Anh Gấu Phạm - Hoàng tử và Đại tướng (5)

  • Bởi Admin
    22/10/2013
    0 phản hồi

    Anh Gấu Phạm

    Về đến Mỹ, Khanh bắt tay ngay vào việc gỡ băng thu âm cuộc đối thoại Hà Nội. Anh mất 19 tiếng để ghi xuống và dịch các đoạn nói chuyện trong buổi gặp kéo dài vỏn vẹn có một tiếng rưỡi. Khanh gửi bản dịch cho John để John chấp bút bài báo. Bài được đăng trong số tháng Mười một của George với nhan đề: The George Interview: Vietnam’s Ruthless Warrior General Vo Nguyen Giap (Mục Phỏng vấn của George: Tướng Võ Nguyên Giáp - Chiến binh Tàn nhẫn của Việt Nam.) Chữ ruthless trong tiếng Anh không nhất thiết có hàm ý nặng nề như tàn nhẫn trong tiếng Việt mà thường được dùng để nhận xét một người như không nương tay, không lụy tình, cứng rắn, lạnh lùng.


    Số báo có đăng bài phỏng vấn

    Bài báo khởi đầu với một đoạn giới thiệu về xuất thân và tóm tắt thân thế sự nghiệp của Tướng Giáp với một trọng tâm dễ hiểu về cuộc chiến Việt Mỹ. Đoạn này có những trích lời của Cụ Giáp về chiến tranh nhân dân, những thứ công thức mà ai đã đọc các hồi ký của Cụ chắc đều đã quen thuộc. Tác giả giải thích tính thiện chiến của quân đội [nhân dân Việt Nam] là kết hợp của tinh thần “ai cũng phải chiến đấu chống giặc” với việc huấn thị tư tưởng chính trị liên tục. Tướng Giáp có niềm tin rằng một đội quân du kích có kỷ luật có thể chiến thắng một quân đội thông thường dù họ có vũ trang tối tân đến đâu. Tác giả cho rằng cuộc chiến tranh chống Pháp đã chứng tỏ quan điểm này của ông Giáp là đúng và trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ông đã một lần nữa tìm cách khai thác những nhược điểm của đối phương.


    Trang đầu bài báo

    Điểm yếu chính của đối phương được coi là họ [quân Mỹ] thiếu năng lực đạt được các mục tiêu chính trị cần thiết để có được một chiến thắng quân sự lâu dài, ông Giáp đã sửa đổi các chiến thuật theo hướng này. Nói về quân Mỹ, bài báo trích lời ông Giáp nói rằng quân đội của ông sẽ đánh thắng quân Mỹ lúc họ có nhiều quân, nhiều vũ khí, nhiều hy vọng thắng trận nhất; bởi vì những ưu thế quân sự đó sẽ giống như cối xay nghiến vào cổ họ. Ông đã kéo dài cuộc chiến càng lâu càng tốt để làm cạn kiệt nguồn lực và tinh thần chiến đấu của đối phương, đồng thời lợi dụng tinh thần phản chiến dâng cao bên dân Mỹ.

    Tác giả cũng nhắc lời tướng Westmoreland về việc tướng Giáp là tay nướng quân không ngần ngại. Bằng chứng đưa ra là chính lời của Cụ Giáp được ghi lại nói rằng “hàng phút có hàng trăm, hàng ngàn người chết trên thế giới, thế thì nếu có 10 ngàn người hy sinh, dù họ có là đồng bào của chúng tôi đi nữa, thì cũng chưa phải là nhiều.” Tác giả bày tỏ cảm giác khó gắn kết hình ảnh vị tướng lẫy lừng với ông già 87 tuổi ngồi uống trà nhài và ăn bánh đậu xanh cùng tác giả hôm đó. Trước khi chuyển sang phần hai là phần trích dẫn trực tiếp các câu hỏi đáp, tác giả kể lại lời Cụ Giáp nói: “Tôi từng là vị tướng của chiến tranh nhưng giờ tôi muốn là vị tướng của hòa bình.” Cụ vừa nói vừa vỗ đùi tác giả - anh John.


    Trang hai bài báo

    Trong một câu trả lời về lịch sử gần đây của mối quan hệ Việt Mỹ, cụ Giáp có nhắc đến cha của John, cố Tổng thống Kennedy, rằng khi ông lên nhậm chức thì cụ là tổng tư lệnh và vì thế đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu những suy nghĩ và chính sách của vị Tổng thống mới. Ban đầu, tướng Giáp cho rằng Kennedy có kế hoạch sử dụng sức mạnh quân sự để giúp chính quyền Sài Gòn chặn đứng phong trào cộng sản nhưng sau này nhờ vào các tài liệu lịch sử mà ông Giáp nhận ra là Tổng thống Kennedy về sau đã thay đổi quan điểm và không còn ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm nữa và muốn duy trì một sự tham gia hạn chế của nước Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Ông Giáp đã đề cập đến một giả thiết là nếu Tổng thống Kennedy không chết thì mọi thứ có lẽ đã khác, không đến nỗi [tồi] như dưới thời các Tổng thống Johnson và Nixon. Đề cập đến quan hệ hậu chiến và tiến trình hòa giải, ông Giáp nói rằng hai nước phải cố tìm cách hiểu nhau, đặc biệt là các thế hệ người trẻ. Ngoài ra hai bên đều nên có trách nhiệm chung giúp đỡ các nạn nhân của chất độc Da Cam.

    Trong khoảng thời gian sau đó, Khanh bận rộn hơn với các công việc của gia đình. Giao tiếp giữa hai người thường qua điện thoại hay email. John đã đặt Khanh làm một bài phỏng vấn Pete Peterson, cựu tù binh Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò tục danh Hanoi Hilton lúc đó mới trở thành Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam sau chiến tranh. Khanh đã thực hiện bài phỏng vấn này và bài được đăng trên tạp chí George khoảng đầu năm 1999.

    Tới mùa hè năm 1999, Khanh dành phần lớn thời gian chăm sóc con trai anh điều trị bệnh ung thư máu. Tháng Bẩy năm 1999, cháu bé hoàn thành một đợt hóa trị kéo dài 2 năm rưỡi và Khanh quyết định đưa cháu đi sang Los Angeles chơi. Chiều ngày 16 tháng Bẩy, Khanh cùng con trai ăn tối sớm với Kevin, bạn thân của John là người đã cùng đi Việt Nam, để sau đó tới xem một buổi biểu diễn của Kevin nhân anh này có nghề tay trái là diễn hài. Lúc họ đang cùng trò chuyện về John và chuyến đi Việt Nam đầy kịch tính mùa hè năm trước lúc 7h chiều giờ bờ Tây tức 10h tối giờ bờ Đông Hoa Kỳ thì John đã chết rồi.


    Đường bay và địa điểm tai nạn

    Chiều tối ngày 16 tháng Bẩy năm 1999, John Kennedy Jr. cùng vợ là Carolyn và chị vợ là Lauren Bessette đã tử nạn trong một tai nạn máy bay do chính John lái bay từ New Jersey tới Martha’s Vinyard ở Massachusets để dự tiệc cưới của một người họ hàng của John. Do nhiều nguyên nhân (10 nguyên nhân như liệt kê của bên điều tra) mà chủ yếu là các nguyên nhân tầm nhìn kém, phi công thiếu kinh nghiệm, không đủ huấn luyện để bay đêm không có dụng cụ chỉ đường mà máy bay đã đâm xuống Đại Tây Dương.


    Tổng thống lúc đó là Bill Clinton đã cho phép tầu hải quân trợ giúp trong việc tìm xác các nạn nhân và sau đó ra lệnh treo cờ nửa cột – là hình thức treo cờ tang tưởng niệm của Mỹ - ở Nhà Trắng và các địa điểm công cộng trên toàn quốc. Kết quả giảo nghiệm cho thấy John đã tử vong ngay thời điểm máy bay đâm xuống mặt nước. Ngày 22 tháng Bẩy, tro xác của John cùng vợ và chị vợ đã được khu trục hạm USS Briscoe rải ngoài Đại Tây Dương bên bờ biển Martha’s Vinyard nơi tai nạn xảy ra. Nghi lễ trọng thể đặc biệt này dành cho những người chỉ là thường dân được chính Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là William Cohen cho phép.

    Khanh nhận được điện thoại của em trai anh báo tin sáng sớm ngày hôm sau tai nạn xảy ra khi cuộc tìm kiếm xác máy bay rơi và thi thể những nạn nhân vẫn đang diễn ra. Anh nói là anh biết chắc là John đã chết rồi dù lúc đó người ta chưa tìm thấy xác. Tôi không hỏi anh câu hỏi thừa là anh có buồn không khi mất một người bạn đặc biệt như John nhưng Khanh kể là anh có ngồi ngoài sa mạc và viết một bài dài về John để ghi lại những thứ kỷ niệm của tình bạn giữa hai người trong khoảng thời gian 5 năm. Khanh kể lúc chúng tôi bắt đầu ăn đồ tráng miệng về một cô bé mà John và anh đã gặp trên đường từ Hạ Long về Hà Nội. Cô bé khoảng 12 tuổi cõng đứa em đứng xin tiền bên bến phà nào đó. Nhìn cô bé khổ cực John nhờ Khanh hỏi chuyện rồi ra gặp mẹ cô bé tại nhà gần đó để hỏi tình cảnh ra sao, học hành thế nào. Cha đẻ cô bé đã mất và người mẹ tái giá với một người làm nghề xây dựng sống tạm bợ ở gần bến phà. Hàng ngày cô bé cõng em là con của mẹ với người chồng sau ra bến phà ăn xin. John đã hỏi xin địa chỉ của cô bé mà Khanh nhớ là Nguyễn Thị Thơm quê ở huyện Mỹ Hào để sau đó John muốn Khanh gửi chút gì giúp đỡ. Khanh nói rằng sau khi John mất thì anh không còn tâm trí đâu mà làm việc gì nữa và tấm giấy để địa chỉ của cô bé kia anh cũng để lẫn đâu mất. Anh gục đầu xuống xong lúc ngẩng mặt lên tôi nhìn thấy mắt anh có nước mắt. Anh nói anh đúng là “thằng hứa lèo” và nói với tôi chắc sẽ tìm bằng được địa chỉ của em Thơm để quay lại làm gì đó cho cô bé giờ chắc đã 26-27 tuổi để hoàn thành lời hứa với John.


    Số tưởng niệm trên tạp chí Time

    Từ đầu bữa Khanh thỉnh thoảng lại tặc lưỡi đồ ăn này “tinh vi” quá Khanh không biết ăn đâu. Nhưng giống như một người Hà Nội chính hiệu anh đả bánh mì Pháp với bơ bao nhiêu cũng hết. Đồ dessert chúng tôi ăn lúc cuối có món kem gồm ba muỗng kem dâu đặt trên một miếng đá băng lạnh tới mức tỏa mầu xanh thẳm như nước biển sâu. Mới hôm trước tôi được đọc trong sách Lolita của Nabokov một so sánh ẩn dụ một người mang trong mình miếng băng đá mầu xanh thay cho trái tim, một so sánh mà giờ lúc Khanh cúi đầu chảy nước mắt thương người bạn quá cố tôi thấy sao thật hợp tình hợp cảnh. Chúng tôi rời phòng ăn đi ra sảnh khách sạn. Mười lăm năm đã trôi qua kể từ buổi tiếp tân nào đó lúc Khanh và John bàn bạc về việc “cứ đi Việt Nam đi - xin phép không được thì xin lỗi.” Khách sạn đã được sửa sang tân tạo tới mức Khanh không nhớ ngay được chỗ mà anh và John đã đứng. Anh hỏi hai cô tiếp tân đứng đó – trông họ trẻ tới mức mà tôi nghĩ 15 năm trước đây chắc họ cũng chỉ là những cô gái bé như em Thơm ở Mỹ Hào – họ cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị phù hợp với người đang làm việc nhưng không giấu được vẻ tò mò về người đàn ông da trắng đi đi lại lại trong sảnh nói chuyện một mình bằng thứ tiếng châu Á nào đó mà họ không nhận ra. Không biết nếu các linh hồn có tồn tại thì John có tham gia cùng với bữa trưa của chúng tôi và đứng quanh đó lúc đó không.

    Tôi giữ máy ghi âm chạy trong suốt thời gian chúng tôi nói chuyện với nhau, lúc đó thời lượng thu âm đã chỉ gần 2 tiếng. Chúng tôi bước ra khỏi cửa kính khách sạn lúc 3h chiều một buổi chiều mùa thu nắng đẹp ở Washington DC. Tôi nheo mắt nhìn cảnh vật xung quanh và có cảm giác choáng ngợp như vừa xem xong một bộ phim rất xúc động, rất ấn tượng, và thật tới mức như có thể bẻ cong cảm nhận về thực tại.

    Khanh bỗng hỏi tôi: “Anh muốn biết chuyện về cái quần tôi đang mặc không?”

    Quả tình lúc tới đón anh tôi đã thấy cái quần đấy thật lạ. Nó như cái quần pajama hay quần của đám du lịch ba lô, mặc rộng rãi thoải mái may bằng thứ vải dầy và có những sọc nhỏ li ti như ô giấy kẻ caro với các đường kẻ mầu xanh lam và các ô vuông mầu xanh lục. Tôi đã định hỏi nhưng lại nghĩ không khéo trang phục tôn giáo gì đó mình hỏi lại thành ra mất lòng khách nên thôi. Giờ anh hỏi tôi mới gật gù rằng tôi muốn biết.

    “Lúc đi bơi thuyền bọn tôi muốn có một loại đồng phục nên tôi lấy cái quần của Kenan làm mẫu xong tôi ra chợ Đồng Xuân mua vải về may mỗi người trong nhóm một cái rồi đặt tên cho cả nhóm là Pác Bó Yatch Club – Câu lạc bộ thuyền buồm Pác Bó. Hai cái mầu xanh này chính là mầu nước biển Hạ Long và nước Bằng Giang.”

    Bằng giang - Cao bằng - Pắc Bó
    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi