Tuyên bố của Diễn đàn Xã hội Dân sự: Phản đối công an ngăn cản nhà báo Phạm Chí Dũng xuất cảnh

  • Bởi Admin
    03/02/2014
    1 phản hồi

    Phản đối việc công an thành phố Hồ Chí Minh ngăn cản Ts. Phạm Chí Dũng xuất cảnh

    Ngày 1-2-2014 Ts. Phạm Chí Dũng ra sân bay Tân Sơn Nhất để lên đường đi dự Hội thảo về nhân quyền và dân chủ, bên cạnh cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam tại Geneve theo lời mời của tổ chức UN-Watch đã bị công an thành phố Hồ Chí Minh ngăn cản không cho xuất cảnh.

    Hành động này của công an thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm nghiêm trọng Điều 23 của Hiến pháp vừa có hiệu lực từ 1-1-2014 mà theo đó “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”; đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại của công dân được ghi nhận tại điều 12 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1982; đã bôi nhọ danh dự của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế vì nó cho thấy Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam một thành viên vừa mới được bầu của Hội đồng nhân quyền của Liên Hiệp quốc đã trắng trợn vi phạm nhân quyền, vi phạm công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, vi phạm hiến pháp của chính mình.

    Biên bản số 166/BB-A72-TSN ngày 1-2-2014 đã viện đến đề nghị của Công an thành phố Hồ Chí Minh không cho Ts. Phạm Chí Dũng xuất cảnh dựa vào Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17-7-2007 của Chính phủ.

    Điều 21 của Nghị định 136/2007/NĐ-CP quy định: “Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

    1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

    2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.

    3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

    4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

    5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

    6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

    7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ”.

    Theo Điều 21 rõ ràng các điểm từ 1 đến 5 và điểm 7 không áp dụng được trong trường hợp này và chỉ có thể viện vào “lý do bảo vệ an ninh quốc gia” một nửa của điểm 6 mà thôi.

    Điểm 3 của Điều 12 của Công ước về quyền dân sự và chính trị nêu rõ các quyền này sẽ “không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận.”

    Điều 12 của Hiến pháp quy định “Nước cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam… tuân thủ Hiến chương Liên hiệp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…” Như thế, những sự hạn chế quyền tự do đi lại phải do luật định mà Nghị định 136/2007/NĐ-CP không phải là luật và không thể viện dẫn đến Nghị định này để cản trở Ts. Phạm Chí Dũng hay bất cứ công dân khác nào xuất cảnh.

    Ngay cả giả như có thể áp dụng Nghị định 136/2007/NĐ-CP thì hành động ngăn cản này cũng đã vi phạm thủ tục của chính Nghị định đó. Khoản 1 của Điều 22 Nghị định trên quy định thẩm quyền quyết định chưa cho công dân xuất cảnh như sau: chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án hay cơ quan thi hành án có thể quyết định chưa cho xuất cảnh theo các khoản 1,2 và 3 của Điều 21; Bộ trưởng và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định chưa cho xuất cảnh theo khoản 4 Điều 21; Bộ trưởng Bộ Y tế theo khoản 5; Bộ trưởng Bộ Công an theo khoản 6; và Thủ trưởng cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 7 của Điều 21 nêu trên.

    “Đề nghị của công an thành phố Hồ Chí Minh” như được viện dẫn trong biên bản 166/BB-A72-TSN (đã nêu trên) không phải là quyết định của công an thành phố Hồ Chí Minh (trong trường hợp này công an thành phố Hồ Chí Minh cũng chẳng có thẩm quyền ấy mà chỉ Bộ trưởng Bộ công an mới có thẩm quyền), thế nhưng người ký quyết định chưa cho xuất cảnh trong biên bản trên lại là thượng tá Phạm quốc Hùng, phó trưởng Đồn công an của khẩu Tân sơn Nhất. Như thế quyết định nêu trong biên bản 166/BB-A72-TSN là một quyết định hành chính hoàn toàn trái pháp luật.

    Vì những lý do trên Diễn đàn Xã hội Dân sự cực lực lên án công an thành phố Hồ Chí Minh đã phạm pháp trong việc cản trở Ts. Phạm Chí Dũng xuất cảnh và yêu cầu:

    Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ công an nghiêm trị những kẻ đã có hành vi phạm pháp đối với Ts Phạm Chí Dũng cũng như đã ngăn chặn xuất cảnh một cách trái pháp luật đối với một số người khác.

    Ts. Phạm Chí Dũng hoàn toàn có quyền kiện công an thành phố Hồ Chí Minh đã phạm pháp trong trường hợp này và trong trường hợp đó chúng tôi yêu cầu tòa án xử nghiêm minh.

    Ts. Phạm Chí Dũng hoàn toàn có quyền kiện Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra trước Hội đồng Nhân quyền (HRC) của Liên Hiệp Quốc về sự vi phạm này, tương tự như các vụ Peltonen kiện nhà nước Phần Lan (mã số 4922/92) hay vụ Celepli kiện nhà nước Thụy Điển (mã số 456/91) vv… và trong trường hợp này chúng tôi yêu cầu HRC xét xử nghiêm minh.

    Trong mọi trường hợp, Diễn đàn Xã hội Dân sự bày tỏ sự đoàn kết với Ts. Phạm Chí Dũng và kêu gọi tất cả mọi người ủng hộ Ts. Phạm Chí Dũng và mạnh mẽ lên án sự phạm pháp của công an thành phố Hồ Chí Minh, lên tiếng yêu cầu Chính phủ Việt Nam nghiêm trị những kẻ phạm pháp, tôn trọng công ước quốc tế, tôn trọng hiến pháp và có những biện pháp thích đáng để không xảy ra những vụ phạm pháp tương tự với mọi công dân Việt Nam.

    Ngày 2-2-2014

    Diễn đàn Xã hội Dân sự

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    >>>> Ts. Phạm Chí Dũng hoàn toàn có quyền kiện Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra trước Hội đồng Nhân quyền (HRC) của Liên Hiệp Quốc về sự vi phạm này, tương tự như các vụ Peltonen kiện nhà nước Phần Lan (mã số 4922/92) hay vụ Celepli kiện nhà nước Thụy Điển (mã số 456/91) vv… và trong trường hợp này chúng tôi yêu cầu HRC xét xử nghiêm minh. <<<<

    Ông Phạm ơi,

    Nếu ông thực sự tin vào "Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam", thực sự tin vào xã hội dân sự, thực sự tin vào "rule of law", tôi thấy ông nên nộp đơn kiện nhà cầm quyền và công an hiện nay ở Việt nam tại một toà án quốc tế nào đó.

    Từ trước đến nay, đã có nhiều trường hợp xâm phạm quyền của công dân quá rồi, nhưng chưa có một tiền lệ tư pháp công khai nào nhằm ngăn ngừa nhà cầm quyền, công an Việt nam tiếp tục công khai vi phạm quyền công dân của nhân dân.

    Đất nước này đang rất cần, đang khao khát một tiền lệ tư pháp như vậy.

    Trường hợp của ông gần như là tối ưu cho một tiền lệ như vậy. Đó là vì ông hãy còn trẻ, còn sức khoẻ để theo đuổi một vụ kiện như thế. Đó là vì ông có vẻ có kiến thức trong và ngoài nước, có tầm nhìn để hiểu được ý nghĩa của một tiền lệ như thế. Đó là vì ông có vẻ hiện đang có những quan hệ trong nước và ngoài nước gần như độc nhất vô nhị.

    Cái mà ông có lẽ thiếu là tiền bạc và kiến thức luật pháp chuyên môn để khởi động việc kiện. Nhưng liệu các tổ chức NGO, bè bạn, quan hệ trong và ngoài nước có ngoảnh mặt làm ngơ nếu ông thực sự muốn tạo ra một tiền lệ tư pháp chống lại những hành xử vi phạm luật từ nhà cầm quyền hiện nay?

    Nếu ông không kiện, nhà cầm quyền này, từ cấp cao nhất đến ngay cả những tay công an cấp thấp nhất, đã, đang và sẽ tiếp tục có tiền lệ để tiếp tục vi phạm quyền công dân, chẳng có gì thay đổi cả. 1000, 10000 hay một triệu bài tham luận lý thuyết, không hành động nữa cũng chẳng thay đổi gì cả. Trong hoàn cảnh của ông và hiện nay, một vụ kiện dân sự là hành động ôn hoà, cương quyết và cụ thể mà ông có thể làm.

    Ông có quyền công dân để xuất cảnh và dự hội thảo hay không? Ông có tin là quyền công dân của mình đã bị vi phạm hay không? Ông có dám đứng dậy để tự bảo vệ, tranh đấu cho quyền công dân của chính mình hay không, chưa nói đến cho người khác? Nếu ông không dám tự bảo vệ, tự tranh đấu cho quyền công dân của chính mình, thì ai sẽ tranh đấu thay cho ông? Ông có tin vào chính nghĩa của xã hội dân sự hay không? Đó là những câu hỏi mà ông nên tự hỏi.