Phạm Đình Trọng - Hiến Pháp, Thông Điệp và Thực Tế

  • Bởi Khách
    20/01/2014
    2 phản hồi

    Phạm Đình Trọng

    1. Ngay ngày đầu năm 2014, một tình huống bi hài đã diễn ra trong đời sống xã hội Việt Nam.

    1.1.2014, ngày đầu tiên thực thi Hiến pháp 2013, một Hiến pháp lạm phát cao nhất những mĩ từ về Nhân dân. “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân... Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân...” (Điều 2). Nhân dân được mơn trớn, vuốt ve, đề cao đến mức tất cả danh từ chung “nhân dân” trong Hiếp pháp 2013 đều được đặc cách viết hoa.

    Điệp ngữ “quyền con người”, “quyền công dân” có tần số xuất hiện trong Hiến pháp 2013 cao chưa từng có. Điều 3 Hiến pháp vừa véo von hứa hẹn: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân...” Đến điều 14 Hiến pháp lại du dương trong điệp khúc: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

    Hiến pháp 2013 có hẳn một chương với 35 điều trong tổng số 120 điều dành cho quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Với những ngôn từ hào nhoáng, cấp tập, hùng hồn, và đầy vẻ trang nghiêm đó, tưởng như người dân Việt Nam đã được Nhà nước Cộng sản Việt Nam nghĩ lại, nhận ra lẽ phải, trả lại quyền đương nhiên, thông thường của người dân một nước độc lập, tự do, quyền làm chủ Nhà nước và xã hội.

    Nhưng điều bi hài ngay trong Hiến pháp 2013 là điều 3 Hiến pháp vừa thò cho người dân quyền con người, quyền công dân “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân...” thì liền vô hiệu ngay quyền đương nhiên, chính đáng đó của người dân bằng điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đó là sự trấn lột kiểu xã hội đen, dùng sức mạnh bạo lực của chuyên chính vô sản và dùng sức mạnh của số đông áp đảo nghị sĩ Cộng sản trong Quốc hội trấn lột quyền công dân của những dân đen.

    Hiến pháp trao cho đảng Cộng sản Việt Nam quyền đương nhiên lãnh đạo Nhà nước và xã hội như một định mệnh nghiệt ngã, phũ phàng, cay đắng của người dân Việt Nam. Người dân không còn được quyền bầu chọn ra lực lượng chính trị thay mặt mình quản lí, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

    Cho đảng Cộng sản Việt Nam quyền đương nhiên lãnh đạo Nhà nước và xã hội, không cần lá phiếu bầu chọn của người dân, Hiến pháp 2013 không những vô hiệu điều 3, điều 14 mà còn vô hiệu nhiều điều khác.

    Vô hiệu điều 27 “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.” Quyền bầu cử chỉ là quyền làm robot bỏ phiếu theo sự điều khiển của đảng. Quyền ứng cử càng nhảm nhí hơn khi những người ứng cử không trong ý đồ của đảng sẽ bị các vòng “hiệp thương” thẳng thừng loại bỏ.

    Vô hiệu điều 28: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.” Bằng lá phiếu, người dân bầu chọn người thay mặt mình quản lí Nhà nước và xã hội. Nhưng không cần lá phiếu bầu chọn của người dân, đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiễm nhiên lãnh đạo Nhà nước và xã hội rồi. Một đảng cầm quyền lì lợm như vậy thì hàng trăm, hàng ngàn kiến ghị của những tinh hoa đất nước chỉ là đàn gảy tai trâu, kiến nghị với hư vô!

    Vô hiệu toàn bộ tinh thần Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là bước tiến lớn lao của lịch sử phát triển loài người, là giá trị nhân văn cao cả mà nhiều Nhà nước trên thế giới đang thực tâm, nghiêm chỉnh thực hiện. Nhưng với điều 4 dành độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội cho đảng Cộng sản, ngôn từ “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” được đưa vào Hiến pháp 2013 chỉ còn là ngôn từ sáo rỗng để lừa gạt người dân.

    Dành cho người dân những từ ngữ lấp lánh vàng mã và sáo rỗng, dành cho đảng Cộng sản quyền cai trị vĩnh viễn, Hiến pháp 2013 còn tập trung toàn bộ của cải của đất nước, thâu tóm toàn bộ quyền lực và sức mạnh của Nhà nước vào tay đảng Cộng sản dù đảng đó đã là con nợ không còn khả năng chi trả món nợ khổng lồ của cải và máu xương vay của nhân dân, dù đảng đó đã bộc lộ sự tham lam vô độ, trước hết là tham lam quyền lực rồi dùng quyền lực đó tham nhũng của công và cướp bóc của dân. Cướp có môn bài, cướp được pháp luật Cộng sản bảo vệ diễn ra ngang nhiên, thường xuyên trên khắp đất nước là cướp mảnh đất máu, mồ hôi, nước mắt của người dân.

    Hiến pháp 2013 giao toàn bộ của nổi của chìm của đất nước cho Nhà nước Cộng sản chính là giao cho đảng Cộng sản: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53). Người dân sống trong nhà mình, sống trên đất nước mình mà thân phận mong manh, bấp bênh, vô định như sống tạm, sống nhờ trên mảnh đất của người khác. Mảnh đất họ sinh sống có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào, họ có thể bị đuổi ra khỏi nhà bất cứ lúc nào vì “Đất đai... thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí”.

    Với điều 51, Hiến pháp 2013 giao cho kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân là giao lưng vốn của đất nước, những đồng tiền mồ hôi xương máu của dân cho đảng Cộng sản nắm giữ để rồi lưng vốn đó cứ hao hụt, thất thoát hết ngàn tỉ đồng này đến ngàn tỉ đồng khác, là giao những ngành kinh doanh màu mỡ nhất, giầu mạnh nhất cho cán bộ của đảng Cộng sản, biến những cán bộ Cộng sản không biết kinh doanh thành những ông chủ tư bản đỏ để những ông chủ đó chỉ làm được ba việc: Tự xếp cho mình mức lương cao ngất ngưởng. Liên tục đòi tăng giá sản phẩm lên cao chất ngất để bóc lột người dân. Biến doanh nghiệp nhà nước thành sân sau của gia đình những ông chủ tư bản đỏ, những cán bộ cộng sản cấp cao.

    Sau chiến tranh chỉ hai mươi năm, Nhật Bản, Hàn Quốc đã vươn lên thành những con rồng, con hổ trong nền kinh tế thế giới. Chiến tranh kết thúc đã gần bốn mươi năm, người dân Việt Nam vẫn là những thân cò, thân vạc tối ngày lầm lũi kiếm sống ở đầu bãi mon sông, quanh năm quần quật làm thuê ở công trường, xưởng thợ mà vẫn nghèo đói, không đủ cơm ăn áo mặc, ốm đau không có tiền vào bệnh viện, con cái không có tiền đi học. Tết Giáp Ngọ 2014, cả nước có 63 tỉnh thì 15 tỉnh phải xin nhà nước cấp gạo cứu đói vì kinh tế nhà nước là chủ đạo đã biến hàng tỉ tỉ tiền lưng vốn xây dựng làm giầu đất nước thành những triệu triệu đô la trong két sắt nhà quan chức của đảng, thành những triệu triệu đô la trong vali các quan chức của đảng mang đi hối lộ chạy chức, chạy quyền, chạy tội, thành những triệu triệu đô la trong tài khoản của các quan chức của đảng trong ngân hàng nước ngoài.

    Sức mạnh vật chất của đất nước là của nổi của chìm, là nền kinh tế, Hiến pháp 2013 đã trao cho đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh bạo lực của đất nước là quân đội và công an, Hiến pháp 2013 cũng trao nốt cho đảng Cộng sản Việt Nam.

    Thực ra các chi bộ đảng Cộng sản Việt Nam đã quản lí chặt chẽ từng con người, từng phân đội nhỏ trong lực lượng quân đội và công an, đã nắm chắc phần hồn của quân đội và công an. Nay Hiến pháp 2013 lại trao nốt phần xác của quân đội và công an được gọi chung là lực lượng vũ trang nhân dân cho đảng Cộng sản: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước..., có nhiệm vụ bảo vệ... Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa...” (Điều 65) Tổ quốc thì trừu tượng. Nhân dân là 90 triệu người nhưng cũng không là ai cả, chỉ là số không vì không ai có chút quyền hành gì với quân đội, công an. Vì thế quân đội và công an chỉ còn thuộc về những đảng viên Cộng sản đang nắm quyền chỉ huy họ. Quân đội và công an chỉ còn là của đảng, chỉ còn trung thành với đảng Cộng sản mà thôi.

    Với sức mạnh chuyên chính vô sản, đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt điều 4 vào Hiến pháp 2013, đã vô hiệu hoàn toàn những giá trị dân chủ, quyền con người, quyền công dân ghi trong Hiến pháp, biến những từ ngữ về dân chủ, về quyền con người, quyền công dân chỉ còn là những ngôn từ sáo rỗng, những ngôn từ hào nhoáng vàng mã!

    2. Thật bi hài khi ngay ngày đầu tiên thực thi bản Hiến pháp phản dân chủ được che đậy dưới những ngôn từ hào nhoáng về dân chủ, về quyền con người, quyền công dân thì ông Thủ tướng cũng là đại biểu Quốc hội đã bỏ phiếu cho sự ra đời bản Hiến pháp đó lại có thêm Thông điệp năm mới với những từ ngữ về dân chủ, về quyền con người, quyền công dân còn lấp lánh hơn cả ngôn từ trong bản Hiến pháp:

    “Dân chủ là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã chỉ rõ Nước ta là một nước dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân. Đảng ta đã khẳng định Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dân chủ cũng là xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Từ chế độ nô lệ lên chế độ phong kiến và từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản là những bước tiến dài về dân chủ. Chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng phải ưu việt hơn về dân chủ và Đảng ta phải nắm chắc ngọn cờ dân chủ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cũng là nhằm phát huy tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân. Dân chủ sẽ phát huy khả năng sáng tạo của mỗi người, góp phần xóa bỏ mặc cảm, tăng cường gắn kết xã hội và khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

    ...

    Dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp “song sinh” trong một thể chế chính trị hiện đại. Cùng với bảo đảm quyền dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Đây là mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ cương. Người viết “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng và chủ yếu nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi quyết định quản lý của Nhà nước đều phải minh bạch.”

    Lời Thông điệp của ông Thủ tướng hùng hồn, lay động đến mức dấy lên cả một đợt sóng dư luận hưởng ứng Thông điệp Thủ tướng. Nhưng để hiểu giá trị thực của những ngôn từ như có cánh chấp chới bay trong Thông điệp của ông Thủ tướng xin đặt Thông điệp đó trong hai bối cảnh:

    Một. Bối cảnh xã hội của Thông điệp, xã hội của Hiến pháp 2013 với điều 4 đổ bóng trùm lên Hiến pháp, vô hiệu mọi quyền con người, quyền công dân của người dân làm cho những ngôn từ về dân chủ, quyền con người, quyền công dân chỉ còn là vỏ ngôn ngữ sáo rỗng thì những ngôn từ trong Thông điệp của ông Thủ tướng cũng chỉ là vỏ ngôn ngữ mà thôi.

    Hai. Bối cảnh phẩm cách người đưa ra Thông điệp, ông Thủ tướng. Phẩm cách đó đã hiện lên đầy đủ qua hai sự việc.

    a) Trong những năm cầm quyền, ông Nguyễn Tấn Dũng đã lập kỉ lục là một Thủ tướng kí nhiều quyết định, nghị định phản dân chủ nhất, tước đoạt nhiều nhất quyền con người, quyền công dân của người dân.

    - Nghị định 136/2006 cấm dân khiếu kiện đông người.

    - Nghị định 11 và 12/2008 cấm công nhân đình công đòi quyền sống.

    - Quyết định 97/2009QĐ-TTg ngăn cấm phản biện kịp thời, tự phát của những trí thức không ở trong những tổ chức do nhà nước cộng sản dựng lên.

    - Nghị định 72/2012NĐ-CP cấm công dân thực hiện quyền tự do thu nhận, tìm kiếm, chia sẻ thông tin.

    - Nghị định 208/2013NĐ-CP cho phép công cụ bạo lực Nhà nước được nổ súng bắn dân khi người dân tay không bị chính công cụ bạo lực Nhà nước gán cho tội chống người thi hành công vụ.

    Với các nghị định và quyết định trên, người dân Việt Nam thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không những bị tước đoạt hầu hết quyền con người, quyền công dân mà với nghị định 208/2013 đến quyền được sống của người dân cũng có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào.

    b) Được Quốc hội theo lệnh đảng Cộng sản bầu vào chức vụ Thủ tướng Chính phủ, trong giây phút đầu tiên ở cương vị người đứng đầu Chính phủ, ngay trên lễ đài Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trịnh trọng tuyên bố: “Với trách nhiệm Thủ tướng Chính phủ tôi sẽ kiên quyết, quyết liệt chống tham nhũng. Nếu không chống được tham nhũng tôi xin từ chức ngay”. Oái oăm thay, lời tuyên chiến với tham nhũng của ông Thủ tướng ở diễn đàn Quốc hội lại không phải là phát pháo lệnh tấn công tham nhũng mà lại như lời kêu gọi, lời khuyến khích, cổ vũ đám quan tham nhũng vì ngay sau đó tham nhũng nổi lên đông như quân Nguyên, cuồn cuộn như thác lũ tàn phá tan nát nền kinh tế đất nước, làm kiệt quệ lưng vốn quốc dân, trống rỗng kho bạc, nhiều công trình phải đình đốn, hàng trăm ngàn doanh nghiệp chết tức tưởi.

    Thời ông Dũng làm Thủ tướng, tham nhũng trong bộ máy nhà nước rộng khắp và tệ hại đến mức ông Tổng bí thư đảng Cộng sản cầm quyền phải thở dài thốt lên: “Nhìn đâu cũng thấy tham nhũng, sờ đâu cũng thấy tham nhũng”. Vậy mà ông Thủ tướng không thực hiện lời hứa long trọng trước quốc dân: Không chống được tham nhũng ông sẽ từ chức ngay!

    Phẩm cách ông Thủ tướng đó. Giá trị lời nói, tuyên bố, Thông điệp của ông Thủ tướng đó!

    3. Thông điệp của ông Thủ tướng: “Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm”. Không những pháp luật không cấm mà Hiến pháp 2013 còn cho người dân quyền biểu tình, quyền hội họp, lập hội, quyền tư do ngôn luận. Ngày chủ nhật 19.1.2013 người dân thủ đô Hà Nội gọi nhau đến tượng đài Lý Thái Tổ tưởng nhớ ngày này 40 năm trước giặc Tàu cướp toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tưởng nhớ những người con yêu của giống nòi Việt Nam đã nằm lại mãi mãi với Hoàng Sa, nhắc nhau nuôi chí giành lại mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên để lại. Cuộc tập hợp chính đáng, hợp pháp của lòng yêu nước đó đã bị lực lương đông đảo công cụ bạo lực của bộ máy hành pháp Nhà nước do ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu ngăn cản, chống phá, giải tán thô bạo. Người dự lễ tưởng niệm bị dồn đuổi, bắt bớ. Vòng hoa dâng lên hương hồn những chiến sĩ bỏ mình trong cuộc chiến đấu giữ biển Hoàng Sa bi lực lượng công cụ bạo lực nhà nước ném ra hè đường!

    Ôi thật bi hài cho Hiến pháp - Thông điệp – Thực tế ở đât nước Việt Nam thời đảng Cộng sản cầm quyền! Ôi thật cám cảnh cho người dân Việt Nam sống trong một thời như vậy!

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    NHững người bàn về hiến pháp thường là những người hiểu biết nhiều, đã lớn tuổi, có nhiều người đã sống quá nửa đời người dưới chế độ độc đảng độc tôn này. Thế nhưng hình như những người đó lại ít hiểu biết một điều quá đơn giản mà thường thấy ở những người ít học nhưng từng trải nhiều kinh nghiệm, người ít học rút ra một điều khái quát nhất: hiến pháp nói riêng và luật pháp của ta chỉ là thứ tô vẽ trên giấy mà thôi, còn trong thực tế, nhà nước này từ lớn đến bé có thi hành theo luật pháp đéo đâu. Có thi hành thì thường thi hành luật rừng.

    NÓi là dân có quyền nọ quyền kia, dân là chủ nhưng lại do Đảng lãnh đạo. Vậy đảng là cái đéo gì mà trên cả chủ? Nay thì chính các ngài lãnh đạo nói thẳng thừng ra Đảng chỉ là nhóm lợi ích.
    Hiến pháp này kéo lùi lịch sử, ngay trên văn bản cũng thấy rõ điều này chứ chưa nói gì đến đờì sống thực tế. Điều ngu xuẩn nhất là để hai ông Tây ngoại bang dị tộc ngồi trên hiến pháp (một văn bản quan trọng của dân tộc) của dân tộc mình.

    Vền những điều luật cụ thể thì điều nọ đéo mẹ điều kia, chỉ xem cái quy ước về ruộng đất thì rõ nhất“Đất đai... thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí”. Trên đời có cía gì của mình mà lại do người khác quản lý đâu, trừ trường hợp mình ủy quyền cho người ta.

    Đọc bài này thấy nhiều chỗ phân tích khá sâu, tôi chỉ thắc mắc không hiểu vì sao ông nhà văn này lại viết: "Tổ quốc thì trừu tượng." Tổ quốc ta là Việt Nam, có gì trừu tượng đâu, nếu ông muốn biết cụ thể hơn thì ông nên đọc định nghĩa của nhà văn nhà báo Xô viết Ilya Erebua (chắc ông đã đọc) thì rõ. Tổ quốc ta là mảnh đất từ Mục Nam quan đến Mũi cCaf Mâu cùng vùng trời vùng biển đảo trên lãnh thổ ta. Đứa nào xâm phạm là nó xâm phạm Tổ quốc ta. Phải thế không nhà văn Phạm Đình Trọng đánh kính?

    VÀI CẢM NGHĨ VỀ NHỮNG CUỘC ĐIỀU TRẦN NHÂN QUYỀN VỪA QUA TẠI HẠ VIỆN MỸ
    Trong những năm gần đây, nỗ lực vận động cho Nhân Quyền của đồng bào trong Nước ngày càng gia tăng, số lượng người tham gia ngày càng đông đảo, càng gồm nhiều thành phần xã hội hơn, và càng lúc càng thu hút sự chú ý của công luận. Sự vận động không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc nội, mà đang bắt đầu mở rộng, vươn lên tầm mức quốc tế. Các vụ điều trần mới đây tại Tiểu Ban Nhân Quyền của Hạ Viện Mỹ của người Việt từ trong Nước ra là một bằng chứng về điều đó. Tất nhiên, do tính chất phổ quát của Nhân Quyền, vấn đề ngoại vận là cần thiết, những cố gắng của các nhà hoạt động Nhân Quyền để vận động chính giới Mỹ, trong bước đầu, như vậy là đáng khâm phục và rất đáng được ủng hộ.
    Tuy nhiên vì do mới khởi sự, những nỗ lực ngoại vận đó của người trong Nước, cũng như những các cuộc vận động chính trị khác của người Mỹ gốc Việt, vẫn còn tỏ ra hạn hẹp, tổ chức yếu và thiếu tính phối hợp, có vẻ ít cân nhắc kỹ càng khi đưa ra các đề nghị.
    Hạn hẹp vì phần đông các kiến nghị, thỉnh nguyện, hay kêu gọi đều chỉ tập trung vào một số viên chức, hay cơ quan chính quyển của Mỹ; như gởi lên TT, cho các vị đại diện dân cử, đệ trình cho các tiểu ban của Quốc Hội, v.v... Tất nhiên những vận động như vậy là cần thiết và rất đáng khuyến khích. Nhưng chỉ có vậy thì chưa đủ và không rộng rãi. Bởi vì những hoạt động đó chỉ giới hạn lại trong phạm vi nhỏ đối tượng là các chính khách nhà nghề, và với tính cách rất chính thức (formality).
    Để một sự vận động chính trị đạt được kết quả mong muốn, sự vận động cần thiết phải mở rộng ra hơn nữa, vượt khỏi khuôn khổ hạn chế của các cơ quan chính quyền quen thuộc, với cho được tới công luận (American public opinions) để từ đó công luận Mỹ sẽ tác động lên các giới chức lập và hành pháp cùng quá trình làm chính sách của họ. Điểm muốn nêu lên ở đây là nỗ lực của giới vận động người Việt để tạo lập mối quan hệ với giới truyền thông của Mỹ, như là bước quan trọng trong công tác vận động. Có lẽ không ai không thấy vai trò quan trọng của truyền thông đối với đời sống chính trị ở Mỹ. Trong số các cộng đồng người thiểu số ở Mỹ, người Do Thái đứng hàng đầu về khả năng biết khai thác đến mức tối đa vai trò của giới truyền thông Mỹ nhằm phục vụ cho các yêu sách chính trị của họ và phục vụ cho lợi ích của nước Do Thái. Thiết nghĩ về mặt này, người Việt chúng ta nên học hỏi ở người Do Thái. Một buổi điều trần trước một tiểu ban nào đó ở Hạ hay Thượng Viện Mỹ sẽ chỉ có ảnh hưởng hạn chế, và phần nhiều sẽ không gây được tiếng vang lớn so với một cuộc phỏng vấn trên CNN, PBS, MSNBC, hay FoxNews... đôi khi mức ảnh hưởng không bằng một bài báo trên tờ New York Times, chẳng hạn.
    Một khiá cạnh khác nữa của sự vận động chính trị; đó là việc vận động hành lang (lobbying). Đây là lãnh vực thường đòi hỏi khả năng tài chánh, và với nó là năng lực huy động và tổ chức cao của những người vận động chính trị. Tiếc rằng, cộng đồng người Việt ở Mỹ, cho đến nay, dường như chưa có đại diện của mình chen chân vào trong lãnh vực này; trong số hơn 15,000 lobbyists có đăng ký hành nghề ở Washington DC, có vẻ như chưa có một người gốc Việt nào! Điều đó nói lên sự non yếu của Cộng đồng người Việt ở Mỹ và khả năng tổ chức rất kém của người Việt chúng ta nói chung, trong vận động chính trị. Ngoài yếu tố thời gian cư trú chưa đủ lâu, sự non yếu của chúng ta còn do ở sự thiếu quan tâm và hiểu biết về đời sống chính trị nước Mỹ của đa số người Mỹ gốc Việt. Điều đó thể hiện rõ trong nhiều trường hợp; vụ vận động chính phủ Mỹ can thiệp cho nhạc sĩ Việt Khang là một ví dụ. Trong vụ đó, những vị cầm đầu cuộc vận động đã vụng về đem số phiếu cử tri gốc Việt ra làm con bài đe doạ, quên rằng với thủ tục tuyển cử plurality- the winner takes all, và bang California là bang mà đảng Dân Chủ chiếm ưu thế tuyệt đối, thì số lượng vài trăm ngàn lá phiếu của cử tri Mỹ gốc Việt chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể đến cuộc bầu cử TT đang diễn ra cả. Bản thân sự đe doạ còn phơi bày sự thiếu lưu tâm đến khiá cạnh ngoại giao của vấn đề. Chưa kể là do thiếu am hiểu sinh hoạt chính trị ở thủ đô và do phối hợp kém, các vị lãnh đạo cuộc vận động đó đã có những ứng xử kém linh hoạt khi được mời vào White House, khiến cho cuộc vận động kết thúc một cách không mấy tốt đẹp như mong đợi, và nỗ lực can thiệp cho nhạc sĩ Việt Khang từ đó rơi vào quên lãng! Đó là một bài học về vận động chính trị đáng nghiền ngẫm để rút tiả kinh nghiệm về sau.
    Về mối quan hệ với truyền thông Mỹ và việc vận động hành lang QH, thì đây chính là những lãnh vực mà người Mỹ gốc Việt nên tích cực hoạt động để chứng minh cho nhiệt tình ủng hộ phong trào vận động Nhân Quyền-Dân Chủ ở trong Nước. Đây chính là thời cơ mà cộng đồng người Việt ở Mỹ nên nắm lấy để chứng tỏ vai trò hỗ trợ quốc nội của mình bằng cách thống nhất lại với nhau, thiết lập chẳng hạn như một Quỹ Nhân Quyền chung trên phạm vi liên bang, để giúp đỡ cho phong trào NQ trong Nước, tạo lập quan hệ với American Media và với các cơ sở lobbyists ở Washington DC, hoặc để trợ giúp tài chánh cho mọi nỗ lực ngoại vận NQ. Các cộng đồng người Việt ở Mỹ có thừa khả năng về nhân tài và vật lực để đóng vai trò tích cực hậu thuẩn của mình; chỉ cần thành tâm để hiện thực hoá những khẩu hiệu đã hô vang lâu nay thôi.
    Một khiá cạnh khác trong công tác ngoại vận, thiết nghĩ cũng cần quan tâm, là việc đề ra KHẨU HIỆU, hay các ĐỀ NGHỊ; một vấn đề hết sức quan trọng cho mọi cuộc vận động chính trị nói chung, cũng như cho công cuộc ngoại vận Nhân Quyền trong lúc này. Về mặt này, các cuộc điều trần vừa qua của các vị từ trong Nước ra đều đã đưa ra những đề nghị, hoặc thỉnh cầu, đặt trọng tâm vào hiệp ước TPP. Thiển nghĩ những đề nghị như vậy cần phải được soát xét lại để rút tiả cho những hoạt động tương tự trong tương lai.
    Ngoài những điểm tổng quát tôi đã nêu trong phản hồi trước, ở đây xin góp ý thêm vài điểm nữa. Trước hết, nội dung hiệp định TPP và chi tiết các điều khoản là do bên Hành pháp soạn thảo và ký kết với các nước tham gia; phiá lập pháp, tức QH Mỹ không can dự vào quá trình đó. Quốc hội Mỹ, cụ thể là Thượng Viện, chỉ có thẩm quyền ra Nghị quyết Phê chuẩn (resolution of ratification) để chấp thuận một hiệp ước sau khi bên Hành pháp đã ký với ngoại quốc. Với thẩm quyền đó, Thượng Viện chỉ có vai trò "Advice anh Counsel" thôi. (http://www.senate.gov/artandhistory/history/common/briefing/Treaties.htm) Còn Hạ Viện nói chung, và Uỷ Ban Nhân quyền của HV nói riêng, thì hoàn toàn không có thẩm quyền hiến định nào trong các vấn đề ký kết hiệp ước. Chính vì vậy mà cho đến nay nội dung các cuộc đàm phán TPP đều được giữ kín, tuy đã có nhiều than phiền từ các nhà lập pháp Mỹ, nhưng hầu hết các vị đều gần như mù tịt về nội dung của các cuộc đàm phán đó. Tóm lại, việc đem vấn đề TPP ra trước Tiểu Ban Nhân Quyền HV Mỹ là không đúng chỗ.
    Ngoài ra, khi đưa đề nghị, hoặc thỉnh nguyện dưới dạng đề nghị, chỉ nên nêu chung chung như một gợi ý, không nên đi vào cụ thể, không nên để người Mỹ có cảm tưởng là chúng ta đang " tell them what to do.", bởi làm như vậy không những là kém diplomatic mà còn dễ vấp phải những sai lầm mang tính lập trường và nguyên tắc nữa, như trình bày sau đây.
    Trước hết nói về TPP, điều đầu tiên là cần phải nắm tương đối vững TPP là gì, những mặt lợi-hại đối với nước VN về các mặt kinh tế, quốc phòng, chính trị, xã hội, văn hoá, kỹ thuật, v.v... để có thái độ và đề nghị thích hợp. Về TPP thì tôi đã có một ghi chép trước đây rồi, nhan đề là TPP và Quan Hệ Việt-Mỹ. Ở đây xin nhắc lại rất vắn tắt vài điều.
    Từ gốc độ của Mỹ, chính yếu, thì TPP là mặt trận kinh tế, nằm trong " Asia Pivot" hay " Rebalancing policy in Asia" của Mỹ, phối hợp với các nỗ lực chính trị, ngoại giao, và quân sự khác, nhằm giành lại tiên cơ với Trung Quốc ở Á Châu. Nhìn từ phiá các quốc gia thành viên khác, như Australia, Singapore, hay Việt Nam, và ngay cả Nhật sau này, thì ngoài các lợi ích kinh tế-kỹ thuật, còn là để có một đối trọng nhằm giảm thiểu áp lực của Trung Quốc. Nhưng TPP, đối với một số quốc gia thành viên, như VN chẳng hạn, là con dao hai lưỡi; có mặt lợi và cũng có những mặt bất lợi. Thời hạn và năng lực người viết không cho phép đi sâu phân tích chi tiết. Dưới đây chỉ xin nêu sơ lược vài ví dụ.
    Chẳng hạn, đối với nông nghiệp, TPP đòi hỏi phải chấm dứt mọi tài trợ (subsidy) cho nông nghiệp. Đòi hỏi đó gây bất lợi cho nông dân nhiều nước, trong đó Nhật là trường hợp điển hình. Qua suốt mấy thập niên, nông dân Nhật, do điều kiện điạ lý khắc nghiệt, tuy có trình độ kỹ thuật canh nông cao, đã phải nhận sự tài trợ của chính phủ để tồn tại trước sự cạnh tranh áp đảo của nông nghiệp Mỹ, Australia, Ấn Độ, Thái Lan, và nay thì cả của Trung Quốc. Việc gia nhập TPP, như vậy sẽ ảnh hưởng lâu dài đến đời sống của hàng chục triệu nông dân Nhật bản; những người mà lâu nay đã có cuộc sống an ổn với mức sống cao nhờ vào sự tài trợ và bảo hộ mậu dịch. Đó là lý do vì sao trong suốt thời gian qua nông dân Nhật đã biểu tình rầm rộ chống lại TPP, và chính phủ Nhật đã phải mất một thời gian lâu mới đạt đến quyết định xin tham gia TPP.
    Riêng đối với VN thì cũng vậy TPP sẽ mang lại nhiều lợi ích, nhưng đồng thời cũng sẽ tạo ra vô vàn khó khăn cho nhiều thành phần dân chúng trong Nước, và sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khác về văn hoá, xã hội. Lợi ích kinh tế do TPP mang lại cho các quốc gia thành viên được ước tính là sẽ rất lớn. Theo tính toán của Viện Peterson về Kinh tế Quốc tế thì sau khi vận hành, TPP có thể tạo ra một lợi tức đồng niên cho toàn thể các nước thành viên chừng 295 tỉ dollars, trong đó Mỹ sẽ được khoảng 78 tỉ dollars. Riêng Việt Nam thì cũng theo ước tính đó, TPP sẽ giúp gia tăng GDP gấp đôi vào năm 2025.
    Một lợi ích khác, rất lớn lao cho VN, là việc tham gia TPP sẽ giúp VN giảm thiểu được, ở một mức độ nào đó, áp lực kinh tế lớn lao đang ngày càng gia tăng của Trung Quốc, thể hiện ở mức khiếm khuyết mậu dịch hơn 15 tỉ dollars/ năm hiện nay. Điểm khác nữa, là với việc tham gia TPP, có hy vọng là VN sẽ được Mỹ giải toả việc cấm vận vũ khí; một yếu tố liên quan đến nền quốc phòng trong tương lai của VN.
    Về những bất lợi, hoặc các hậu quả của TPP đối với VN thì nhiều và phức tạp, chỉ xin nêu ở đây một vài điểm nhỏ. Trước hết là việc áp dụng nguyên tắc Yarn-Forwarded rules trong kỹ nghệ dệt và giày dép, là nguyên tắc buộc các thành viên TPP phải mua nguyên liệu của các thành viên khác , không được mua ở ngoài; trong trường hợp VN là phải mua nguyên liệu từ các hảng của Mỹ, không được mua từ Trung Quốc là nơi đã cung cấp nguyên liệu dệt và giày dép cho VN trong nhiều năm qua. Tất nhiên việc áp dụng nguyên tắc đó sẽ ảnh hưởng bất lợi, vì giá thành sẽ cao hơn, cho toàn ngành dệt và giày dép; chưa kể đến việc phải thay đổi một số quy trình sản xuất và nhập khẩu cùng với những chi phí đi kèm.
    Một ví dụ khác về hậu quả của TPP là trong lãnh vực nông sản-thực phẩm. Việc tham gia TPP sẽ đặt nông sản thực phẩm VN trước sức cạnh tranh rất lớn từ Mỹ, Nhật, Australia, v.v... Đặc biệt là sức cạnh tranh áp đảo của Genetic Modified Foods, thực phẩm sinh học, của các đại bio-engineering corporations của Mỹ. Gà, vịt, gia cầm và các nông sản sản xuất theo lối tiểu nông làm sao cạnh tranh lại những sản phẩm như vậy, và việc phá sản của nhiều nông gia VN là khó tránh. Chưa kể những hậu quả chưa lường được, tạo ra do các loại GM Foods đó gây ra cho sức khoẻ của người dân, là điều mà các chính phủ Âu Châu đã hết sức quan ngại trong nhiều thập niên qua.
    Nhưng tựu trung, lợi lớn hơn hại và ,với nguy cơ từ Trung Quốc ngày càng đè nặng, VN không còn sự lựa chọn nào khác hơn là tham gia cho được TPP. Nói cách khác, tham gia TPP là vấn đề hệ trọng của nước VN hiện nay, bất kể là dưới chế độ chính trị nào. Tham gia TPP lúc này, cũng như vào WTO trước đây, là nhu cầu cần thiết cho phát triển kinh tế cuả cả Nước, không phải là một ân huệ dành cho chế độ. Việc giảm thiểu sự tác hại là do nỗ lực đàm phán và khả năng thích ứng của toàn dân sau khi tham gia.
    Tầm mức quan trọng của TPP đối với VN là như vậy thì liệu người Việt có nên, do sự vô tình đồng nhất Chế độ với Đất Nước, nhân danh Nhân Quyền nói chung, hay quyền dân sự của một số người nào đó nói riêng, để tạo thêm trở lực cho quá trình gia nhập TPP của Đất Nước; hoặc tự mình giúp gia tăng uy thế đàm phán cho người Mỹ trong cuôc thương lượng song phương Mỹ-Việt? Và những vị dân cử của Mỹ sẽ nghĩ sao trong lòng họ khi họ nghe chính những công dân VN đang " mớm" cho họ kế sách để bắt chẹt chính nước VN của mình trong bàn đàm phán?
    Dùng việc ký kết TPP để làm áp lực như vậy cũng không khác gì trước đây, dưới thời Tổng Thống Clinton, nhiều vị ở hải ngoại đã vận động để Mỹ tiếp tục cấm vận VN vậy. Rõ ràng việc hô hào tiếp tục cấm vận đó là sai, là kết quả do óc thiển cận và sự đồng nhất máy móc giữa chế độ và đất nước, quên rằng chế độ đối với đất nước cũng như thể một khối tế bào ác tính đối với cơ thể, cần thiết phải biết tiêu diệt khối u mà không giết chết luôn cơ thể. Cấm vận chỉ làm người dân kiệt quệ và vô tình gây thiệt hại cho chính đồng bào mình!
    Nêu lên những điểm trên, tôi không hề có hậu ý phê phán, hay công kích cá nhân các vị từ trong Nước đã ra điều trần trước HV Mỹ vừa rồi. Chẳng qua tôi chỉ muốn góp vài ý kiến mọn cho công cuộc vận động Nhân Quyền cho VN noí chung, và đối với các nhà hoạt động Nhân Quyền trẻ nói riêng. Tiền đồ của Đất Nước tùy thuộc vào lớp trẻ. Đối với lớp người này, tôi luôn mong ước họ sẽ sáng suốt, có kiến thức vững vàng hơn, vượt lên trên các bậc tiền bối về năng lực và trí tuệ, và nhờ vậy không dẫm lại những sai lầm đã qua của cha ông mình.
    Một trong những sai lầm đã qua của các bậc tiền bối là họ đã lẫn lộn giữa Lý Tưởng và Chính Trị, như tôi đã đề cập đến trong phần phản hồi trước. Sự lẫn lộn đó, cộng với đầu óc vọng ngoại và ưa cầu viện từng bám rễ sâu trong lịch sử dân tộc, đã khiến cho giới lãnh đạo của VN của những thập niên 1930s, ở cả hai phiá CS và QG, phạm phải những sai lầm nghiêm trọng trong quan hệ đối với ngoại bang, gây những hậu quả tai hại từ đó cho đến nay chưa dứt. Một phiá thì tin mù quáng vào lý tưởng Cộng Sản CN, xem đó như là một lý tưởng, một tất yếu; cho rằng tinh thần quốc tế vô sản phổ quát sẽ giúp vượt lên trên ranh giới dân tộc, quốc gia để tiến đến thế giới đại đồng. Kết quả ra sao đã rõ. Thì ra Chủ Nghĩa CS chỉ là phương tiện, Liên Xô và Khối XHCN chẳng qua chỉ là kết quả do nỗ lực của Nga, do kinh nghiệm xương máu của lịch sử, muốn đẩy biên giới phòng thủ và vùng ảnh hương của mình ra xa. Thế thôi; cuối cùng các giá trị lý tưởng chỉ là chiêu bài, là phương tiện bị quy định bởi thực tế và nhu cầu chính trị thiết thân của các quốc gia. Ở Trung quốc thì cũng vậy, lý tưởng CS chỉ là phương tiện được dùng để huy động nhân lực phục vụ cho lòng trung thành đại Hán, và cuối cùng thì Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận: " Mèo nào cũng được, miễn bắt được chuột." .
    Phiá kia, phía của những người chống CS, thì xem Hoa Kỳ là lãnh đạo của Thế Giới Tự Do, và " biên giới của Thế Giới Tự Do kéo dài đến vĩ tuyến 17", là role model of human rights; mọi giá trị của văn hoá Mỹ: tự do cá nhân, làm việc chăm chỉ, kinh tế thị trường, chủ nghiã tư bản, cơ chế tuyển cử, guồng máy chính quyền, v.v... đều được xem là mẫu mực phổ quát đáng noi theo. Quan trọng hơn hết là phiá này đã xem Hoa Kỳ như một đồng minh đáng tin cậy nhất trong nỗ lực kiến quốc của mình. Kết quả đã nhãn tiền; mối quan hệ Việt Nam CH và đồng minh Hoa Kỳ cuối cùng hoá ra cũng tương tự như mối tình nàng Kiều-Sở Khanh; Mỹ đã nhân danh đủ mọi giá trị Nhân Quyền-Dân Chủ cao đẹp nhất để đưa quân qua Miền Nam VN, nhưng rồi rốt cuộc, khi thấy có món lợi khác hời hơn, đã cuốn tất cả những giá trị lý tưởng ấy gọn trong lá cờ chính trị để ra đi, bỏ rơi những đồng minh chiến đấu một thời của mình cho các trại " cải tạo" CS.
    Đó là bài học lịch sử về mối tương quan Lý Tưởng-Chính Trị mà thế hệ trẻ VN nên suy ngẫm để, trong khi theo đuổi cuộc vận động Nhân Quyền cho nhân dân của mình, đừng bao giờ "doomed to repeat it."
    Trương Đ. Trung