Nelson Mandela - Bước đường dài tới tự do (2)

  • Bởi Admin
    15/02/2014
    0 phản hồi

    Nelson Mandela<br />
    LongWalk chuyển ngữ

    Phần II. Thành phố JOHANNESBURG

    [Một đoạn dài giới thiệu thành phố lớn Johannesburg xây dựng nên và sinh hoạt nhờ những mỏ vàng. Cũng nói về chuyện hai anh em Justice và Nelson tìm được công việc trong một công ty khai thác vàng nhưng rồi bị đuổi bởi vị Nhiếp chánh biết hai người làm ở đây và lộ ra vụ họ đã gian dối khi xin việc]

    Và rồi qua sự giới thiệu dây chuyền, nhất là nhờ ông Walter Sisulu - một chuyên gia địa ốc và lãnh đạo cộng đồng địa phương - tôi tìm được công việc thư ký cho một văn phòng luật sư của người Do Thái. Họ chỉ định tôi ngồi làm chung phòng với một nhân viên thư ký Da Đen khác tên Gaur Radebe. Một luật sư Do Thái ở đây, ông Sidelsky, rất thiện cảm với cộng đồng người Da Đen và giúp đẩy mạnh nền giáo dục cho người bản xứ. Ông ta thường nói chỉ có giáo dục quần chúng sẽ giải phóng con người, và lý luận rằng một người có giáo dục không thể bị đàn áp bởi người ấy có thể suy nghĩ độc lập. Ông ta cứ bảo tôi rằng con đường đáng giá nhất để tôi theo đuổi là trở thành một luật sư thành công và từ đó sẽ là một gương mẫu về sự thành đạt cho dân tôi. Tôi cố gắng hoàn tất văn bằng Cử nhân rồi theo học luật vào ban đêm theo cách hàm thụ qua trường Đại học Nam Phi UNISA.

    Tôi được ông Sidelsky chiếu cố tận tình; ông chỉ dạy cho tôi trong công việc làm, giải thích vì sao phải thế này, thế kia và như vậy với mục đích gì. Ông ta là một thầy giáo kiên nhẫn và rộng lượng, giảng giải không chỉ những chi tiết của các điều luật mà còn về triết lý đã tạo ra chúng. Quan điểm của ông về luật rất rộng rãi bởi ông tin rằng luật là một công cụ có thể được dùng trong việc thay đổi xã hội. Nhưng ông cảnh báo tôi về chính trị, cho rằng chính trị tiết ra những điều xấu nhất của con người. Nó là nguồn gốc của rối loạn và tha hóa, và nên được xa lánh bằng mọi giá. Ông ta vẽ ra một bức tranh kinh khiếp với những gì có thể xảy ra cho tôi nếu tôi đi vào con đường chính trị, và cố vấn tôi nên tránh những người ông ta xếp vào loại "kẻ gây rối", cụ thể là Walter và Gaur.

    Quả thật Gaur là "kẻ gây rối" và rất có ảnh hưởng đối với cộng đồng người Da Đen trong cách mà ông Sidelsky không biết đến. Chẳng bao lâu sau, tôi tìm hiểu được Gaur là một thành viên nổi bật của cả ANC lẫn Đảng Cộng sản. Gaur không nịnh bợ giới chủ nhân và thường phản đối họ về cách đối xử với người Da Đen.

    Gaur tiêu biểu cho một người không có bằng Cử nhân nhưng tỏ ra trình độ giáo dục cao hơn nhiều so với những anh chàng tốt nghiệp trường Fort Hare với bằng cấp sáng chói. Anh ta không những hiểu biết nhiều mà còn tự tin và dám làm. Mặc dù tôi định lấy cho xong bằng Cử nhân rồi xin vào trường Luật, nhưng tôi học từ Gaur rằng bằng cấp tự nó không bảo đảm cho tài lãnh đạo của một người và nó chỉ vô nghĩa trừ khi người ấy đi ra làm việc với cộng đồng và chứng tỏ bản thân mình cho công chúng biết.

    Một người thư ký nữa trong văn phòng luật, Nat Bregman trạc tuổi với tôi, và anh trở thành người bạn Da Trắng đầu tiên của tôi. Vào một buổi ăn trưa, Nat lôi ra gói bánh mì, anh lấy ra một chiếc rồi nói "Nelson, hãy cầm lấy đầu kia của chiếc bánh". Tôi không chắc vì sao anh ta muốn tôi như thế, nhưng tôi đang thấy đói, và quyết định làm theo yêu cầu. Rồi anh ta nói "Bây giờ, hãy kéo ra". Tôi làm theo lời và chiếc bánh đứt làm hai. Anh ta tiếp "Bây giờ, anh ăn đi". Trong khi tôi đang nhai, Nat bảo "Nelson, những gì chúng ta vừa mới làm là biểu tượng cho triết lý của Đảng Cộng sản: đó là chia xẻ mọi thứ ta có".

    Nat cho tôi biết anh là một thành viên của đảng ấy và giải thích những nguyên tắc mà Đảng Cộng sản ủng hộ. Tôi biết Gaur là một thành viên của đảng ấy, nhưng anh ta chưa bao giờ thúc giục như thế. Tôi lắng nghe Nat hôm ấy và vào nhiều dịp khác về sau, khi anh ta biện hộ cho những chính nghĩa của chủ thuyết cộng sản và cố gắng thuyết phục tôi gia nhập đảng. Tôi không có khuynh hướng tham gia vào bất cứ tổ chức chính trị nào, bởi lời khuyên của ông Sidelsky vẫn còn vang trong tai. Tôi cũng là con người sùng đạo, và chủ trương của cộng sản về vô tôn giáo làm cho tôi lẫn tránh lời đề nghị ấy.

    Tôi thích làm bạn với Nat và chúng tôi thường cùng nhau đi viếng nhiều nơi, kể cả những buổi diễn thuyết của Đảng Cộng sản; tôi đến đấy chủ yếu vì sự tò mò trí thức. Tôi đang trở nên ý thức đến lịch sử của sự áp bức chủng tộc ở nước tôi, và nhận thấy sự đấu tranh ở Nam Phi là thuần túy về chủng tộc. Nhưng Đảng Cộng sản nhìn những vấn đề của Nam Phi qua lăng kính của đấu tranh giai cấp; đối với họ, đấy là chuyện giới tư sản áp bức giới vô sản. Quan điểm này khêu gợi thật nhưng có vẻ không thích đáng vói Nam Phi thời ấy, dù nó có thể đúng cho vài nước khác như Nga, Đức và Anh. Mặc dù vậy, tôi vẫn lắng nghe và học hỏi.

    [Một đoạn khá dài nói về vùng Alexandra, ngoại ô của Johannesburg, một khu ổ chuột đông đúc, nghèo và dơ dáy của người Da Đen, ban đêm không có cả ánh đèn điện. Đó là nơi Mandela cư ngụ một thời gian không lâu nhưng ông rất yêu mến với nhiều kỷ niệm]

    Ở khu đó trong năm đầu tiên tôi biết về sự nghèo khổ nhiều hơn tôi đã từng trải cả thời niên thiếu. Tôi không bao giờ mang vẻ có nhiều tiền và tôi xoay xở để sống còn bằng những nguồn lợi rất đạm bạc. Tiền lương do văn phòng luật trả không giúp tôi đủ trang trải cho cuộc sống, vì tôi phải chi tiêu vào những thứ đắt đỏ như thuê phòng trọ, đi làm việc bằng xe buýt, trả học phí cho trường hàm thụ. Và dĩ nhiên phải có thực phẩm. Và đèn cầy để đọc sách ban đêm. Tôi không đủ khả năng mua một chiếc đèn dầu.

    Tính ra tôi bị thiếu một ít mỗi tháng. Nhiều ngày đi làm tôi phải cuốc bộ sáu dặm vào thành phố và sáu dặm về nhà để tiết kiệm tiền xe buýt. Tôi thường trải qua những ngày với một nhúm thức ăn, và không đổi quần áo. Ông Sidelsky, người cao cỡ như tôi, đã cho tôi một bộ đồ vét cũ của ông. Sau khi đã khâu và vá khá nhiều, tôi bận bộ đồ đó mỗi ngày trong suốt năm năm trời.

    [Một đoạn nói về những tủi nhục của Mandela vì sự nghèo khó, khi đụng chạm với những người khác ăn mặc bảnh bao, khi phải nhờ vả người quen vì những bữa ăn đàng hoàng. Và cũng nói về những mối tình lon con, lẩm cẩm của ông]

    [Một đoạn kể việc vị Nhiếp chính, cha nuôi của Nelson Mandela, đến thăm Johannesburg và gặp Justice cùng Nelson. Với Nelson ông không nhắc gì đến chuyện cũ mà chỉ hỏi thăm về chuyện học hành và dự tính tương lai. Với Justice ông lại rất bực tức và muốn anh ta phải trở về quê, nhưng Justice không chịu tuân theo. Chẳng bao lâu sau vị Nhiếp chính qua đời; bức điện tín gởi cho hai người bị thất lạc; họ chỉ biết tin qua tờ báo địa phương; Justice và Nelson về quê dự lễ tang nhưng khi đến nhà thì đám tang đã xong xuôi. Rồi Nelson phải quay trở lại Johannesburg; còn Justice ở lại quê tiếp nối chức vụ của cha theo truyền thống]

    Vào cuối năm 1942 tôi đậu kỳ thi cuối cho bằng Cử nhân [không rõ ngành gì]; lúc bấy giờ tôi đã tiến lên hàng ngũ mà tôi từng xem là cao quý. Tôi rất hãnh diện mình đã thành đạt với tấm bằng Cử nhân, nhưng tôi cũng biết rằng bằng cấp tự nó không là một lá bùa hay một hộ chiếu cho sự thành công dễ dàng.

    Ỏ văn phòng luật, tôi trở nên gần gũi hơn với Gaur dù ông Sidelsky rất bực tức. Theo như Gaur lý luận, giáo dục là thiết yếu cho sự tiến bộ, nhưng anh ta chỉ ra rằng chưa một dân tộc hay quốc gia nào có thể tự giải phóng chỉ nhờ vào giáo dục mà thôi. Gaur nói "Giáo dục là hoàn toàn tốt và lành mạnh; nhưng nếu phải dựa vào giáo dục, chúng ta sẽ chờ cả ngàn năm cho nền tự do. Chúng ta nghèo, có ít thầy giáo và càng ít trường học hơn. Thậm chí chúng ta không có quyền giáo dục cho chính mình."

    Gaur tin tưởng vào việc đi tìm giải pháp thay vì tuôn ra lý thuyết. Anh ta xác định rằng đối với người Phi, bộ máy của sự thay đổi là ANC; chính sách của tổ chức này tỏ ra tốt nhất để đạt quyền lực ở Nam Phi. Hiến chương của ANC lên án sự kỳ thị chủng tộc, các vị chủ tịch đến từ các nhóm dân khác nhau, và nó ủng hộ mục tiêu của người Phi là trở thành những công dân thật sự của Nam Phi. Điều gây ấn tượng nhất cho tôi là sự tận tụy cao độ của Gaur trong cuộc tranh đấu cho tự do. Có vẻ anh ta không suy nghĩ về điều gì khác ngoài con đường cách mạng.

    Tôi cùng đi với Gaur đến những buổi họp của ANC. Tôi đến như một người quan sát chứ không phải để tham gia, bởi vì tôi không nghĩ rằng mình sẽ phát biểu. Tôi muốn tìm hiểu những vấn đề đang được tranh luận, đánh giá những quan điểm, và nhận ra trình độ của những nhân vật liên hệ. Các buổi họp rất sống động với tranh luận và bàn thảo về Quốc hội, luật cho thẻ căn cước, giá cả thuê mướn, giá vé xe buýt - bất kỳ những chủ đề nào ảnh hưởng đến Nam Phi.

    Năm 1943, tôi tuần hành cùng với Gaur và hàng chục ngàn người khác để ủng hộ dân Alexandra đang tẩy chay công ty xe buýt; họ đang chống đối việc nâng giá vé xe. Gaur là một trong các nhà lãnh đạo và tôi quan sát anh ta đang hành động. Chiến dịch này đã mang đến cho tôi một ảnh hưởng lớn; trong một cách chừng mực, tôi đã chuyển vai trò từ người quan sát và trở thành người tham gia và tôi nhận ra rằng tuần hành cùng với dân chúng có thể gây hồ hởi và cảm hứng. Và tôi cũng bị gây ấn tượng bởi sự hiệu quả của cuộc tẩy chay: sau chín ngày xe buýt chạy gió không hành khách, công ty buộc phải áp dụng trở lại giá cũ.

    Ở văn phòng luật, Gaur không phải là người duy nhất tôi để ý đến về quan điểm. Hans Muller, một chuyên viên địa ốc người Da Trắng và khách hàng của ông Sidelsky, đã thu hút tôi vào bàn luận. Ông ta là một tiêu biểu của giới thương gia vốn nhìn thế giới qua lăng kính "cung và cầu" và cho rằng mọi người đều đi tìm tài sản, tiền bạc vì chúng ngang bằng với hạnh phúc.

    William Smith, một người Da Màu làm việc trong ngành mua bán địa ốc, anh ta là thành viên kỳ cựu của ICU (Công đoàn của các Nhân viên Kỹ nghệ và Thương mãi), nhưng quan điểm của anh đã thay đổi rất nhiều. Anh ta bảo "Này Nelson, tôi đã từng tham gia chính trị khá lâu, và tôi hối tiếc từng phút của thời gian đó. Tôi đã phí những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời cho những nỗ lực vô ích vì ủng hộ những kẻ phù phiếm và ích kỷ vốn đặt quyền lợi riêng của họ lên trên quyền lợi của công chúng mà họ giả vờ phục vụ. Theo kinh nghiệm của tôi, chính trị không là gì ngoài cái thủ đoạn để ăn cắp tiền của giới nghèo."

    Ông Sidelsky không tham gia bàn luận với chúng tôi. Có vẻ ông cho rằng bàn luận chính trị cũng phí thì giờ gần giống như tham gia chính trị. Hết lần này đến lần khác, ông khuyên nhủ tôi hãy tránh khỏi chính trị.

    Tôi lắng nghe những người ấy và cân nhắc một cách cẩn thận các quan điểm của họ; tất cả các lý lẽ của họ đều có giá trị. Tôi đang nghiêng dần về sự can dự vào chính trị, nhưng tôi không biết nó sẽ là gì và làm cách nào; và tôi cứ chần chờ ở bên lề, không rõ mình sẽ phải làm việc gì.

    Đầu năm 1943, sau khi đậu kỳ thi thông qua Trường Đại học Nam Phi, tôi trở về Fort Hare dự lễ tốt nghiệp. Tôi phải vay mượn tiền của bạn bè để mua một bộ đồ vét đàng hoàng, cũng như mượn bộ áo chùng đen cho lễ ra trường. Anh họ của tôi, K.D. Matanzima, đã chở mẹ tôi và bà vợ góa của vị Nhiếp chánh đến dự lễ.

    Sau đó tôi về nhà anh K.D. trong vài ngày. Anh ta ta đã chọn con đường lãnh đạo theo truyền thống, và đang kế nghiệp trở thành người đứng đầu nơi quê hương của anh. Thời gian tôi ở đây, anh ta thúc giục tôi trở về quê phục vụ sau khi trở thành một luật sư. Anh ta nói "Tại sao anh lại trụ ở Johannesburg? Nơi đây người ta cần anh hơn ở đó."

    Đấy là một điểm hợp lý; bởi không có nhiều người Phi chuyên nghiệp ở quê tôi; và tôi bảo K.D rằng đề nghị của anh ta còn quá sớm. Nhưng từ trong tâm, tôi biết mình đang tiến về một sự ràng buộc khác hẳn. Qua tình bạn với Gaur và Walter, tôi đã bắt đầu thấy bổn phận của mình là phục vụ nhân dân Phi nói chung, chứ không phải chỉ cho một địa phương hay một bộ tộc riêng lẽ.

    Lễ ra trường ở Fort Hare mang lại cho tôi một khoảnh khắc cho hồi tưởng và suy tư. Điều đập vào tâm trí tôi mạnh nhất là sự tương phản giữa sự mặc định của tôi lúc trước và những kinh nghiệm thực tế của mình sau này. Tôi đã gạt bỏ điều giả định rằng người tốt nghiệp sẽ tự động trở thành lãnh đạo và rằng sự liên hệ của tôi với Hoàng gia Thembu bảo đảm cho tôi sự kính trọng. Một sự nghiệp thành công và mức lương bổng sung túc đã không còn là những mục tiêu sau cùng của tôi. Tôi nhận thấy mình bị lôi cuốn vào thế giới chính trị bỏi sự không hài lòng với những niềm tin cũ.

    Ở Johannesburg, tôi lao vào các lãnh vực mà tri giác phổ thông và kinh nghiệm thực tế được xem là quan trọng hơn trình độ học vấn cao. Thậm chí khi vừa đạt được tấm bằng, tôi nhận ra rằng khó có điều gì mình học ở nhà trường có vẻ thích đáng với môi trường mới. Ở trường, các thầy giáo tránh né những chủ đề như sự áp bức chủng tộc, tình trạng thiếu cơ hội cho người Phi cùng những luật lệ và quy định nhằm nô dịch người Da Đen. Nhưng trong cuộc sống ở Johannesburg, hàng ngày tôi đương đầu với những chuyện ấy. Không ai từng đề nghị tôi cách hành động nào để loại bỏ những xấu xa của thành kiến chủng tộc, và tôi phải học hỏi theo lối "thử làm và tìm lỗi".

    Khi trở lại Johannesburg, tôi nhập học trường đại học Witwatersrand (gọi tắt là Wits) để lấy bằng Cử nhân Luật, bước khởi đầu để trở thành một luật sư. Nơi đây tôi tiếp xúc với các sinh viên trạc tuổi mình người Da Trắng; chuyện này thật mới lạ cho họ cũng như cho tôi, bởi tôi là sinh viên người Phi duy nhất trong Khoa Luật. Những trường đại học "nói tiếng Anh" của Nam Phi là vườn ươm của các giá trị phóng khoáng, chẳng hạn như chấp nhận cho sinh viên người Da Đen vào học; mặc dù vậy, tôi chẳng bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoải mái ở đây. Chỉ một số rất ít người Da Trắng có cảm tình với tôi đã trở thành bạn và sau này là đồng nghiệp, nhưng đa số người Da Trắng ở Wits tỏ ra phân biệt màu da và không phóng khoáng. Chẳng hạn như họ luôn tìm cách tránh ngồi gần người Da Đen. Không ai dùng từ ngữ "bọn đen", sự thù nghịch của họ lặng lẽ hơn, nhưng tôi cảm thấy cũng vậy thôi.

    Một giáo sư luật, ông Hahlo, có quan điểm kỳ lạ về luật học khi nói về phụ nữ và người Phi. Ông ta cho rằng người của cả hai nhóm ấy không thể nào trở thành luật sư; bởi luật là một ngành khoa học xã hội, và phụ nữ lẫn người Phi không được rèn luyện đủ để thông thạo những phức tạp của luật. Có lần ông ta bảo tôi không nên ở Wits mà chỉ nên học lấy bằng qua trường hàm thụ UNISA. Dù bất đồng với quan điểm của ông, tôi chẳng làm gì nhiều để phản bác; và sức học của tôi với tư cách một sinh viên luật trở nên ảm đạm.

    Ở Wits, tôi gặp một số người chia xẻ với tôi những thăng trầm của cuộc đấu tranh giải phóng, và không có họ thì tôi đạt được chẳng bao nhiêu. Tôi đã gặp Joe Slovo và cô vợ tương lai của anh, Ruth First. Joe là một trong những người có đầu óc sâu sắc và bén nhọn nhất mà tôi từng tiếp xúc; anh ta theo cộng sản một cách nồng nhiệt. Còn Ruth có một nhân cách chan hòa và viết lách rất giỏi. Cả hai đều là con của người di dân Do Thái. Tôi bắt đầu tình bạn suốt đời với George Bizos và Bram Fischer. George, con của một di dân Hy Lạp, một người kết hợp giữa bản chất thiện cảm với đầu óc sắc sảo. Bram, một giảng viên bán thời gian, là con dòng của một gia đình Phi danh giá; mặc dù có thể đứng vào hàng ngũ chính quyền cai trị nhưng anh ta lại trở thành một trong những người bạn can đảm và vững chắc nhất trong cuộc tranh đấu cho tự do. Tôi cũng làm bạn với Tony O'Dowd và Harold Wolpe, cả hai đều cực đoan về chính trị và gia nhập Đảng Cộng sản; và Jules Browde cùng vợ của anh, cả hai theo phái tự do trong công cuộc chống chế độ kỳ thị chủng tộc (anti-apartheid).

    Tôi cũng có những bạn thân là sinh viên Ấn Độ như Ismail Meer, J.N. Singh, Ahmed Bhoola, và Ramlal Bhoolia. Chúng tôi thường tụ lại ở nhà của Ismail vốn trở thành tổng hành dinh của những chiến sĩ trẻ cho tự do.

    Wits mở ra cho tôi một thế giới mới, một thế giới của những ý tưởng, những niềm tin và tranh luận chính trị, một thế giới mà người ta say đắm về chính trị. Tôi đứng trong hàng ngũ những trí thức cùng một thế hệ người Da Trắng và Ấn Độ, những thanh niên sẽ tạo ra đội tiền phong cho một phong trào chính trị quan trọng nhất của vài năm tới đây. Lần đầu tiên tôi khám phá rằng những người cùng lớp tuổi với tôi vững vàng đồng hành với cuộc đấu tranh giải phóng. Mặc dù có những đặc quyền tương đối, họ sẵn sàng hy sinh bản thân cho chính nghĩa của kẻ bị áp bức.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi