Trạch Cường - Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975 (c.1 - p.3)

  • Bởi Diên Vỹ
    16/01/2014
    2 phản hồi

    Diên Vỹ chuyển ngữ

    Những Động cơ của Mao

    Tại sao Mao lại niềm nở trợ giúp Hồ Chí Minh trong năm 1950? Quyết định của Mao được thúc đẩy bởi một hỗn hợp các yếu tố phức tạp bao gồm địa chính trị, hệ tư tưởng và lịch sử. Trước tiên, Đông Dương là một trong ba mặt trận (hai mặt trận kia là Triều Tiên và Đài Loan) mà Mao xem là điểm yếu dễ bị các nước đế quốc dẫn đầu bởi Hoa Kỳ tấn công. Vị lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc xem những diễn tiến tại Triều Tiên, Đài Loan và Việt Nam đều liên quan đến nhau. Không những ông quan ngại về một thái độ thù địch quốc tế xuất phát từ Đông Dương mà còn về những tàn dư của lực lượng Quốc Dân Đảng tại Việt nam. Sau khi phe Cộng sản chiếm giữ Quảng Tây vào tháng Mười hai 1949, một số đơn vị của Tưởng Giới Thạch đã chạy sang miền bắc Việt Nam trong khi những nhóm khác lẩn vào các vùng núi ở Quảng Tây. Sau khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, những nhóm quân Quốc Dân Đảng này bắt đầu quấy nhiễu các chính quyền Cộng sản vừa thành lập tại Quảng Tây. Mao thật sự lo ngại về tình hình này. Trong suốt năm 1950 và đầu 1951, ông đã dồn hết nỗ lực để xóa bỏ những tàn dư của Quốc Dân Đảng.[47] Nhìn theo bối cảnh này, việc đánh bại quân Pháp ở miền bắc Việt Nam sẽ gia cố mạnh mẽ khu vực biên giới Trung Quốc và củng cố vị thế của CHNDTQ.

    Bên cạnh mối quan tâm cấp bách về an ninh trên, lòng tin vào nhiệm vụ quốc tế trong việc hỗ trợ cách mạng phản đế tại châu Á cũng góp phần lớn vào quyết tâm giúp đỡ Hồ Chí Minh của Mao. Khi Mao dấn thân vào con đường cách mạng, ông đã mong muốn chuyển hoá không những Trung Quốc mà cả thế giới. Cũng như hệ thống thế giới cũ đã làm thoái hoá Trung Quốc, sự xuất hiện của hệ thống mới sẽ đóng góp cho sự hồi sinh của Trung Quốc. Mao và các đồng chí của mình cho rằng có một quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng thế giới. Một cuộc cách mạng quốc tế sẽ giúp củng cố và chính danh hoá cuộc cách mạng Trung Quốc.[48]

    Một chỉ thị nội bộ của đảng do Lưu Thiếu Kỳ soạn thảo ngày 14 tháng Ba 1950 đã minh hoạ quan điểm về mối tương quan giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng thế giới. “Sau chiến thắng cách mạng của chúng ta,” bản tài liệu tuyên bố, “việc hỗ trợ bằng mọi cách các đảng Cộng sản và nhân dân trên các nước bị áp bức khác ở châu Á để họ chiếm được tự do là một nhiệm vụ quốc tế mà ĐCSTQ và nhân dân Trung Quốc không thể lẫn tránh. Nó cũng là một trong những phương pháp quan trọng nhất nhằm củng cố chiến thắng của cách mạng Trung Quốc trên vũ đài thế giới.”[49]

    Tin rằng Trung Quốc đóng vai trò đặc biệt trong việc tái định hình một trật tự thế giới cho cách mạng tương lai, Mao đang đi theo bước chân của những vĩ nhân tiền phong khác trong các cuộc Cách mạng Pháp và Nga. “Những viễn kiến đầy tham vọng,” sử gia John Lewis Gaddis nhận thấy, “thì cần thiết để tiến hành các loại cách mạng: những kẻ muốn lật đổ trật tự cũ cần có những cơ sở của lòng tin trước sự hiện hữu của những khó khăn thực tế.”[50] Một viễn kiến về tư tưởng có thể khuyến khích mọi người từ những xuất xứ khác nhau hợp lực như những đồng chí và khiến họ mạo hiểm và trả những cái giá của cuộc cách mạng chống lại thể chế cầm quyền.[51]

    Phần lớn, giới lãnh đạo ĐCSTQ can thiệp vào Đông Dương để xây dựng hình ảnh và diện mạo của Trung Quốc trên thế giới. Với việc đồng nhất cách mạng Trung Quốc với các phong trào giải phóng dân tộc tại các nước kém phát triển, Mao và các đồng sự của mình tin rằng khuôn mẫu cách mạng của họ mang tính quan trọng và thích đáng ở tầm mức quốc tế, giúp chỉ ra phương hướng cho những dân tộc khác đang đấu tranh giải phóng đất nước. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng CSTQ lần 7 vào năm 1945, Lưu Thiếu Kỳ đã nồng nhiệt ca ngợi đóng góp của Mao vào cuộc cách mạng Trung Quốc, hăng hái khẳng định rằng ý tưởng của Mao mang tầm vóc quan trọng đối với phong trào giải phóng các dân tộc mọi nơi, đặc biệt là với “nhân dân phương Đông.” Là người Âu châu, Marx và Lenin chủ yếu chỉ quan tâm đến các vấn đề của châu Âu và ít lưu ít đến Trung Quốc hoặc châu Á, Lưu nhận định vào đầu năm 1946, trong khi là một người Á châu, Mao đã chuyển hoá chủ nghĩa Marx “từ dạng thức châu Âu sang châu Á.” Phấn khởi trước những thắng lợi vừa đạt được của ĐCSTQ, tại Hội nghị Nghiệp đoàn các Quốc gia châu Á và châu Úc tổ chức tại Bắc Kinh năm 1949, Lưu đã tuyên bố rằng “con đường nhân dân Trung Quốc đang hướng tới để đánh bại chủ nghĩa đế quốc và tay sai và thành lập nước Cộng hoà Nhân dân cũng là con đường nhân dân các nước thuộc địa và bán thuộc địa nên đi theo trong cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và dân chủ nhân dân.”[52] Ngày 4 tháng Giêng 1950, báo Sự Thật đã đăng tải bài phát biểu của Lưu, xác định sự chấp thuận của Stalin.[53]

    Vào tháng Sáu 1951. Lục Định Nhất, nhà lý luận hàng đầu của ĐCSTQ đã viết một bài báo ca ngợi mang tên “Tầm Quan trọng Thế giới của Cách mạng Trung Quốc” trên tờ Tri thức Thế giới, một tập san về các vấn đề quốc tế phản ánh quan điểm của Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Ông đã phân biệt sự khác nhau giữa cuộc Cách mạng Tháng Mười như là “ví dụ kinh điển cách mạng tại các nước đế quốc” và cuộc cách mạng Trung Quốc nhưng là một sự kiện tương ứng cho “các nước thuộc địa và bán thuộc địa.” “Trong các nước thuộc địa và bán thuộc địa,” Lục tuyên bố, “nhân dân Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai và Phi đã dấy lên cuộc chiến giành độc lập dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc và các phong trào giải phóng dân tộc trên các quốc gia như Ấn Độ và Nhật Bản cũng đang lớn mạnh. Khuôn mẫu và kinh nghiệm Trung Quốc giúp tăng cường sự tự tin của nhân dân tại các nước này trong việc giành chiến thắng cũng như tăng cường ý chí chiến đấu của họ.” Tư tưởng Mao Trạch Đông, Lục kết luận, không những quan trọng tại Trung Quốc và châu Á mà còn trên cả thế giới. “Nó là một đóng góp mới trong kho tàng chung của chủ nghĩa Marx-Lenin.”[54]

    Vì thế cuộc chiến Đông Dương vừa là một thử nghiệm vừa là một xác định rằng diện mạo vừa có được của CHNDTQ như người đi đầu trong những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tại các khu vực thuộc địa và bán thuộc địa. Nó tạo ra một kích hoạt ngoại sinh cho quá trình vận động định dạng dân tộc và xác nhận với bản thân quốc gia và “những người khác” rằng Trung Quốc có thể bảo vệ hình ảnh đẹp đẽ của mình như là một người ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân.[55]

    Sự ủng hộ của Stalin đã khuyến khích Mao đóng vai trò tích cực hơn trong việc phát triển phong trào cách mạng tại châu Á. Có một phân chia nhiệm vụ trong thế giới Cộng sản lúc ấy. Khi Lưu Thiếu Kỳ đến thăm Liên Sô vào tháng Bảy 1949, Stalin đã bảo ông rằng trung tâm cách mạng thế giới đã chuyển từ Tây sang Đông, đến Trung Quốc và Đông Á. Với việc chuyển trọng tâm cách mạng thế giới sang hướng Đông này, vị lãnh tụ Kremlin muốn ĐCSTQ gánh thêm trách nhiệm trong việc phụ giúp cách mạng dân chủ dân tộc tại các nước thuộc địa và bán thuộc địa trong khi Liên Sô sẽ lãnh thêm trách nhiệm ở phía Tây.[56]

    Tinh thần nhiệt tình hỗ trợ cách mạng tại châu Á được phản ánh rõ ràng trong một hướng dẫn mà Lưu Thiếu Kỳ gửi vào năm 1950 đến cán bộ đảng ở vùng nam Trung Quốc, chỉ đạo họ sẵn sàng tiếp xúc với các đảng Cộng sản tại Đông nam Á. Trong một bức điện gửi ngày 3 tháng Ba cho Trần Canh, chủ tịch Chính quyền Tỉnh Vân Nam và tư lệnh Tỉnh đội Vân Nam, và Tống Nhiệm Cùng, Bí thư Tỉnh uỷ Vân Nam và chính trị viên Tỉnh đội Vân Nam, Lưu Thiếu Kỳ viết rằng với việc giải phóng Vân Nam và Quảng Tây, các đảng Cộng sản ở vùng Đông nam Á, đặc biệt là Việt Nam và Miến Điện sẽ gửi đại diện đến Trung Quốc để tìm cách tiếp xúc với ĐCSTQ. “Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với chúng ta,” Lưu tiếp tục. “các uỷ ban trung ương của các đảng Cộng sản khác vẫn chưa thiết lập quan hệ chính thức và thường xuyên với chúng ta. Nếu họ gửi người sang Vân Nam và Quảng Tây để thành lập các quan hệ này, chúng ta nên nồng nhiệt đón tiếp và giúp đỡ họ. Trong tương lai, họ có thể sẽ điều động đại diện thích hợp đến thường trú bí mật ở Vân Nam hoặc Quảng Tây.”[57]

    Xu hướng quân sự của Mao đối với cách mạng châu Á cũng được bộc lộ qua việc ông đối xử với Đảng Cộng sản Nhật. Ngày 6 tháng Giêng 1950, Tập san Cominform (Cơ quan Thông tin của các Đảng Cộng sản và Công nhân - ND) đăng một bài viết phê bình Nosaka Sanzo, một thành viên trong bộ chính trị ĐCS Nhật vì đã nhất quyết theo đuổi đường lối hoà bình trong việc giành quyền lực và cho rằng việc Mỹ đóng quân ở Nhật giúp thúc đẩy quá trình dân chủ hoá Nhật Bản. Bài báo kêu gọi ĐCS Nhật dùng bạo lực để phản đối việc Mỹ sử dụng quốc gia này vì mục đích quân sự.[58] Hưởng hứng quan điểm của Cominform, ngày 14 tháng Giêng Mao đã chỉ đạo Hồ Kiều Mộc, trưởng Phòng Thông tin CHNDTQ, viết một bài nhận định đăng trên tờ Nhân dân Nhật báo kêu gọi ĐCS Nhật “dùng các biện pháp thích hợp để khắc phục những sai lầm của Nosaka Sanzo.”[59]

    Trong việc cung cấp viện trợ cho VNDCCH, giới lãnh đạo ĐCSTQ cũng đã nghĩ đến mối quan hệ cá nhân và tinh thần đoàn kết vô sản mà họ và Hồ Chí Minh đã vun đắp trong những năm tháng đấu tranh trước đây. Cùng chia sẻ những giá trị và lý tưởng như nhau, họ đã trải qua những khó khăn và trở ngại tương tự. Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ vẫn còn nhớ rất rõ sự phụ giúp kịp thời và quan trọng của Hồ đối với quân đội mình tại miền nam Trung Quốc năm 1946 khi họ sắp bị Quốc Dân Đảng tiêu diệt. Trong cuộc trao đổi với La Quí Ba ngày 13 tháng Giênt 1950 Lưu Thiếu Kỳ có nhắc riêng đến sự kiện này để nhấn mạnh việc cần thiết phải giúp Hồ.[60] Có một mối tương đồng trong tính toán của giới lãnh đạo ĐCSTQ về quyết định giúp đỡ Kim Nhật Thành và Hồ Chí Minh trong năm 1950. Cũng như Hồ, Kim đã cung cấp nơi trú ẩn và tiếp tế cho quân đội ĐCSTQ và gia đình họ khi họ bị buộc phải rút quân từ Mãn Châu sang miền Bắc Triều Tiên trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến Trung Quốc, khi quân số và vũ khí của lực lượng Quốc Dân Đảng còn mạnh hơn rất nhiều. Với quyết định tham gia cuộc Chiến tranh Triều Tiên nhằm giải cứu chính quyền đang tan rã của Kim năm 1950, lãnh đạo ĐCSTQ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đáp trả thịnh tình mà họ từng nhận được từ Cộng sản Triều Tiên trước đây.[61]

    Trong buổi gặp mặt với các thành viên cao cấp của Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc vào ngày 27 tháng Sáu 1950, các lãnh đạo ĐCSTQ đều đồng nhất nhấn mạnh tinh thần chủ nghĩa quốc tế. Mao nói rằng “cách mạng ta đã giành được thắng lợi, chúng ta có nhiệm vụ giúp những nước khác. Việc này gọi là chủ nghĩa quốc tế.” Lưu Thiếu Kỳ lập luận rằng đảng có “những nguyên nhân quan trọng” trong việc quyết định giúp đỡ Việt Minh. “Việt Nam là một khu vực hiện đang được thế giới chú ý nhiều nhất,” Lưu nói tiếp, “và nhiệm vụ của các đồng chí mang tầm cỡ quốc tế.” Chu Đức bổ xung rằng “là những người theo chủ nghĩa quốc tế chúng ta nên xem việc giúp đỡ Việt Nam là một nhiệm vụ quốc tế quan trọng và không nên từ bỏ bất cứ nỗ lực nào trong việc giúp người Việt giành được thắng lợi.”[62] Rõ ràng là thừa cơ từ chiến thắng Quốc Dân Đảng vừa qua, giới lãnh đạo ĐCSTQ hăng hái phát động phong trào cách mạng ra ngoài biên giới Trung Quốc. Chắc chắn là những thành công ban đầu của Kim Nhật Thành trong Chiến tranh Triều Tiên cũng đã khuyến khích Mao và các đồng chí trong thời điểm này.

    Cuối cùng, việc Bắc Kinh can thiệp vào Đông Dương cần được phân tích trong bối cảnh của quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Trên khía cạnh lịch sử, người Trung Quốc mang quan điểm quốc gia họ là trọng tâm của thế giới, xem các nước khác là thấp kém hơn. Các hoàng đế Trung Quốc xem Việt Nam nằm trong quĩ đạo của ảnh hưởng Trung Quốc và đặt nước này trong hệ thống chư hầu. Họ không ngần ngại đưa quân sang Việt Nam để tái lập hoà bình và trật tự nếu vị vua chư hầu hiện tại đang bị đe doạ bởi khởi nghĩa trong nước hoặc ngoại xâm. Ví dụ như trong giai đoạn 1788 đến 1790, hoàng đế nhà Thanh là Càn Long đã gửi một đoàn quân viễn chinh đến Việt Nam để khôi phục triều Lê vừa bị phiến quân địa phương lật đổ. Khoảng một thế kỷ sau, chính quyền nhà Thanh một lần nữa lại can thiệp vào Việt Nam từ 1884-85 để chống lại sự xâm lược của người Pháp.[63] Mao và các đồng chí của mình, những người luôn xem trọng lịch sử đã không thể bỏ qua những tương ứng lịch sử này.

    Đối với người Việt thì họ có truyền thống hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu và nguồn động lực. Trong suốt lịch sử của mình, các vị vua Việt đã bắt chước và phỏng theo các phương pháp và định chế của Trung Quốc để biến mình thành một lực lượng chính danh bất chấp việc Trung Quốc liên tục can thiệp vào công việc của họ. Tôn trọng hoàng đế Trung Quốc bề trên là phương cách duy nhất để tránh chiến tranh của người Việt, và chấp thuận những phong tục Trung Quốc đã trở thành thói quen của giới cầm quyền Việt Nam. Chỉ đến khi người Pháp xuất hiện vào thế kỷ thứ mười chín làm gián đoạn mạnh mẽ mối liên hệ văn hoá kéo dài nhiều thế kỷ giữa Việt Nam với Trung Quốc, nơi mọi người Việt có giáo dục đều học tiếng Trung cũng như nền văn hoá và nguyên tắc đạo đức gắn liền với nó. Chính sách của Pháp trong việc dẹp bỏ chữ Hán và chữ Nôm trong giới trí thức Việt, tạo ra việc tiếp nhận bảng chữ cái 29 mẫu tự để viết tiếng Việt mà trong các thập niên 1920 và 1930 đã dẫn đến cuộc cách mạng tri thức làm nền móng cho sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc hiện đại. Những người quốc gia Việt Nam hướng về châu Âu để tìm kiếm quan điểm tri thức thay vì Trung Quốc.[64] Trong một ý nghĩa nhất định, quyết định của Hồ trong việc tìm kiếm trợ giúp từ Mao không chỉ được cân nhắc thuần tuý trên cơ sở ý thức hệ. Nó còn phù hợp với thói quen trong lịch sử của Việt Nam là chuyên hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu trong khi vẫn giữ nguyên quyền độc lập.

    Điều quan trọng cần lưu ý là ngay từ ban đầu các lãnh đạo ĐCSTQ đã lưu tâm đặc biệt đến quan hệ của họ với Việt Minh và chỉ đạo các cố vấn Trung Quốc không được tỏ vẻ ngạo mạn khi sang Việt Nam. Ngày 8 tháng Tư 1950 Lưu Thiếu Kỳ bảo La Quí Ba rằng các cán bộ Cộng sản Việt Nam lẫn Trung Quốc đều chưa biết rõ nhau. Vì việc thiếu hiểu biết chung về nhau này, Lưu nhắc nhở vị đại diện ĐCSTQ rằng “những hiểu lầm không cần thiết và cảnh giác quá mức” có thể xảy ra. Vì cả hai đảng đều từng trải qua nhiều năm đấu tranh cách mạng. Lưu kết luận, họ nên xây dựng một sự tin tưởng lẫn nhau.[65]

    Ngày 27 tháng Sáu cả Mao và Lưu đều nhấn mạnh cho ĐCVQSTQ tầm quan trọng của quan hệ đoàn kết thân tình giữa hai đảng. Họ khuyên các cố vấn Trung Quốc tránh xa tâm lý sô-vanh nước lớn và không được bày tỏ thái độ khinh thường với người Việt.[66] Trong một bức điện gửi cho La Quí Ba vào tháng Tám, Lưu đã chỉ thị cho La không được áp đặt quan điểm của mình đối với người Việt và không nên phật lòng nếu họ không làm theo đề nghị của ông.[67]

    Những ý kiến của Mao và Lưu cho thấy rõ ràng cả hai đều rất nhạy cảm đối với lòng tự hào dân tộc của người Việt và nhận thức rõ những hiềm khích lịch sử giữa hai quốc gia sau những lần Trung Quốc can thiệp vào Việt Nam. Cũng có thể là khi các lãnh đạo ĐCSTQ kêu gọi những cố vấn Trung Quốc nên có thái độ khiêm tốn và tôn trọng vì họ vẫn còn nhớ đến những bài học đầy cay đắng của các cố vấn Liên Sô tại Trung Quốc trong thời kỳ cách mạng Trung Quốc mới thành hình. Đầu thập niên 1930, thái độ thô lỗ và kiêu ngạo của các cố vấn Đệ Tam Quốc Tế đã gây thiệt hại nặng nề cho ĐCSTQ và Hồng quân, khiến họ phải rời bỏ các căn cứ ở miền nam Trung Quốc và tham gia vào cuộc Vạn lý Trường chinh. Bất chấp nỗ lực rõ rệt của họ nhằm tôn trọng ý kiến của người Việt, các chương sau sẽ cho thấy các lãnh đạo Trung Quốc đã thất vọng và giận dữ khi những đồng chí Việt Nam tách khỏi hướng đi của Trung Quốc.

    Chủ trương “nghiêng về một phía” của Hồ Chí Minh đã tạo ra những hệ quả nghiêm trọng trong cuộc chiến Đông Dương. Với việc đứng về phe xã hội chủ nghĩa ông đã làm tình trạng phân cực của cuộc Chiến tranh Lạnh tại châu Á thêm rõ rệt. Cũng như việc Mao đạt được hiệp ước liên minh Trung-Sô để cân bằng Trung Quốc trước mối đe doạ của Mỹ và phát triển lý tưởng Cộng sản, Hồ kêu gọi giúp đỡ từ Trung Quốc và Liên Sô để chống lại người Pháp và bảo vệ những thành quả cách mạng của mình. Với việc nhờ Trung Quốc giúp đỡ ông đã tăng cường khả năng người Mỹ sẽ can thiệp sau này. Với những lựa chọn của mình, Hồ đã củng cố thêm sự liên kết của hai phía trong Chiến tranh Lạnh. Như là một động thái nghiêng về phía tả, ĐCS Đông Dương, trên lý thuyết đã bị giải tán vào mùa thu năm 1945 nhằm hấp dẫn thành phần quốc gia phi Cộng sản, lại tái xuất hiện vào Đại hội Toàn quốc lần Hai vào tháng Hai 1950 với cái tên Đảng Lao Động Việt Nam; một tổ chức khác cho Cambodia đã được thành lập sau đó vào năm 1951, và Đảng Nhân Dân Lào được thành lập vào năm 1955. Hồ được bầu làm chủ tịch và Trường Chinh làm tổng bí thư đảng. Đại hội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc, và một điều lệ mới của đảng chỉ ra rằng “Đảng Lao Động Việt Nam sẽ tổng hợp các học thuyết Marx, Engels, Lenin, Statlin và Tư tưởng Mao Trạch Đông với thực tiễn cách mạng Việt Nam để làm nền tảng tư tưởng và cương lĩnh hành động của đảng.” Chân dung Mao được treo cùng với các chân dung của Marx, Engels, Lenin và Statin tại hội trường đại hội.[68]

    Trần Canh và Chiến dịch Biên giới

    Tháng Sáu 1950 Hồ Chí Minh quyết định phát động một chiến dịch biên giới để tạo đường liên lạc với Trung Quốc. Lúc này người Pháp đang kiểm soát một dãy tiền đồn dọc theo biên giới Trung Quốc. Việc xóa bỏ các vị trí của Pháp sẽ giúp củng cố căn cứ Việt Minh tại Việt Bắc, loại bỏ các trở ngại trên tuyến vận chuyển hàng tiếp tế từ Trung Quốc và đặt quân của Hồ vào vị thế mạnh hơn để phát động các cuộc tấn công vào vùng châu thổ sông Hồng nhiều lúa gạo trong tương lai.

    Thoạt đầu, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN; quân đội Việt Minh lấy tên này từ năm 1950) dự định sẽ sử dụng bốn trung đoàn tinh nhuệ đang được huấn luyện và tổ chức tại Trung Quốc từ tháng Tư 1950 để tấn công Lào Cai và Cao Bằng, hai tiền đồn quan trọng của Pháp trên RC4 (Đường Thuộc địa số Bốn) song song với biên giới Trung Quốc. Sau khi cân nhắc những khó khăn trong việc tiếp vận, họ thay đổi kế hoạch bằng cách tập trung vào Cao Bằng. Bên cạnh việc yêu cầu Trung Quốc cung cấp tiếp liệu và gửi đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam càng sớm càng tốt, Hồ cũng đã yêu cầu gửi sang một cố vấn quân sự Trung Quốc cao cấp để điều phối toàn bộ chiến dịch biên giới.[69]

    Sau khi nhận được yêu cầu của Hồ, lãnh đạo ĐCSTQ đã chọn Tướng Trần Canh làm đại diện và cố vấn quân sự cao cấp đến QĐNDVN. Không như nhiều vị tướng QĐGPND khác xuất thân từ tầng lớp nông dân, Trần là một người có học thức. Đẹp trai và trau chuốt, ông được mệnh danh là một “vị tướng học giả”. Ông sinh năm 1903 trong một gia đình địa chủ giàu có tại Hồ Nam; ông nội ông từng là một chỉ huy trong quân đội nhà Thanh. Lên sáu tuổi, Trần bắt đầu theo học Khổng giáo. Năm 1919, ông tham gia vào quân đội của một lãnh chúa Hồ Nam; năm năm sau, ông trở thành một người Cộng sản. Lịch sử quân sự là môn ông ưa thích khi còn là học viên tại Học viện Quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu trong giữa thập niên 1920. Trong thời gian ấy, ông cũng quen biết Hồ Chí Minh. Trong thời nội chiến, ông là tư lệnh Quân đoàn số 4 thuộc Tập đoàn Dã chiến Quân thứ Nhì QĐGPND. Đơn vị ông chiếm đóng Vân Nam vào đầu năm 1950.[70]

    Trong một bức điện gửi ngày 18 tháng Sáu 1950. Lưu Thiếu Kỳ chỉ đạo Trần chuẩn bị một kế hoạch thực tế và khả thi sau khi xem xét các yếu tố về tình hình chiến sự, diễn biến chính trị, kinh tế, địa hình và giao thông tại Việt Nam cũng như khả năng tiếp vận của Trung Quốc, đặc biệt là về mặt giao thông. Lưu nói rằng đảng sẽ dùng kế hoạch này làm nền tảng cho những chương trình trợ giúp khác, bao gồm việc gửi hàng tiếp tế, đào tạo cán bộ, tổ chức quân đội, tuyển quân, quản lý tiếp vận và tham chiến. Lưu nhấn mạnh rằng kế hoạch này phải được Uỷ ban Trung ương đảng Việt Nam thông qua.[71]

    northvietnammap.png
    Bắc Việt Nam năm 1950. Nguồn: Jacques Dalloz, Chiến tranh tại Đông Dương. 1945-54 (Dublin: Gill & Macmillan, 1987)

    Ngày 7 tháng Bảy Trần Canh rời Côn Minh đi Việt Nam. Trên đường ông cẩn thận điều tra các điều kiện tại Đông Dương. Đầu tiên ông dừng lại trại huấn luyện Nghiễn Sơn ở Vân Nam, nơi Sư đoàn 308 của QĐNDVN đang huấn luyện và trang bị. Tướng Chu Hi Hán, tư lệnh Tập đoàn quân 13, người chịu trách nhiệm đào tạo binh lính Việt Nam, báo cáo với Chu về công việc của mình. Trần cũng trao đổi với các chỉ huy Sư đoàn 308 về tình hình trong nước. Cải trang là một sĩ quan QĐNDVN sau khi vượt qua biên giới, Trần tiếp tục điều tra việc chuyển quân của quân Pháp ở miền bắc Việt Nam và tình trạng của QĐNDVN.[72] Việc Trần chú trọng vào trinh sát đi cùng hướng với phương pháp giảng dạy quân sự truyền thống của Trung Quốc là phải điều nghiên kỹ lưỡng trước khi tiếp cận kẻ thù. Tôn Tử, một nhà chiến lược xưa của Trung Quốc từng khuyên rằng: “Hiểu địch hiểu ta, trăm trận trăm thắng.”[73]

    Trong nhật ký của mình, Trần nói rằng ông phát hiện ra Việt Minh không quan tâm đến việc huy động phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Vì nữ giới chiếm hơn nửa dân số Việt Nam, Trần tin rằng bỏ qua họ có nghĩa là bỏ phí hơn phân nửa nguồn nhân lực. Ông chỉ ra điều này với cách lãnh đạo Việt Nam.[74] Rõ ràng Trần đang áp dụng học thuyết “chiến tranh nhân dân” của Mao vào Việt Nam. Trong chiến tranh chống Nhật và nội chiến, Mao đã thành công trong việc huy động phụ nữ cho mục đích của mình.

    Ngày 22 tháng Bảy, Trần báo cáo với lãnh đạo ĐCSTQ về những phát hiện của ông về QĐNDVN: “Một số đơn vị tinh nhuệ Việt Nam đang có tinh thần cao sau khi được huấn luyện và trang bị ở Vân Nam và Quảng Tây, nhưng các cán bộ Việt Nam trên cấp tiểu đoàn thiếu kinh nghiệm chiến đấu thực sự.” Với tình hình này, Trần đề nghị rằng nguyên tắc của chiến dịch biên giới nên là “phá huỷ lực lượng cơ động của địch trên các chiến trường và chiếm đóng một số tiền đồn nhỏ lẻ loi nhằm giành chiến thắng ban đầu trong khi có thêm kinh nghiệm và nâng cao tinh thần binh lính. Sau khi đạt được hoàn toàn các mục tiêu ban đầu, chúng ta có thể từ từ tiến đến các trận chiến cỡ lớn.” Về kế hoạch tấn công Cao Bằng của Việt Nam, Trần đề xuất chiến lược “bao vây tiền đồn và tấn công lực lượng tiếp cứu.” Đặc biệt Trần đề nghị QĐNDVN nên tấn công các tiền đồn lẻ loi gần Cao Bằng trước để lôi kéo lực lượng tiếp cứu của Pháp từ Lạng Sơn. “Nếu chúng ta có thể tiêu diệt được ba đến bốn tiểu đoàn cơ động từ Lạng Sơn thì sẽ dễ chiếm Cao Bằng và một số đồn gần Lạng Sơn.” Nếu điều này xảy ra, Trần tin rằng tình hình ở phía bắc và đông bắc Việt Nam “sẽ thay đổi lớn.” Trong bức điện gửi ngày 26 tháng Bảy, Quân uỷ Trung ương ĐCSTQ thông qua kế hoạch tác chiến của Trần.[75]

    Ngày 28 tháng Bảy, Trần đến trụ sở hành chính của Việt Minh tại Thái Nguyên để gặp Hồ Chí Minh và La Quí Ba. Hồ rạng rỡ dang tay đón mừng Trần. Tại tư gia mình, Hồ đã đọc một bài thơ tiếng Trung mà ông sáng tác để đón Trần.[76] Vị đại diện Trung Quốc ở lại Thái Nguyên bốn ngày, trong thời gian đó ông báo cho Hồ kế hoạch của mình cho chiến dịch biên giới. Ông nói với vị lãnh tụ Việt Nam rằng QĐNDVN hiện tại chưa sẵn sàng tham chiến để lấy Cao Bằng. Trước hết Việt Minh nên tấn công các đồn nhỏ của Pháp để cùng lúc huấn luyện các chỉ huy và binh lính. QĐNDVN nên sử dụng chiến thuật vây đồn trong khi xoá sạch lực lượng tiếp cứu của địch trong các mặt trận cơ động. Đặc biệt, Trần đề nghị QĐNDVN trước hết nên tấn công Đông Khê, một tiền đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn để lôi kéo địch ra khỏi hai vị trí này và tiêu diệt chúng trên chiến trường. Hồ ủng hộ kế hoạch của Trần.[77] Trần viết trong nhật ký rằng sau khi trao đổi với Hồ cùng những lãnh đạo người Việt khác và lắng nghe báo cáo của La, ông thấy rằng các lãnh đạo Việt Minh có vẻ “thiếu kiên nhẫn”“đơn thuần chú trọng vào vũ khí” trong cuộc chiến chống Pháp của họ.[78]

    ĐCVQSTQ cùng với Hoàng Văn Hoan rời Nam Ninh, Quảng Tây vào ngày 9 tháng Tám và đến căn cứ QĐNDVN tại Quảng Nguyên, một thị trấn gần Cao Bằng vào ngày 12 tháng Tám. ĐCVQSTQ gửi thành viên đến các Sư đoàn 304, 308 và 312. Cuối năm ấy, họ cũng gửi cố vấn đến Sư đoàn 316 và Sư đoàn Công binh và Pháo binh 316 (còn gọi là “Sư đoàn hạng nặng”). Cùng lúc ấy, Tướng Lý Thiên Hựu, phó tư lệnh Quân khu Quảng Tây đứng đầu uỷ ban tiếp vận chịu trách nhiệm chuẩn bị và vận chuyển lương thực, đạn dược và thuốc men đến Việt Nam. Hai bệnh viện dã chiến được dựng lên để cứu chữa lính Việt Nam.[79]

    Hai ngày sau khi ĐCVQSTQ đến nơi, Trần Canh cũng đến Quảng Nguyên, ở đó ông gặp Vi Quốc Thanh. Tướng Hoàng Văn Thái, tổng tham mưu trưởng QĐNDVN đã báo cáo với Trần về tình hình triển khai của quân Pháp dọc đường số 4. Trần nói với Võ Nguyên Giáp, tổng tư lệnh QĐNDVN về kế hoạch của mình cho chiến dịch biên giới. Giáp chấp thuận kế hoạch và mời vị cố vấn Trung Quốc nói chuyện với các chỉ huy cấp trung đoàn của QĐNDVN. Trần đã phát biểu trong bốn tiếng đồng hồ, tập trung vào những “thiếu sót” của QĐNDVN. Cử toạ đã rất chú ý đến bài nói chuyện của ông; Giáp từng nhắc đến nhiều lần là phát biểu của Trần “rất bổ ích”. Vào đêm trước chiến dịch biên giới, Hồ đã đến thăm bộ tư lệnh QĐNDVN, phó thác quân đội mình vào kế hoạch của Trần.[80]

    chengeng-vonguyengiap.png
    Võ Nguyên Giáp (phải) đón La Quí Ba (trái) tại biên giới Trung-Việt, 1950. (Tài liệu của Tân Hoa Xã)

    Ngày 16 tháng Chín QĐNDVN tấn công vào Đông Khê và hai ngày sau đã chiếm được đồn này. Tại Đông Khê, quân của Hồ đã thắng trong một cuộc giao tranh pháo binh đầu tiên.[81] Nhưng con người khó tính Trần Canh vẫn chưa hài lòng với hiệu quả chiến đấu của quân đội Việt Minh. Đồn Đông Khê của Pháp có khoảng 260 lính trong khi lực lượng Việt Minh lên đến 10 nghìn với hoả lực pháo mạnh hơn. Khi trận chiến chấm dứt, QĐNDVN có khoảng 500 người tử vong và để hơn 20 lính Pháp tẩu thoát. Ban đầu Trần muốn quân Việt Minh chiếm được đồn chỉ trong vòng một ngày, nhưng họ đã phải mất đến hai ngày và ba đêm để kết thúc trận đánh. Trần phát hiện ra một số vấn đề trong các đơn vị của Hồ. Trước tiên, họ đã không đi đúng thời điểm tấn công như trong kế hoạch. Cuộc tổng tấn công được dự định là bắt đầu vào chạng vạng tối 16 tháng Chín, nhưng các đơn vị Việt Minh đã không khởi sự cho đến tảng sáng ngày hôm sau. Khi mặt trời lên, họ phải rút quân vì sợ Pháp không kích. Rồi họ phải tái tấn công vào chạng vạng tối hôm ấy. Thứ hai, các chỉ huy QĐNDVN sợ phải ra tuyến đầu, vì thế đã không tiếp cận được các đơn vị đột kích. Thứ ba, không có liên lạc giữa ban chỉ huy và các đơn vị. Thứ tư, một số cán bộ đã báo cáo láo để giấu những tin xấu. Trần đưa những vấn đề này ra cho Giáp.[82] Rõ ràng những sai lầm này là những ví dụ về “những thiếu sót” mà Trần đã chỉ ra trước trận Đông Khê.

    Tuy nhiên việc chiếm được Đông Khê là một chiến thắng lớn của QĐNDVN trong việc cắt đứt đường 14, giải thoát Cao Bằng. Pháp đã đưa một toán quân do Trung tá Lepage dẫn đầu từ Lạng Sơn qua Thất Khê để tái chiếm Đông Khê. Cùng lúc ấy, một đơn vị khác của Pháp tiến về trung tâm căn cứ của Việt Minh tại Thái Nguyên. Trần đoán rằng quân Pháp tiến về Thái Nguyên nhằm đánh lạc hướng quân Việt Minh tại Đông Khê để quân Pháp tại Cao Bằng có thể tuồn ra và nhập với toán quân của Lepage. Vì thế, Trần đề nghị QĐNDVN giữ nguyên kế hoạch ban đầu và ở lại Đông Khê.[83]

    Trần quyết định phục kích kẻ thù đang tiến về từ Thất Khê.[84] Ngày 30 tháng Chín, đoàn quân của Lepage rời Thất Khê đi Đông Khê nhưng bị phục kích tại khu vực đồi núi phía nam Đông Khê. Ngày 3 tháng Mười, Trung tá Charton bỏ Cao Bằng và dẫn quân về phía nam. Quyết định ngăn chặn việc hai đơn vị của Lepage và Charton gặp nhau, bộ tư lệnh QĐNDVN, theo đề nghị của Trần, đã ra lệnh cho Sư đoàn 308, Trung đoàn 209 và một tiểu đoàn độc lập bao vây và tiêu diệt toán quân của Lepage trước khi tấn công toán quân của Charton.[85] Ngày 8 tháng Mười, quân Việt Minh đã xoá sạch toán quân của Lepage. Hai ngày sau, họ cũng tiêu diệt nốt đơn vị của Charton. Cả Lepage lẫn Charton đều bị bắt. Không bao lâu sau Pháp đã rút khỏi Lào Cai, Lạng Sơn và Hoà Bình, để lại 11 nghìn tấn đạn dược và rời bỏ hầu hết khu vực phía bắc của châu thổ sông Hồng.[86]

    Thành công của chiến dịch biên giới mang tầm quan trọng rất lớn đối với Việt Minh. Đến cuối năm, ngoại trừ tiền đồn duyên hải tại Móng Cái, Việt Minh đã hoàn toàn xóa sạch các đồn của Pháp dọc theo biên giới Trung Quốc và không còn một trở ngại nào trong việc vận chuyển quân đội và vũ khí từ Trung Quốc. Việc Pháp rút khỏi Hoà Bình cũng mở được liên lạc giữa Việt Bắc và khu vực “giải phóng” phía bắc Bắc Kỳ, sát nhập lãnh thổ Việt Minh thành một. Giờ đây Việt Minh có thể tuỳ ý tấn công khu vực châu thổ sông Hồng và rút về căn cứ Việt Bắc mà không sợ bị Pháp phản ứng. Theo lời nhà sử học William J. Duiker, Việt Minh “lần đầu tiên giữ được vai trò chủ động trong cuộc chiến.”[87] Chiến thắng biên giới cũng giảm bớt nỗi lo của Bắc Kinh bị tàn dư Quốc Dân Đảng tấn công ở Đông nam Á.

    Sau khi chiến dịch biên giới kết thúc, Mao gửi điện đến Trần bày tỏ “rất hài lòng” đối với chiến thắng của Việt Minh. Vị lãnh tụ ĐCSTQ yêu cầu Trần giúp quân đội Hồ rút ra các bài học từ chiến dịch.[88] Trần đi đến các chiến trường, chỉ cho các tư lệnh QĐNDVN xem cách phát triển khả năng chỉ huy chiến đấu. Ngày 11 tháng Mười, Trần trao đổi với Hồ và Giáp, đưa ra những đề xuất toàn diện để phát triển QĐNDVN. Đề xuất của ông bao gồm việc tái cơ cấu quân đội Hồ, thăng chức các cán bộ, đối xử với tù binh, sửa chữa những đại bác và súng tịch thu được. Trần đề nghị lãnh đạo Việt Minh tổ chức các cuộc biểu tình ăn mừng để loan báo chiến thắng biên giới, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn và khen thưởng các cá nhân gương mẫu như là cách để nâng cao tinh thần chiến sĩ. Theo Trần, nên có những tấm gương khác nhau giữa cán bộ, chiến sĩ và dân vận tải. Để khuyến khích “chủ nghĩa anh hùng cách mạng,” Trần cũng kêu gọi Việt Nam tổ chức những buổi lễ tưởng niệm những người đã chết trong chiến dịch biên giới. Về việc đối xử với tù binh chiến tranh, Trần đề nghị Việt Minh trước tiên nên dùng họ vào việc làm suy giảm tinh thần kẻ thù bằng cách yêu cầu họ viết thư và phát biểu, và tuyển dụng lại nhiều tù binh người Việt trong khi trả tự do cho các tù binh người Ma Rốc và Pháp sau khi giáo dục họ tư tưởng cách mạng. Theo nhật ký của Trần, Hồ và Giáp “hoan hỉ” chấp nhận các đề nghị của ông.[89] Lời khuyên của Trần về việc ăn mừng chiến thắng, lựa chọn các tấm gương cá nhân và cách đối xử với tù binh dựa trên cách thức tương tự của Trung Quốc trong thời kỳ chống Nhật và nội chiến. Bằng cách quảng bá những nghi lễ theo phong cách Mao như tưởng nhớ và ca ngợi các gương anh hùng tại Việt Nam, Trần giúp giới thiệu một quá trình rất quan trọng mà qua đó các thành viên Việt Minh có thể gắn bó với nhau.

    Từ ngày 27 đến 30 tháng Mười, Việt Minh đã tổ chức các cuộc họp tổng kết cho các chỉ huy trên cấp tiểu đoàn. Trường Chinh đã đại diện cho lãnh đạo Việt Minh đọc báo cáo kinh nghiệm chiến dịch biên giới. Theo yêu cầu của Hồ, Trần đã phát biểu trong bốn ngày tại hội nghị. Trước tiên ông phân tích những nguyên nhân tạo nên chiến thắng của Việt Minh, ca ngợi tinh thần dũng cảm và ngoan cường của các chiến sĩ. Cảnh báo họ không nên tự phụ với chiến thắng, Trần kêu gọi Việt Minh sẵn sàng trước sự can thiệp của Mỹ. Ông tiếp tục chỉ ra những điểm yếu của QĐNDVN bao gồm việc các chỉ huy không quan tâm đến lính, trừng phạt thể lực, chậm trễ triển khai mệnh lệnh, kỷ luật lỏng lẻo và thói quen chỉ báo cáo thành tích.[90]

    Lãnh đạo Việt Minh rất hài lòng với kết quả của chiến dịch biên giới. Hồ Chí Minh cho Trần xem các bức điện ông gửi Stalin và ĐCS Pháp báo cáo thành công của chiến dịch.[91] Tán dương tài chỉ huy quân sự của Trần, Hồ nói rằng chiến dịch biên giới đã đạt được chiến thắng vĩ đại mà ông mong muốn, gọi nói là “thắng lợi của chủ nghĩa quốc tế vô sản.” Giáp cho rằng chiến dịch này đã đập tan kế hoạch của Pháp trong việc đóng cửa biên giới Việt Nam để phong toả Việt Minh. “Chiến thắng này cho thấy”, vị tổng tư lệnh QĐNDVN nói tiếp, “tư tưởng quân sự của Mao rất phù hợp với Việt Nam.”[92] Hồ yêu cầu Trần ở lại Việt Nam để hướng dẫn chiến dịch quân sự sắp tới của Việt Nam, nhưng Trần đã nhận được lệnh mới từ Bắc Kinh và rời Việt Nam vào đầu tháng Mười một 1950. (Ngày 8 tháng Sáu năm sau, Trần được bổ nhiệm phó tư lệnh lực lượng Chí nguyện Quân Trung Quốc và đã lên đường đi Triều Tiên vào tháng Tám.) Sau khi Trần ra đi, ĐCVQSTQ giữ toàn bộ vai trò cố vấn QĐNDVN.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Thân gửi bạn Diên Vỹ!
    Bạn có thể chuyển ngữ hết những chương còn lại, rồi up lên trong 1 tuần nữa được không? Mình cũng đang rất cần nó, mà thời gian gấp quá, khả năng dịch của mình kém nên hy vọng bạn giúp mình và mọi người nhé!
    Cảm ơn bạn!

    Có vẻ như bài này không được đông khách. Nhưng phải cám ơn dịch giả bỏ thời gian và công sức.
    Những gì tác giả Trạch Cường viết về vai trò và đóng góp rất quan trọng của tướng TC Trần Canh và cố vấn TC trong kỹ thuật tham mưu, kế hoạch hành quân trong chiến dịch biên giới Cao Bằng-Lạng Sơn năm 1950 đồng thuận với nhiều sách khác về giai đoạn này. Nó nói lên mối quan hệ rất chặt chẽ trong huấn luyện, trang bị quân trang, quân dụng, và tổ chức giữa 2 đội quân CS.