Dương Danh Huy - Hoàng Sa, Trường Sa: pháp lý và chính trị

  • Bởi Hồ Gươm
    10/02/2014
    7 phản hồi

    Dương Danh Huy

    Trong một bài trên BBC, TS Trần Công Trục phản biện ý kiến Việt Nam cần “[c]hính thức tuyên bố hủy bỏ công hàm do cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958”. Mặc dù trong một bài khác trên BBC tôi có cùng kết luận với TS Trần Công Trục, tôi cho rằng một số lập luận khác của TS Trần Công Trục là chưa đủ để biện luận cho chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trước Tòa hay dư luận luật học.

    Thủ tướng VNDCCH có thẩm quyền không?

    Lập luận “Các Hiệp ước, Hiệp định này phải được Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất phê chuẩn theo thủ tục pháp lý rất chặt chẽ mới có hiệu lực thi hành ... các tuyên bố, các văn bản của một nhân vật nào đó, dù là những quan chức nhà nước cao nhất, có nội dung về biên giới lãnh thổ đều không có giá trị pháp lý tuyệt đối trong quan hệ quốc tế” dường như có ý cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) chưa được Quốc hội phê chuẩn cho nên không có đủ giá trị pháp lý.

    Trong phiên tòa xử tranh chấp Đông Greenland, Na Uy cho rằng Ngoại trưởng Na Uy Nils Claus Ihlen đã không có thẩm quyền khi nói với Bộ trưởng Đan Mạch rằng kế hoạch của Đan Mạch về chủ quyền Đan Mạch trên toàn bộ Greenland sẽ không gặp khó khăn gì từ Na Uy, và theo luật Na Uy thì Quốc hội mới có thẩm quyền. Nhưng Tòa đã bác bỏ lập luận này, với lý do trong luật quốc tế Ngoại trưởng có thẩm quyền để đại diện cho quốc gia trong vấn đề lãnh thổ.

    Như vậy, lập luận “Quốc hội chưa phê chuẩn” chắc chắn sẽ bị bác bỏ, vì trong luật quốc tế Thủ tướng cũng là người có thẩm quyền để đại diện cho quốc gia trong vấn đề lãnh thổ.

    Hướng lập luận “TT Phạm Văn Đồng không có thẩm quyền” là đúng, nhưng có lẽ sẽ phải dựa trên lập luận lúc đó Hoàng Sa, Trường Sa không nằm dưới thẩm quyền lãnh thổ của VNDCCH, mà dưới thẩm quyền của một quốc gia Việt khác. “Quốc gia” ở đây là khái niệm pháp lý được định nghĩa trong Công ước Montevideo 1933 là một chủ thể có lãnh thổ, dân cư, chính phủ và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác. Quốc gia là khác với Tổ quốc, đất nước, nhà nước hay chính phủ.

    Không công nhận, nhưng lại không bảo lưu

    Lập luận “[CH PVĐ] chỉ ủng hộ và thừa nhận phạm vi lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc vừa tuyên bố, không có chữ nào nhắc đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ...” khó có thể biện luận đầy đủ cho chủ quyền Việt Nam.

    Đúng là tuyên bố 5/9/1958 của Trung Quốc có đưa ra ba nguyên tắc chính: (1) lãnh hải 12 hải lý, (2) đường cơ sở thẳng và nội thủy cho Hoa Lục và các đảo gần bờ, (3) tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải phải tuân thủ luật Trung Quốc, tàu thuyền máy bay quân sự nước ngoài vào lãnh hải phải xin phép. Nhưng tuyên bố đó cũng ghi rằng nguyên tắc thứ nhất được áp dụng cho “tất cả lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm ... Hoàng Sa, ... Trường Sa và các đảo khác của Trung Quốc”, và nguyên tắc thứ nhì và ba được áp dụng cho “...Hoàng Sa, ...Trường Sa và các đảo khác của Trung Quốc.”

    Công Hàm Phạm Văn Đồng ghi “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.” CH PVĐ tuy không nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa nhưng đã ghi rằng CP VNDCCH ghi nhận và tán thành như trên mà không bảo lưu gì về hai quần đảo đó.

    Có thể dựa vào “không nhắc đến” để biện luận “không công nhận”, và như vậy là cần thiết, nhưng không đủ. Lý do là sự không bảo lưu trên có nghĩa VNDCCH đã không khẳng định chủ quyền Việt trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn vì từ 1954 đến 1976 VNDCCH đã không khẳng định chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Theo luật quốc tế, nổi bật nhất là theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp đảo Pedra Branca, nếu trong một thời gian dài mình không khẳng định chủ quyền trong khi nước khác đòi chủ quyền thì mình có thể mất.

    Trong kịch bản giả tưởng chính phủ VNDCCH đã là đại diện pháp lý cho toàn Việt Nam, với hành vi của VNDCCH, Việt Nam sẽ khó thắng cuộc tranh biện pháp lý. Điều làm cho Việt Nam thua trong kịch bản này sẽ không ở việc công nhận hay không công nhận, mà ở việc không khẳng định chủ quyền của mình trong khi nước khác đòi chủ quyền.

    Một trong những phương hướng lập luận cho Việt Nam là chứng minh rằng trong giai đoạn 1954-1975 đã có một quốc gia Việt khác với VNDCCH duy trì chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

    Chủ quyền Việt đã được một quốc gia duy trì?

    Lập luận chính thức của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của VNCH. Nhưng trong luật quốc tế các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ phải là do đại diện cho một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý. Vì vậy, để cho các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của chính quyền VNCH có giá trị pháp lý, lúc đó chính quyền đó phải là đại diện pháp lý cho một quốc gia.

    Do đó, và lưu ý đến thực tế, để cho các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của VNCH có giá trị pháp lý, cần vận dụng quan điểm cho rằng từ 1956 đến 1976 có hai quốc gia Việt trên một đất nước Việt Nam, mỗi quốc gia một bên vĩ tuyến 17. Thêm vào đó, cần vận dụng quan điểm cho rằng từ 1956 đến 30/4/1975 chính phủ VNCH là đại diện pháp lý của quốc gia phía Nam, và sau 30/4/1975 CP CMLT CHMNVN là đại diện pháp lý của quốc gia đó cho đến khi Việt Nam thống nhất năm 1976.

    Lập luận “... theo Hiệp định quốc tế Geneva 1954 bàn về vấn đề Đông Dương ... Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể chính trị, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được quốc tế công nhận. Vì vậy, Việt Nam Cộng Hòa là đại diện cho nhà nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam để quản lý và thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ...” đi theo hướng cần thiết: “VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNCH có”, nhưng nó có đi xa đủ và và nó có mạnh đủ chưa?

    Theo Hiệp định Geneva, chính quyền VNDCCH quản lý miền Bắc, và Liên Hiệp Pháp quản lý miền Nam. Vấn đề là “quản lý” có nghĩa gì? Nó chỉ có nghĩa quản lý dân sự nội địa bên trong duy nhất một quốc gia Việt, hay nó bao hàm cả thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế?

    Nếu chỉ là trường hợp thứ nhất thì khó thể cho rằng theo Hiệp định Geneva chính quyền VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và chính quyền VNCH có. Trường hợp này sẽ có nhiều rủi ro cho Việt Nam trước Tòa và dư luận luật học.
    Nếu là trường hợp thứ nhì, thí dụ như sau 1954 hay 1956 sự quản lý được quy định trong Hiệp định Geneva đã tiến hóa để bao hàm cả thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế, thì chính quyền VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và chính quyền VNCH có. Đó là điều cần thiết cho lập luận về Hoàng Sa và Trường Sa.

    Nhưng trong luật quốc tế thì “có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế”“là một quốc gia” đi đôi với nhau. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.

    Lãnh vực nhạy cảm?

    Dễ thấy vì sao hai quan điểm trên dễ bị cho là “nhạy cảm”, thậm chí là “phản động”. Thậm chí còn có thể có những chuyện chụp mũ kiểu "Anh nói có 2 quốc gia và chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý. Vậy là anh muốn khôi phục VNCH, anh là phản động, anh muốn chia đôi đất nước lần nữa." Nhưng nếu cho rằng trước 1976 và 1975 có hai quốc gia, hay cho rằng trước 30/4/1975 chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý của một quốc gia thì đó chỉ là một nhận định về quá khứ, không có nghĩa muốn chia đôi đất nước đã thống nhất năm 1976, và không có nghĩa muốn khôi phục VNCH.

    Mặt khác, nếu cho rằng VNDCCH và CHMNVN đã thống nhất một cách hợp pháp thành CHXHCNVN năm 1976, và do đó CHXHCNVN đã thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, thì dễ bị cho là “thân Cộng”, thậm chí là “biện minh cho CS xâm chiếm miền Nam”, nhưng đó cũng là chụp mũ.

    Thật ra khi VNDCCH và CHMNVN còn tồn tại thì quan điểm chính thức của hai chính thể đó là có hai quốc gia trên đất nước Việt Nam, mỗi quốc gia một bên vĩ tuyến 17. Quan điểm đó cũng bao hàm quan điểm trước 30/4/1975 có hai quốc gia. Nhưng ngày nay quan điểm đó bị lãng quên nhiều và truyền thông Việt Nam ít dám đụng đến nó.

    Về quan điểm cho rằng từ 1956 đến 30/4/1975 chính phủ VNCH là đại diện pháp lý của quốc gia phía Nam, có thể phi nhạy cảm hóa nó phần nào bằng cách lưu ý rằng đại diện của một quốc gia trong luật quốc tế là một vấn đề trong phạm trù luật quốc tế tương đối độc lập với các vấn đề chính trị, chính nghĩa của các chính quyền VNCH, chính quyền VNDCCH và chính quyền CHMNVN.

    Nếu không phi nhạy cảm hóa việc thảo luận giữa người Việt và việc trình bày với quốc tế về những vấn đề quốc gia, đại diện pháp lý của quốc gia, thống nhất đất nước, thì sẽ bất lợi cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền.

    Từ trước đến nay, người Việt thường nhận định về cuộc chiến 1954-1975 từ những góc độ ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa của bên mình. Phải chăng nhu cầu tranh biện pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa đang đòi hỏi người Việt phải đi đến một nhận định về lịch sử có thêm tính chất luật quốc tế và bớt bị kẹt trong các lề ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa?

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    visitor viết:
    Sau đó CQ CHXHCNVN cần tuyên bố công khai kế thừa các hiệp định VNCH đã kí với nước ngoài.

    Tôi nghĩ điều trên là không cần thiết.

    Vấn đề CHXHCNVN thừa kế các hiệp định VNCH đã ký với nước ngoài đã được quy định trong luật quốc tế. Nếu có tranh cãi với các bên kia trong HĐ mà không giải quyết bằng đàm phán được thì đã có luật quốc tế.

    Thứ nhì các hiệp định VNCH đã ký với nước ngoài là 1 chuyện, chủ quyền lãnh thổ là một chuyện khác, mà VNCH cũng không ký HĐ với các nước trong tranh chấp về HSTS.

    Vì vậy, không cần phải tuyên bố thừa kế các hiệp định VNCH đã ký với nước ngoài thì mới có thể thừa kế HSTS.

    visitor viết:
    Hồ Gươm viết:

    2. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.

    Để giải quyết vấn đề chủ quyền VN tại HS và TS, tôi nghĩ phải nhấn mạnh vào điểm 2. Lúc này không phải là lúc bàn CQ nào (VNDCCH, CHMNVN hay VNCH) là chính danh mà là lúc nên bàn xem VNCH có thực sự đạt tiêu chuẩn một quốc gia độc lập được luật pháp quốc tế công nhận hay không. Tôi nghĩ là có VNCH đã từng được rất nhiều nước công nhận. HS và TS được quản lí bởi một quốc gia có chủ quyền là VNCH. Sau đó CQ CHXHCNVN cần tuyên bố công khai kế thừa các hiệp định VNCH đã kí với nước ngoài. (Thực sự CHXHCNVN đã làm điều này nhưng không công bố rộng rãi đó là khi CHXHCNVN đồng ý trả nợ cho VNCH).

    never. Làm chiện nì: "Sau đó CQ CHXHCNVN cần tuyên bố công khai kế thừa các hiệp định VNCH đã kí với nước ngoài".

    Nà nhà lước ta tự vả vào mặt mình, tự bôi nhọ "chính thể", làm lu mờ vẻ chói loà của cái hào quang đánh cho "mỹ cút nguỵ nhào". Kỷ niệm 40 năm Hoàng Sa là một hình thức công nhận mà còn éo dám thì dám làm cái rì!

    Hồ Gươm viết:
    Tác giả Dương Danh Huy có gửi 3 câu hỏi đến Dân Luận để tham khảo ý kiến mọi người, nội dung như sau:

    Xin hỏi bạn đọc Dân Luận nghĩ sao về 3 mệnh đề sau trong bài:

    1. Trong kịch bản giả tưởng chính phủ VNDCCH đã là đại diện pháp lý cho toàn Việt Nam, với hành vi của VNDCCH, Việt Nam sẽ khó thắng cuộc tranh biện pháp lý.

    2. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.

    3. Từ trước đến nay, người Việt thường nhận định về cuộc chiến 1954-1975 từ những góc độ ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa của bên mình. Phải chăng nhu cầu tranh biện pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa đang đòi hỏi người Việt phải đi đến một nhận định về lịch sử có thêm tính chất luật quốc tế và bớt bị kẹt trong các lề ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa?

    Để giải quyết vấn đề chủ quyền VN tại HS và TS, tôi nghĩ phải nhấn mạnh vào điểm 2. Lúc này không phải là lúc bàn CQ nào (VNDCCH, CHMNVN hay VNCH) là chính danh mà là lúc nên bàn xem VNCH có thực sự đạt tiêu chuẩn một quốc gia độc lập được luật pháp quốc tế công nhận hay không. Tôi nghĩ là có VNCH đã từng được rất nhiều nước công nhận. HS và TS được quản lí bởi một quốc gia có chủ quyền là VNCH. Sau đó CQ CHXHCNVN cần tuyên bố công khai kế thừa các hiệp định VNCH đã kí với nước ngoài. (Thực sự CHXHCNVN đã làm điều này nhưng không công bố rộng rãi đó là khi CHXHCNVN đồng ý trả nợ cho VNCH).

    Cảm ơn bác Hồ Gươm đã gửi câu hỏi, và cảm ơn bác Phiên Ngung và Nguyễn Jung đã bàn.

    Trong các lãnh vực chính trị, chính nghĩa, luân lý, vv, thì có thể có ích khi bàn về chính thể X có đáng được gọi là chính quyền không.

    Còn trong vấn đề chủ quyền đối với HS, TS thì sẽ vô ích nếu bàn về điều đó.

    Lý do là trong tranh chấp lãnh thổ thì luật quốc tế chỉ quan tâm về quốc gia hay không quốc gia, đại diện cho quốc gia hay không đại diện.

    Mà "đại diện cho quốc gia" thì nhiều khi không dựa trên chính nghĩa. Khờ Me Đỏ, CQ Saddam Hussein, CQ Gaddafi cũng đã từng được thế giới cho là đại diện của quốc gia.

    Hồ Gươm viết:
    Tác giả Dương Danh Huy có gửi 3 câu hỏi đến Dân Luận để tham khảo ý kiến mọi người, nội dung như sau:

    Xin hỏi bạn đọc Dân Luận nghĩ sao về 3 mệnh đề sau trong bài:

    1. Trong kịch bản giả tưởng chính phủ VNDCCH đã là đại diện pháp lý cho toàn Việt Nam, với hành vi của VNDCCH, Việt Nam sẽ khó thắng cuộc tranh biện pháp lý.

    2. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.

    3. Từ trước đến nay, người Việt thường nhận định về cuộc chiến 1954-1975 từ những góc độ ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa của bên mình. Phải chăng nhu cầu tranh biện pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa đang đòi hỏi người Việt phải đi đến một nhận định về lịch sử có thêm tính chất luật quốc tế và bớt bị kẹt trong các lề ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa?

    Về mặt pháp lý, Chính phủ VNDCCH chưa bao giờ đại diện hay cai quản toàn lãnh thổ Việt nam. Khi mới thành lập, chính phủ VNDCCH thực chất chỉ đại diện cho một số tỉnh miền Bắc và Trung phần Việt nam. Miền Nam vẫn là một khu tự trị với chính phủ Nam kỳ ra đời sau đó để tách biệt khỏi Việt nam. Về mặt chính nghĩa, ban đầu, do nhu cầu chính danh, Việt minh đã phải nhượng bộ các dảng phái quốc gia bằng cách dành một số ghế đại biểu cho họ mặc dầu họ đã tầy chay cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên. Họ còn được Việt minh nhường cho một số bộ quan trọng trong nội các của chính phủ mới lập. Giá như không có những mưu mô chính trị cục bộ và giai đoạn của Việt minh, chính phủ VNDCCH có thể sẽ dần dần kiểm soát toàn cõi VN và ngăn chận và/hay đánh bại mưu toan tái chiếm thuộc địa của Pháp. Bấy giờ, chắc chắn chính phủ VNDCCH sẽ là đại diện chính thức, hợp pháp và chính nghĩa của dân tộc VN. Tiếc là sự thể đã không như thế. Việt minh ký nhượng hiệp ước với Pháp để đàn áp đảng phái không CS, dẫn đến sự ly tán của chính phủ liên hiệp (có chính nghĩa) để VNDCCH sau đó trở thành chính phủ của Việt Minh. Sự ra đời của Quốc gia Việt nam với sự lãnh đạo của quốc trưởng Bảo đại càng ngày càng có tư cách pháp lý với sự công nhận của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội nghị San Fransico 1953 là một thí dụ về tính hợp pháp của Quốc gia Việt nam do Bảo đại lãnh đạo.

    Từ khi thành lập vào năm 1947, chính phủ của Quốc gia Việt nam trở thành đại diện chính thức cho Việt nam trên các diễn đàn quốc tế trong khi đó chính phủ VNDCCH trở thành chính phủ của Việt Minh chỉ được Trung cộng công nhận sau khi Mao chiếm Hoa lục và thành lập nhà nước CHNDTH.

    Sau hiệp định Geneve, chính phủ VNDCCH được kiểm soát miền Bắc từ vĩ tuyến 17. Việt nam Cộng hoà thừa kế Quốc gia Việt nam trên các diễn đàn quốc tế và có tư cách quan sát viên với các văn phòng đại diện tại cơ chế Liên hiệp quốc. VNCH còn được hầu hết những quốc gia không CS thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao trong khi VNDCCH chỉ được những nước CS và những nước thiên tả công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Thực tế cho thấy, đối với thế giới, VNCH có tư cách pháp lý như là đại diện chính thức của Việt nam hơn là VNDCCH.

    Mặc dầu vậy, về mặt pháp lý, chính phủ VNDCCH cai quản và đại diện chính thức cho lãnh thổ phía bắc từ vĩ tuyến 17. Chính phủ này không cai trị, kiểm soát hay đại diện cho miền Nam từ vĩ tuyến 17. Ngay cả khi muốn chiếm trọn phần đất này, CNDCCH tức CSVN đã phải nguỵ tạo một thực thể chính trị khác là MTDTGPMNVN để thực hiện âm mưu thôn tính này.

    Hẵn nhiên về phía CSVN, một mặt vẫn công khai tuyên bố chính nghĩa, chính danh và hợp pháp của mình là đại diện duy nhất mang tính lịch sử đối với toàn cõi VN, họ vẫn phải dùng các thủ đoạn chính trị để thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam.

    Vấn đề chủ quyền Hoàng sa-Trường sa và Biển Đông, theo tôi có hai vấn đề chínnh:
    1. Công hàm 1958 đồng ý với công bố lãnh hải của Tàu cộng.
    2. Phản đối của hai phe tranh quyền tại miền Nam về việc Tàu xâm lăng Hoàng sa 1974.

    Mặc dầu không cai quản và Hoàng sa nằm ngoài lãnh thổ VNDCCH, công hàm 1958 mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền lãnh thổ của Tàu trên Hoàng sa. Chính VNDCCH là một nhân tố hợp thành nhà nước CHXHCNVN. Nếu CHMNVN cũng không lên án Tàu xâm lăng lãnh thổ mình, thì với một nhà nước bao gồm hai thực thể kết hợp, một nhìn nhận chủ quyền của Tàu trên lãnh thổ của mình và một không phản đối Tàu xâm lăng lãnh thổ mình thì đấy là nhược điểm mà VN phải giải quyết trước khi tiến hành kiện tụng để đòi lại Hoàng sa.

    Phiên Ngung viết:
    Về mặt pháp lý, Chính phủ VNDCCH chưa bao giờ đại diện hay cai quản tàn lãnh thổ Việt nam. Khi mới thành lập, chính phủ VNDCCH thực chất chỉ đại diện cho một số tỉnh miền Bắc và Trung phần Việt nam. Miền vẫn là một khu tự trị với chính phủ Nam kỳ ra đời sau đó để tách biệt khỏi Việt nam. Về mặt chính nghĩa, ban đầu, do nhu cầu chính danh, Việt minh đã phải nhượng bộ các dảng phái quốc gia bằng cách dành một số ghế đại biểu cho họ mặc dầu họ đã tầy chay cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên. Họ còn được Việt minh nhường cho một số bộ quan trọng trong nội các của chính phủ mới lập. Giá như không có những mưu mô chính trị cục bộ và giai đoạn của Việt minh, chính phủ VNDCCH có thể sẽ dần dần kiểm soát toàn cõi VN và ngăn chận hay đánh bại mưu toan tái chiếm thuộc địa của Pháp. Bấy giờ, chắc chắn chính phủ VNDCCH sẽ là đại diện chính thức, hợp pháp và chính nghĩa của dân tộc VN. Tiếc là sự thể đã không như thế. Việt minh ký nhượng hiệp ước với Pháp để đàn áp đảng phái không CS, dẫn đến sự ly tán của chính phủ liên hiệp (có chính nghĩa) VNDCCH để sau đó trở thành chính phủ của Việt minh. Sự ra đời của Quốc gia Việt nam với sự lãnh đạo của quốc trưởng Bảo đại càng ngày càng có tư cách pháp lý với sự công nhận của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội nghị San Fransico 1953 là một thí dụ về tính hợp pháp của Quốc gia Việt nam do Bảo đại lãnh đạo.

    Từ khi thành lập vào năm 1947, chính phủ của Quốc gia Việt nam trở thành đại diện chính thức cho Việt nam trên các diễn đàn quốc tế trong khi đó chính phủ VNDCCH trở thành chính phủ của Việt minh chỉ được Trung cộng công nhận sau khi Mao chiếm Hoa lục và thành lập nhà nước CHNDTH.

    Sau hiệp định Geneve, chính phủ VNDCCH được kiểm soát miền Bắc từ vĩ tuyến 17. Việt nam Cộng hoà thừa kế Quốc gia Việt nam trên các diễn đàn quốc tế và có tư cách quan sát viên với các văn phòng đại diện tại cơ chế Liên hiệp quốc. VNCH còn được hầu hết những quốc gia không CS thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao trong khi VNDCCH chỉ được những nước CS và những nước thiên tả công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Thực tế cho thấy, đối với thế giới, VNCH có tư cách pháp lý như là đại diện chính thức của Việt nam hơn là VNDCCH.

    Mặc dầu vậy, về mặt pháp lý, chính phủ VNDCCH cai quản và đại diện chính thức cho lãnh thổ phía bắc từ vĩ tuyến 17. Chính phủ này không cai trị, kiểm soát hay đại diện cho miền Nam từ vĩ tuyến 17. Ngay cả khi muốn chiếm trọn phần đất này, CNDCCH tức CSVN đã phải nguỵ tạo một thực thể khác là MTDTGPMNVN để thực hiện âm mưu thôn tính này.

    Hẵn nhiên về CSVN, một mặt vẫn công khai tuyên bố chính nghĩa, chính danh và hợp pháp của mình là đại diện duy nhất mang tính lịch sử đối với toàn cõi VN, họ vẫn phải dùng các thủ đoạn chính trị để thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam.

    Vấn đề chủ quyền Hoàng sa-Trường sa và Biển Đông, theo tôi có hai vấn đề chínnh:
    1. Công hàm 1958 đồng ý với công bố lãnh hải của Tàu cộng.
    2. Phản đối của hai phe tranh quyền tại miền Nam về việc Tàu xâm lăng Hoàng sa 1974.

    Mặc dầu không cai quản và Hoàng sa nằm ngoài lãnh thổ VNDCCH, công hàm 1958 mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền lãnh thổ của Tàu trên Hoàng sa. Chính VNDCCH là một nhân tố hơp thành nhà nước CHXHCNVN. Nếu CHMNVN cũng không lên án Tàu xâm lăng lãnh thổ mình, một nhà nước bao gồm hai thực thể kết hợp, một nhìn nhận chủ quyền của Tàu trên lãnh thổ của mình và một không phản đối Tàu xâm lăng lãnh thổ mình thì đấy là nhược điểm mà VN phải giải quyết trước khi tiến hành kiện tụng để đòi lại Hoàng sa.

    Tôi đồng ý với lý luận này của bác Phiên Ngung. Bổ túc thêm suy nghĩ của tôi: Tôi chưa bao giờ gọi Nhà nước VNCS bây giờ là chính quyền (quyền lực chính thức, chính danh) vì:

    1. Thực tế, quyền lực họ có trên toàn cõi VN hiện tại không do bầu cử, do dân lựa chọn mà do bạo lực cưỡng chiếm, áp đặt. Vì không chính danh nên nhà nước CHXHCN VN khó ăn nói với Quốc Tế khi công khai thưa kiện và cũng mắc nghẹn vì công hàm của cố TT Phạm Văn Đồng của chính quyền nước VNDCCH được TG công nhận

    2. Để phân biệt với một quyền lực, một chính thể đã có, đã được TG công nhận: Việt Nam Cộng Hoà. Giống như ta phân biệt 2 chính thể của nước Trung Hoa (Trung Cộng, Trung Hoa Quốc Gia).

    3. Như bác SJ đã viết trong một phản biện, được DL đưa lên làm bài chính: Nếu chính quyền nước VNDCCH không dồn toàn bộ lực lượng tấn công VNCH (để thống nhất đất nước bằng bạo lực) sau Hiệp Định Paris, chấp nhận HĐ này như một giải pháp tạm thời thì VNCH vẫn có thể còn tồn tại. Và cuộc chiến năm HS vào tháng Giêng năm 1974, dù thua (tạm thời)cũng đã và vẫn chứng minh chủ quyền của VN.

    4. Nếu VN được thống nhất bằng con đường Hoà Bình như Đức, thì chính quyền do dân bầu ra sau khi thống nhất (bằng con đường hoà bình) sẽ chính danh khi đưa tranh chấp HS ra toà án QT kiện.

    5. Tôi nghĩ nhà nước VNCS cũng hiểu được điều này, nên họ né tránh việc đưa HS-TS ra kiện.

    Nguyễn Jung

    Tác giả Dương Danh Huy có gửi 3 câu hỏi đến Dân Luận để tham khảo ý kiến mọi người, nội dung như sau:

    Xin hỏi bạn đọc Dân Luận nghĩ sao về 3 mệnh đề sau trong bài:

    1. Trong kịch bản giả tưởng chính phủ VNDCCH đã là đại diện pháp lý cho toàn Việt Nam, với hành vi của VNDCCH, Việt Nam sẽ khó thắng cuộc tranh biện pháp lý.

    2. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.

    3. Từ trước đến nay, người Việt thường nhận định về cuộc chiến 1954-1975 từ những góc độ ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa của bên mình. Phải chăng nhu cầu tranh biện pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa đang đòi hỏi người Việt phải đi đến một nhận định về lịch sử có thêm tính chất luật quốc tế và bớt bị kẹt trong các lề ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa?