còn phải tiếp tục nghiên cứu thêm - thâm nhập được vào cái vô thức của đám đông và trở nên tình cảm của họ. Sự biến chuyển này thông thường kéo dài rất lâu.

    3. Suy luận của đám đông

    Người ta không thể quả quyết một cách chắc chắn rằng, đám đông không thể bị tác động bởi những suy luận. Nhưng những lý lẽ họ vận dụng và những lý lẽ tác động đến họ, dường như nhìn về mặt logic nó tầm thường đến nỗi người ta chỉ cần làm một phép so sánh cũng có thể rút ra kết luận.

    Những suy luận tầm thường của đám đông, cũng như những suy luận cao siêu, đều dựa trên sự liên kết các ý tưởng: nhưng những liên kết các ý tưởng mà đám đông thực hiện chỉ là sự kết nối những gì giống nhau và có thứ tự. Họ kết nối như người Eskimo, từ kinh nghiệm biết rằng, băng đá là một vật thể trong suốt, tan trong miệng và từ đó rút ra kết luận rằng thủy tinh, do cũng trong suốt, nên nó cũng phải tan trong miệng; Hoặc như người hoang dã, họ cho rằng, nếu họ ăn trái tim của một kẻ thù dũng cảm thì họ sẽ nhận được sự dũng cảm của nó; hoặc như những người công nhân, bị chủ của họ bóc lột và từ đó rút ra kết luận rằng, tất cả giới chủ đều là kẻ bóc lột. Sự kết nối các sự vật tương tự, cho dù chúng chỉ có những biểu hiện giống nhau về bề mặt, và sự khái quát hóa một cách vội vã những trường hợp riêng biệt là những đặc điểm trong logic của đám đông. Những kiểu suy luận như vậy luôn được các thuyết gia khéo nói sử dụng trước đám đông. Một chuỗi những suy luận vững chắc sẽ là điều hoàn toàn khó hiểu đối với đám đông, cho nên ta có thể được phép nói rằng, họ chẳng suy luận gì cả hoặc suy luận sai và suy luận logic không có tác động gì tới họ. Thường chúng ta hay bị ngạc nhiên khi đọc những bài viết về những điểm yếu trong một bài phát biểu nào đó, thế mà nó lại có tác động mạnh mẽ đến người nghe; nhưng ta quên mất rằng, bài phát biểu đó được làm ra để lôi kéo đám đông, chứ không phải để cho những triết gia đọc. Thuyết gia, người gần gũi với đám đông, luôn biết cách gợi lên những hình ảnh để có thể lôi cuốn họ. Nếu ông ta đạt được điều đó, có nghĩa là ông ta đã đạt được mục đích, và hàng loạt những lời phát biểu cũng không bằng một vài câu đi vào lòng người và đem đến niềm tin cho họ.

    Cũng quá thừa khi lưu ý rằng, sự thiếu khả năng suy luận của đám đông đã tước đi của họ mọi năng lực phê phán, có nghĩa là khả năng để phân biệt được giữa đúng và sai, khả năng đưa ra một phán xét xác đáng. Những lập luận mà đám đông chấp nhận chỉ là những suy luận khiên cưỡng, không bao giờ được kiểm chứng. Nhiều con người độc lập về mặt này cũng không hơn gì đám đông. Sự nhẹ dạ khi khái quát hóa những ý kiến nhất định nào đó phụ thuộc trước hết vào sự thiếu khả năng để có thể đưa ra một ý kiến của chính mình trên cơ sở của những suy luận đặc biệt ở phần đông loài người.

    4. Trí tưởng tượng của đám đông

    Giống như ở tất cả những ai không biết suy nghĩ một cách logic, trí tưởng tượng đặc biệt của đám đông dễ dàng tạo nên sự xúc động cực kỳ sâu sắc. Những hình ảnh hiện lên trong trí óc họ bởi một người nào đó, bởi một sự kiện, bởi một tai nạn xảy ra đều sống động gần như là hiện thực. Đám đông gần như ở trong trạng thái của một người đang ngủ, khả năng suy xét trong phút chốc bi gạt sang một bên, nhường chỗ cho những hình ảnh cực kỳ mạnh mẽ hiện lên trong đầu và sau đó chúng cũng sẽ biến đi rất nhanh một khi sự suy xét có ý định xen trở lại. Đám đông, không có khả năng xem xét và suy nghĩ một cách lô gic, với họ chẳng có gì là không có thể.

    Ngược lại những cái không có thể nhất thường lại hay lộ ra rõ nhất.

    Chính vì thế đám đông thường bị những mặt diệu kỳ và huyền thoại của các sự kiện tác động mạnh mẽ nhất. Sự diệu kỳ và huyền thoại quả đúng là những trụ cột của một nền văn hóa. Cái ảo trong lịch sử luôn có vai trò quan trọng hơn là cái thực. Cái không thực luôn có quyền đứng trước cái thực.

    Đám đông chỉ có thể suy nghĩ qua hình ảnh và chỉ để các hình ảnh tác động vào mình. Chỉ có những hình ảnh mới làm cho họ khiếp sợ hoặc say đắm và chúng là nguyên nhân của những hành động của họ. Chính vì thế trong các vở kịch khi tạo ra những hình tượng với đường nét sâu đậm đã gây nên một sự tác động cực mạnh vào đám đông. Với đám đông dân chúng thành Rome khi xưa, bánh mì và các trò chơi là lý tưởng hạnh phúc. Lý tưởng này rất ít thay đổi trong dòng chảy của thời gian. Không có gì kích động trí tưởng tượng của đám đông mạnh mẽ hơn là một vở diễn sân khấu. Tất cả các khán giả cảm nhận đồng thời một tình cảm giống nhau, và nếu như nó không thể ngay lập tức trở thành hành động, thì cũng chỉ vì người khán giả vô thức chưa thể phớt lờ sự nghi ngờ rằng anh ta lại là nạn nhân của ảo giác, và đã khóc, đã cười về những cuộc phiêu lưu tưởng tượng. Song thỉnh thoảng những tình cảm được khơi dậy bởi các hình ảnh cũng đủ mạnh để có thể biến thành hành động, giống như được tác động bởi sự kích hoạt (suggestion) thông thường. Người ta cũng đã từng kể về những buổi trình diễn, trong đó diễn viên đóng vai kẻ phản bội, sau khi kết thúc buổi trình diễn phải được bảo vệ cẩn thận để tránh sự tấn công của những khán giả vẫn còn đang công phẫn trước hành động tội ác dường như là của diễn viên nọ đã thể hiện trong vở kịch. Điều này theo tôi là một ví dụ chính xác nhất về trạng thái tinh thần của đám đông, và đặc biệt là sự nhẹ dạ, dễ bị gợi ý. Cái không có thật trong con mắt họ cũng quan trọng như cái có thật. Họ có xu hướng rõ ràng là không hề phân biệt bất cứ cái gì.

    Quyền lực của kẻ chiến thắng và sức mạnh của nhà nước được xây dựng trên trí tưởng tượng của người dân. Nếu ta gây được ấn tượng trong trí tưởng tượng đó, ta có thể lôi kéo cả đám đông đi theo. Tất cả những sự kiện có ý nghĩa trong lịch sử, sự ra đời của đạo Phật, của đạo Thiên chúa, đạo Hồi, các cuộc cải cách, các cuộc cách mạng và sự bùng nổ đầy đe dọa của chủ nghĩa xã hội trước đây đều là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của những ấn tượng mạnh vào trí tưởng tượng của đám đông.

    Cũng thế, những nguyên thủ quốc gia trong mọi thời đại ở tất cả các nước, là những người chiếm đựợc quyền thống trị tuyệt đối, đều coi trí tưởng tượng của dân chúng là các cột trụ của quyền lực. Không bao giờ họ có ý định cai trị ngược với những trí tưởng tượng đó. "Tôi đã kết thúc cuộc chiến tại Vendeé, bởi vì tôi đã trở thành người công giáo", Napoleon đã nói như vậy trước hội đồng quốc gia, "tôi chiếm giữ được Ai cập, bởi vì tôi đã trở thành người theo đạo Hồi, và tôi đã chiến thắng những thầy tu người Ý bởi vì tôi ủng hộ sự toàn quyền của giáo hoàng. Khi tôi cai trị người Do thái tôi sẽ cho xây lại đền thờ vua Salomon." Từ thời Alexander và Ceasar có lẽ chưa có một con người vĩ đại nào lại biết cách gây ấn tượng vào tâm hồn đám đông như Napoleon; mối quan tâm thường xuyên của Napoleon là sự tác động vào tâm hồn đám đông. Ông ta mơ đến nó trong chiến thắng, trong lời nói, trong hành động, và trong tất cả các công việc - ngay cả khi nằm chờ chết ông ta vẫn còn mơ đến điều đó. Hồ Chí Minh cũng là bậc kỳ tài và chịu khó trong việc xây dựng hình ảnh thánh hiền về bản thân, vẽ lên cho nhân dân Việt Nam một trí tưởng tượng đẹp đẽ về một thiên đường ảo vọng.

    Làm thế nào để có tạo nên ấn tượng trong trí tưởng tượng của đám đông? Chúng ta sẽ thấy điều này ngay bây giờ. Trong khi chờ đợi chỉ có thể nói rằng, mục đích này sẽ không bao giờ đạt đến đựơc bằng cách thử tác động vào suy nghĩ và lý trí. Antonius không cần đến những sự hùng biện trừu tượng để kích động nhân dân chống lại những kẻ đã sát hại Ceasar. Ông ta chỉ đọc cho họ nghe di chúc và cho họ xem thi hài của Ceasar.

    Tất cả những gì làm kích động trí tưởng tượng của đám đông đều thể hiện ở dạng một hình ảnh cô đọng, rõ nét, không cần có một phương tiện giải thích nào đi kèm và chỉ được một vài sự kiện tuyệt vời hỗ trợ như: một thắng lợi lớn, một điều kỳ lạ lớn, môt tội ác lớn, một niềm hy vọng lớn.

    Chúng làm cho sự vật được tiếp nhận một cách chớp nhoáng và không mảy may cần biết đến nó đã như thế nào. Hàng trăm tội ác nhỏ hoăc hàng trăm tai nạn nhỏ thường sẽ chẳng gây nên một chút tác động đáng kể đối với trí tưởng tựợng của đám đông; thế nhưng nó lại bị sốc rất mạnh bởi duy nhất một tội ác man rợ, một tại nạn thảm thương, cho dù máu có đổ ít hơn nhiều so với số máu của tất cả những tai nạn nhỏ cộng lại.

    Vậy có thể nói, không phải tự bản thân các sự kiện đã kích thích trí tưởng tượng của dân chúng, mà là hình thức và cung cách của chúng đã xảy ra như thế nào. Chúng phải qua dồn nén - thành một hình ảnh cô đọng thỏa mãn và nắm bắt được tâm trí. Nghệ thuật kích thích trí tưởng tượng của đám đông cũng chính là nghệ thuật để lãnh đạo họ.

    II. Bàn luận

    Mục tiêu phong trào dân chủ Việt Nam

    Trước hết, phải khẳng định rõ ràng, minh bạch: phong trào dân chủ Việt Nam ko phải để trực hướng lật đổ chế độ cộng sản, vì ở các nước dân chủ thì ĐCS vẫn tồn tại bình đẳng với các đảng phái khác trong khuôn khổ pháp luật. Chúng ta chỉ chống lại sự độc tài, hủ lậu, tham nhũng.v.v... đi ngược lại trào lưu tiến bộ chung của nhân loại. Và chúng ta cũng nên học hỏi cái hay của người cộng sản trong việc tập hợp, vận động quần chúng… Xã hội dân chủ là xã hội hậu công nghiệp (post-industrial society), vượt lên trên về mặt chất lượng so với xã hội tư bản và cả xã hội XHCN thế kỷ trước.

    Thuyết "Xã hội hậu công nghiệp" được đại diện bởi nhà xã hội học Mỹ D.Bell. Tác phẩm chính: "Sự xuất hiện của xã hội hậu công nghiệp: hướng dẫn một dự đoán xã hội" (1973). Trọng tâm của lý thuyết là: "Nguyên lý trục". Theo D. Bell sự phát triển xã hội gắn với sự thay đổi về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa - chính trị. Mỗi lĩnh vực dựa trên nguyên lý một trục nhất định.

    Các lý thuyết về sự phát triển xã hội: chỉ dựa trên một trục, ví dụ:

    • Theo Mác: "Học thuyết kinh tế quyết định" (Theo trục quan hệ sở hữu).
    • Theo thuyết "Xã hội hậu công nghiệp": Kỹ thuật quyết định (Theo trục các thay đổi kỹ thuật).
    • Theo thuyết xã hội hậu công nghiệp: Xác định "xã hội hậu công nghiệp" theo trục công nghệ và tri thức.

    Đặc trưng:

    • Nền kinh tế chuyển từ công nghiệp chế biến là trụ cột sang dịch vụ làm trụ cột
    • Các chuyên gia lành nghề và kĩ thuật viên chiếm ưu thế
    • Tri thức luận giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các phương sách kinh tế và xác định cấu trúc xã hội
    • Kỹ thuật của tương lai được tiến hành theo kế hoạch, có điều tiết, định hướng kinh tế - kĩ thuật đối với việc kiểm soát và đánh giá công nghệ.
    • Các chính sách chế định đều phải được thông qua "công nghệ trí tuệ".
    • Cho rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã biến đổi về chất, trở thành "Xã hội công nghiệp"

    • Không còn là chủ nghĩa tư bản cũng không phải là chủ nghĩa xã hội

    • Trong xã hội: khoa học kĩ thuật có vai trò ngày càng tăng và chiếm địa vị quyết định, chế độ tư hữu mất dần tác dụng, mâu thuẫn xã hội được loại trừ.

    Tuy nhiên, bệnh của nhiều tổ chức dân chủ là đưa ra nhiều mục tiêu khá trừu tượng, “xa lạ”, thiếu sâu sát tầng lớp bình dân. Như tác giả LMHT viết: “Tập hợp họ bằng cái thực tế mà dân chủ - tự do mang lại thay vì chỉ nói khơi khơi, hãy tìm cách gắn liền dân chủ - tự do với sức khỏe, với cơm áo – gạo tiền (là những mưu cầu cơ bản nhất của cộng đồng Việt Nam hiện nay). Đảm bảo được họ toàn tâm – toàn ý với sự đấu tranh đó, thay vì khiến cho họ phải vì cơm – áo – gạo – tiền mà trở nên....” 2

    Cách tổ chức, tập hợp lực lượng

    Trước hết, xin nói ngay, tôi chia sẻ nhiều điểm với tác giả LMHT trong bài viết "Tính cách người Việt trong việc tập hợp đấu tranh dân chủ".

    Đó là:

    “…Chúng ta cũng nhận thức rõ dân tộc Việt Nam hiện nay như một đám đông đầy xô bồ, đám đông ấy được cai quản bằng chính quyền với bàn tay sắt, sự kiềm kẹp của 2 chữ TIỀN QUYỀN. Có những cá nhân đứng lên trên sự cai quản đó và nắm được 2 yếu tố Tiền Quyền, nhưng đó lại là thiểu số. Còn đa số hiện lại là nhóm người không có Quyền, Tiền, những con người thấp cổ bé họng, thất nghiệp và bị tước mất cơ hội... Đây là lực lượng chính nhất của phong trào đấu tranh dân chủ. Nhưng chúng ta lại chưa biết cách làm cho nó chuyển động…

    …Chúng ta không thể mơ hay nói về một mùa xuân ở Việt Nam với viễn cảnh đa nguyên – đa đảng khi chúng ta chưa định vị được chúng ta đang ở đâu và sẽ làm gì với tâm lý – tính cách người Việt như vậy.

    Việc tạo cho đám đông xô bồ, an phận đó trở thành một tập thể người biết kỷ luật, biết cách chuyển động như thế nào trong việc bẻ gãy guồng máy cộng sản và cùng đồng hành xuống đường qua một sự kiện khi và chỉ khi ta cho thấy tổ chức đó là điểm tựa đối với họ trong mọi tình huống tốt xấu xảy ra.” 2

    Dựa vào những nghiên cứu tâm lý đám đông ở phần I, ta có thể kết luận: trong điều kiện dân trí - dân khí Việt Nam hiện tại vẫn có thể làm tốt, hiệu quả cuộc cách mạng dân chủ hóa đất nước bằng cách tiếp cận: Tổ chức bí mật là điểm ưu tiên để phát triển lực lượng, phát triển đám đông - bất bạo động.

    “Nếu tiếp tục cái trò đấu tranh công khai – bất bạo động. Chẳng những sẽ không đem đến kết quả lớn lao, mà ngược lại những hình ảnh bị chính quyền giải tán hay đàn áp chi đem lại nỗi sợ cho chính người dân. Đám đông đó sẽ lan truyền nỗi sợ hãi và làm cho quyền lực ngày một củng cố. Những cá nhân người sẽ tiếp tục biệt lập, cái tính vô danh trơ nên nhún nhường và con người thấp cổ bé họng đó tiếp tục sống nốt chuỗi ngày an phận còn lại.” 2

    Tuy nhiên, khác với LMHT, tôi vẫn cho rằng cần tiến hành đấu tranh công khai song song. Dành cho những chiến sĩ có thức cao, gan dạ... chủ yếu hướng vào những vấn đề thuần dân túy.

    III. Thực hành

    Tổ chức bí mật là điểm ưu tiên để phát triển lực lượng, phát triển đám đông- bất bạo động

    Tại sao chúng ta lại không ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại để tập hợp những đám đông online. Dựa vào mạng Internet, có thể tạo ra sự một không gian nhưng hiệu ứng thật như: tương tác tức thời, reo hò - cổ vũ, hoan hô - đả đảo, chát voice... Tức là tạo ra hiệu ứng tâm lý đám đông như thật làm cho mọi người trở nên dũng cảm, thống nhất hành động, nhất hô bá ứng.v.v. Chúng ta có thể xây dựng một số video clip như các clip quảng cáo, hoạt hình... mang tính chất châm biếm, trào lộng hoặc ca dao, hò vè... thì hiệu ứng tâm lý tác động vào đám đông rất nhanh, mạnh!

    Ex: clip châm biếm

    http://youtu.be/kWcUlrlYy7A

    Hò vè:

    https://groups.google.com/forum/#!msg/pkysd/qKh49i6UfTA/tI1YXxwNo40J

    Xây dựng mục tiêu phong trào dân chủ Việt Nam

    Theo lý thuyết giáo dục, quản trị hiện đại, nguyên tắc xây dựng mục tiêu SMART:

    1. Specific - cụ thể, dễ hiểu

    - Chỉ tiêu phải cụ thể vì nó định hướng cho các hoạt động trong tương lai.

    - Đừng nói mục tiêu của bạn là dẫn đầu thị trường trong khi đối thủ đang chiếm 40 % thị phần.

    - Hãy đặt mục tiêu chiếm tối thiểu 41% thị phần, từ đó bạn sẽ biết mình còn phải cố đạt bao nhiêu % nữa.

    2. Measurable – đo lường được

    - Chỉ tiêu này mà không đo lường được thì không biết có đạt được hay không?

    - Đừng ghi: “phải trả lời thư của khách hàng ngay khi có thể”. Hãy yêu cầu nhân viên trả lời thư ngay trong ngày nhận được.

    3. Achievable – vừa sức

    - Chỉ tiêu phải có tính thách thức để cố gắng, nhưng cũng đừng đặt chỉ tiêu loại không thể đạt nổi.

    - Nếu bạn không có giọng ca trời phú thì đừng đặt chỉ tiêu trở thành siêu sao.

    4. Realistics – thực tế

    - Đây là tiêu chí đo lường sự cân bằng giữa khả năng thực hiện so vối nguồn lực của doanh nghiệp bạn (thời gian, nhân sự, tiền bạc..).

    - Đừng đặt chỉ tiêu giảm 20 kg trong một tháng để đạt trọng lượng lý tưởng 45 kg trong vòng một tháng, như vậy là không thực tế.

    5. Timebound – có thời hạn

    - Mọi công việc phải có thời hạn hoàn thành, nếu không nó sẽ bị trì hoãn.

    - Thời gian hợp lý giúp bạn vừa đạt được mục tiêu lại vừa dưỡng sức cho các mục tiêu khác.

    Như vậy, phải biết chia nhỏ mục tiêu của phong trào dân chủ thành nhiều bước nhỏ, cụ thể, đo đếm được, có giới hạn thời gian thực hiện.. thì mới hấp dẫn, lôi kéo được quần chúng. Từ đó sẽ thay đổi phương pháp đấu tranh cho phù hợp.

    Minh Châu, 2/3/2014

    _____________________________________________

    Tài liệu tham khảo:

    1. 1. Gustave Le Bon, Tâm lý học đám đông, Nxb. Tri thức, 2010, tham khảo bản dịch trên Dân Luận

    2. LMHT - Tính cách người Việt trong việc tập hợp đấu tranh dân chủ (Dân Luận)

    3. Phan Châu Thành - Điều gì thực sự làm sự sụp đổ chính phủ Ucraina tham nhũng thân Nga? (Dân Luận)

    4. Bài học từ Ukraine cho phong trào dân chủ Việt Nam là phải thành lập Hội, Nhóm (Dân Luận)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi