Thể chế yếu kém là nguyên nhân sâu xa dẫn tới bất ổn và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay ở Việt Nam (1)

  • Bởi Admin
    16/10/2013
    6 phản hồi

    Dân Luận: Dưới đây là tóm lược không đầu đủ của bài thảo luận chính sách chuẩn bị cho Chương trình Lãnh Đạo Quản Lý Cao Cấp Việt Nam (VELP), có tên gọi ”Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng”, do Harvard Kennedy School và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright thực hiện vào tháng 8/2013. Các tác giả gồm Dwight Perkins, David O. Dapice, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Xuân Thành, Huỳnh Thế Du, Đỗ Thiên Anh Tuấn, Benjamin H. Wilkinson, Vũ Thành Tự Anh.

    Mời các bạn đọc toàn bộ báo cáo để biết chi tiết.

    Thể chế là nguyên nhân của mọi nguyên nhân

    Acemoglu và Robinson kết thúc một chương trong cuốn sách nổi tiếng “Vì sao các quốc gia thất bại?” bằng điệp khúc “Thể chế, thể chế, thể chế”, với thông điệp rõ ràng rằng: phát triển, thịnh vượng, xã hội hài hòa, dân chủ và tiến bộ, hết thảy đều có thể giải thích từ cấu trúc thể chế của mỗi xã hội. Vì lẽ đó, muốn đạt tới thịnh vượng, cải cách thể chế phải là chìa khóa… Luận điểm chính xuyên suốt Báo cáo này có thể diễn đạt ngắn gọn như sau: thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ. Để phục hồi tăng trưởng, luận điểm chính của Báo cáo này là cần tận dụng những cơ hội cải cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân.

    Nền kinh tế Việt Nam hiện đang trải qua giai đoạn tăng trưởng thấp nhất kể từ Đổi mới và thấp gần như tương đương so với thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998. Một phần của nguyên nhân chắc chắn liên quan đến những trục trặc của các nền kinh tế ở Liên minh châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng lý do chính khiến nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại chính là vì ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng kinh tế đang trục trặc. Bốn động cơ tăng trưởng này là khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), khu vực tư nhân trong nước, nông nghiệp, và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong những năm đầu của thế kỷ này, khu vực FDI và tư nhân trong nước bắt đầu phát triển mạnh, ngành nông nghiệp cũng hoạt động tốt. Khu vực doanh nghiệp nhà nước tuy kết quả không tốt nhưng cũng chỉ là một trong bốn động cơ tăng trưởng. Tuy nhiên, từ khi các tổng công ty (TCT) được chuyển ào ạt thành tập đoàn kinh tế (TĐKT), những yếu kém cơ bản của khu vực DNNN bộc lộ ngày càng rõ, đặc biệt là dưới tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước và khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Kết quả là sự sụp đổ của một số TĐKT và sự kém hiệu quả của khu vực DNNN đã được phơi bày, những điều này đã góp phần tạo ra những trục trặc hiện nay của hệ thống ngân hàng. Những trục trặc này, đến lượt mình, tác động tiêu cực đến kết quả kinh doanh của hai động cơ tăng trưởng nội địa khác là khu vực tư nhân và nông nghiệp. Duy nhất chỉ còn khu vực FDI là tiếp tục có kết quả tốt chủ yếu nhờ các doanh nghiệp FDI không hoàn toàn lệ thuộc vào hệ thống thể chế trong nước, đồng thời đang được hưởng lợi từ việc các ngành thâm dụng lao động bắt đầu dời khỏi Trung Quốc do tiền lương ở nước này tăng cao.

    Khu vực kinh tế nhà nước

    ... Ở Việt Nam, để phản ảnh đặc trưng “chủ nghĩa xã hội”, kinh tế nhà nước – mà trung tâm là Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) – được Đảng và Chính phủ lựa chọn đóng vai trò chủ đạo. Để đóng được vai trò chủ đạo, các DNNN được giao nắm các “yết hầu” của nền kinh tế, không những thế phải có quy mô áp đảo so với các thành phần kinh tế khác. Hai tiền đề này dẫn đến một số hệ lụy sâu sắc.

    Đầu tiên, với vai trò chủ đạo, các DNNN đương nhiên không cần phải cạnh tranh mà vẫn luôn là “người thắng cuộc”, ít nhất là trên thị trường nội địa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách “chọn trước người thắng cuộc” (“picking the winners”) thường dẫn đến sự thất bại, nhất là trong môi trường quản trị quốc gia và quản trị doanh nghiệp yếu kém.

    Thứ hai, các DNNN lớn – các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty – nghiễm nhiên được hưởng vị thế độc quyền trong các lĩnh vực then chốt hay thiết yếu và vị thế thống lĩnh thị trường trong bất kỳ thị trường nào mà chúng tham gia. Theo Báo cáo Tập trung kinh tế của Bộ Công Thương (2012), các tập đoàn kinh tế nhà nước đều chiếm vị trí thống lĩnh thị trường ở những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Đặc biệt, các tập đoàn kinh tế nhà nước giữ vị trí độc quyền hoặc chi phối trong các ngành dầu khí, than và khoáng sản, cơ sở hạ tầng giao thông, hàng không, đường sắt, và điện lực.

    Thứ ba, các tập đoàn và tổng công ty còn chi phối quyền và cơ hội kinh doanh thông qua một số cơ chế và thể chế có liên quan, đặc biệt là thông qua quy hoạch và chiến lược phát triển ngành – mà trong hầu hết các trường hợp, được Chính phủ và các bộ chỉ định trực tiếp biên soạn và thực hiện bởi các tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Vô hình trung, với cơ chế này, các tập đoàn và tổng công ty đã đồng nhất chiến lược và kế hoạch phát triển của toàn ngành với chiến lược và kế hoạch của chính họ.

    Thứ tư, để biến các DNNN thành các tổng công ty và sau đó thành tập đoàn quy mô, Nhà nước không chỉ ưu ái dành cho chúng rất nhiều nguồn lực (đặc biệt là đất đai, nguồn vốn, tín dụng, hợp đồng mua sắm công), mà còn tạo nên một vị thế cạnh tranh không công bằng, một khuôn khổ pháp lý và chính sách thiên lệch đối với khu vực tư nhân, đặc biệt là dân doanh trong nước. Kết quả là khu vực tư nhân – vốn năng động và hiệu quả hơn – bị khu vực DNNN chèn lấn một cách toàn diện, từ độc quyền kinh doanh, vốn, cơ hội tiệm cận các nguồn lực kinh tế, cho tới khả năng tham gia xây dựng chính sách, vì những lý đo đó khu vực tư nhân không thể phát triển được hết tiềm năng sẵn có của mình.

    Thứ năm, chính những biệt đãi về vai trò, vị thế, và nguồn lực kể trên đã nuôi dưỡng sự thụ động, phụ thuộc, thậm chí là ỷ lại, của các DNNN. Điều này, cộng với tính chất quan liêu vốn có của hệ thống nhà nước, dần dần làm thui chột sự chủ động, sáng tạo và tính chịu trách nhiệm của các DNNN mà kết quả cuối cùng là sự trì trệ và kém hiệu quả.

    Thứ sáu, khi các DNNN trì trệ, kém hiệu quả mà vẫn được đóng vai trò chủ đạo thì Nhà nước lại càng phải bơm thêm nguồn lực, thậm chí để cứu những DNNN đã và đang trên bờ vực phá sản – hiện tượng mà thuật ngữ kinh tế gọi là “giới hạn ngân sách mềm”. Như vậy, các DNNN này không những không phải chịu kỷ luật khắc nghiệt “lời ăn – lỗ chịu” của thị trường, mà còn không phải đối diện với kỷ cương của nhà nước. Gánh nặng do sự trì trệ, kém hiệu quả của khu vực DNNN này sau đó được chuyển thành gánh nặng ngân sách và nợ công, mà người chịu gánh nặng sau cùng chính là những người đóng thuế và những thế hệ tương lai của đất nước.

    Nhìn từ góc độ quản trị, mọi yếu kém của DNNN đều bắt nguồn từ quyền sở hữu không rõ ràng. Mặc dù các DNNN đã được chuyển đổi thành các công ty, đặc biệt là DNNN 100% vốn Nhà nước được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP, nhưng chúng vẫn thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước đại diện. Tùy theo quy mô của từng DNNN, quyền đại diện sở hữu của nhà nước được thực hiện bởi Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty. Cơ chế đại diện sở hữu nhiều tầng này cộng với tính hình thức của tất cả các tầng đại diện tạo ra một khoảng cách diệu vợi giữa những người chủ sở hữu cuối cùng với những người đại diện của mình. Bên cạnh đó, những hạn chế khác về quản trị (như thông tin kém minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình, sự tham gia hạn chế của công chúng) làm cho DNNN giống như những “hộp đen” trong nhận thức của người dân. Kết quả là những người chủ sở hữu cuối cùng – 90 triệu người dân Việt Nam – không thể thực thi được quyền sở hữu của mình, và do vậy quyền sở hữu thực sự, quyền kiểm soát (control rights) và quyền định đoạt cuối cùng (residual rights) đối với tài sản của DNNN đều nằm hoàn toàn trong tay các cơ quan nhà nước và các thể chế đại diện của nó...

    Cho đến nay trong khu vực DNNN, quyền đại diện sở hữu, thẩm quyền quản lý nhà nước, và chức năng quản lý – điều hành kinh doanh vẫn bị trộn lẫn vào nhau – hiện tượng thường được gọi là “ba trong một” trong hệ thống quản lý DNNN. Đồng thời, trong thẩm quyền quản lý nhà nước lại thiếu sự tách bạch giữa các vai trò của bộ chủ quản, cơ quan hoạch định chính sách, và cơ quan điều tiết – một tình trạng “ba trong một” nữa trong hệ thống quản lý DNNN. Rõ ràng là những cơ quan này có mục tiêu, chức năng, vai trò, nhiệm vụ, và công cụ khác nhau, vì vậy khi trộn “ba trong một”, tất yếu sẽ dẫn tới nhiều sự chồng chéo và lẫn lộn trong những khía cạnh này, từ đó gây ra nhiều mâu thuẫn và xung đột lợi ích, làm triệt tiêu hiệu quả và hiệu lực của toàn bộ hệ thống quản trị DNNN. Kết quả cuối cùng là sự thất bại của nhiều tập đoàn và tổng công ty, trong đó tiêu biểu là Vinashin, Vinalines và Sông Đà như chúng ta đã chứng kiến trong thời gian qua.

    Sự xung đột lợi ích trong điều tiết – ví dụ như khi bộ chủ quản đồng thời là cơ quan điều tiết nên tìm cách bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp trực thuộc mình – bản thân đã nguy hiểm, nhưng nó còn trở nên nguy hiểm hơn khi các doanh nghiệp được bảo vệ vừa kém hiệu quả vừa có vị thế độc quyền. Ở Việt Nam, sự bảo vệ này nhiều khi được khoác tấm áo thị trường – cụ thể là DNNN độc quyền được phép “định giá theo cơ chế thị trường”. Cần nhớ rằng cơ chế giá thị trường chỉ thực sự tồn tại trong môi trường cạnh tranh chứ không thể hình thành trong môi trường độc quyền. Nói cách khác, việc DNNN độc quyền được định giá theo cơ chế thị trường là một biểu hiện của tình trạng quyền lực nhà nước bị lợi dụng để bảo vệ lợi ích cho một nhóm thiểu số doanh nghiệp với cái giá phải trả của toàn bộ nền kinh tế.

    Khi DNNN không bị ép buộc phải cạnh tranh – tức là không phải chịu kỷ luật của thị trường, đồng thời không chịu sự điều tiết và giám sát của nhà nước – tức là không phải chịu kỷ cương của nhà nước, thì để vãn hồi hiệu quả, ít nhất nó cũng phải chịu sự giám sát của xã hội. Thế nhưng với tình trạng kém minh bạch thông tin ở các DNNN hiện nay thì khả năng giám sát của xã hội cũng hết sức hạn chế.

    bang2.png

    Nghiên cứu mới đây về tính minh bạch của khu vực DNNN của Ngân hàng Thế giới cho thấy phần lớn thông tin của DNNN nhằm phục vụ cho các mục đích nội bộ, không những thế chất lượng của các thông tin này cũng rất thấp. Đối với công chúng, các DNNN nhiều khi không cung cấp thông tin, và nếu có thì thông tin thường lỗi thời, không rõ ràng, thậm chí mâu thuẫn. Ngay đối với các tập đoàn và tổng công ty – những DNNN lớn và có mức độ công bố thông tin tốt hơn cả – thì tình trạng minh bạch thông tin cũng rất kém (xem Bảng 2), gây cản trở nghiêm trọng cho việc quản lý và điều tiết của Chính phủ cũng như giám sát của công chúng và người dân – những chủ sở hữu cuối cùng của chính các doanh nghiệp này.

    Tóm lại, những đổ vỡ, trì trệ và kém hiệu quả trong khu vực DNNN có nguyên nhân do chế độ sở hữu không rõ ràng, do các áp lực cạnh tranh và kỷ luật thị trường chưa thể vận hành đối với loại hình doanh nghiệp này, và do sự nuông chiều, thiếu kỷ cương trong quản lý và điều tiết của nhà nước. Sự yếu kém của khu vực DNNN không chỉ gây ra lãng phí và phân bổ nguồn lực kém hiệu quả, mà quan trọng hơn, nó làm khu vực này trở thành lực cản đối với những đòi hỏi cấp bách của chương trình tái cơ cấu nền kinh tế. Rõ ràng là nếu không thay đổi được vai trò, động cơ khuyến khích, hệ thống quản lý và điều tiết đối với khu vực này thì chương trình tái cơ cấu không thể thành công.

    (còn tiếp)

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    (Dân trí) - Đề xuất Nhà nước xem xét in hình các vị lãnh đạo có công với nước qua các thời kỳ trên các đồng tiền còn lại, bên cạnh in hình Bác Hồ ở tờ tiền có mệnh giá lớn đã nhận được nhiều ý kiến tranh luận trái chiều…
    -Ở nước ta, việc lựa chọn, quyết định hình ảnh được in trên đồng tiền do Bộ Chính trị quyết định.
    -Trước thềm kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước có tập hợp ý kiến cử tri và trả lời cử tri về các vấn đề liên quan. Trong đó, cử tri tỉnh Long An có kiến nghị xem xét trong việc phát hành tiền giấy, ngoài in hình Bác Hồ ở tờ tiền có mệnh giá lớn, Nhà nước xem xét nên in hình các vị lãnh đạo có công với nước qua các thời kỳ trên các đồng tiền còn lại.

    Góp ý cho nhà nước:

    Tôi nhiệt liệt hoan ngenh chủ trương in hình của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà Nước lên tiền Việt Nam. Làm như vậy để nêu rõ công to của các đồng chí đó. Đồng thời khuyến khích thế hệ trẻ noi theo các tấm gương sáng như trăng rằm. Đây cũng là một hình thức tuyên truyền, cũng như trên các tờ Đô La Mỹ đều in hình tổng thống Mỹ. Theo tôi ước tính thì VND hiện có các mệnh giá sau: 500 ngàn VND, 200 ngàn VND, 100 ngàn VND, 50 ngàn VND,10 ngàn VND, 5 ngàn VND, 2 ngàn VND, 1 ngàn VND, 500 VND, 200 VND, !00 VND. Như vậy cả thể có 11 tờ có mệnh giá khác nhau.Chúng ta cứ in lần lượt từ mẹnh giá lớn đến nhỏ, theo thứ tự công lao đóng góp từ nhiều đến ít. Ví như Cụ Hồ thì in vào tờ 500.000VND, Bác Tôn 200.000VND, Đại Tướng Giáp 100.000 VND,...v.v. Ngoài ra còn các đồng chí Tổng Bí Thư ĐCSVN nữa, thật nhiều không kể xiết Tuy nhiên các đồng chí có công thì nhiều, số mệnh giá lại ít, không có chỗ in. Vậy ta nên bình bầu xem mỗi đồng chí đáng giá bao nhiêu, sau đó cộng lại cho đủ mệnh giá mà in lên. Ngoài ra , in thêm các mệnh giá mới: 50 VND, 20VND, 10 VND, 5 VND, 2 VND, 1 VND. Thiếu nữa thì in thêm tiền xu, như thế cũng giả quyết phần lớn các đồng chí có công với nhà nước Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo ngày nay tuy công bé, nhưng cũng không nên bỏ qua. Có thể góp vài đồng chí lại rồi in vào tiền xu, hoặc vận động nhân dân in các đồng chí vào tiền âm phủ, để cúng bái thường xuyên. Cái hay là ở chỗ không ai bị bỏ xót, như vậy là rất công bằng. Một thời gian sau khi mọi người đã quen với mệnh giá rồi, thì ta bỏ luôn con số cho đỡ tốn mực. Khi đọc giá thì ta cứ đọc như: mười cụ Mượt, tức 5 triệu như ngày xưa, hoặc 20 đồng chí X, tức 1 xu, v.v. Nếu ai có năng khiếu đề nghị phát triển bài này hộ tôi. Còn nhiều ý có thể khai triển nhưng tôi không đủ kiến thức để viết tiếp.

    Ở Việt Nam, để phản ảnh đặc trưng “chủ nghĩa xã hội”, kinh tế nhà nước – mà trung tâm là Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) – được Đảng và Chính phủ lựa chọn đóng vai trò chủ đạo.

    -------------------

    Chỉ khi nào mọi công dân có quyền lựa chon một cách tự do, bình đẳng, thông qua lá phiếu, thì lúc đó mới có thay đổi nhanh chóng

    Vấn đề nhìn ra nguyên nhân yếu kém không phải là mới và quá khó, nhưng ai là người cải cách thể chế và bằng cách nào mới là vấn đề nan giải. Bởi ngay trong chỉ đạo sửa đổi HP 1992, ông NPT TBT đã chỉ đại :" Kinh tế nhà nước là chủ đạo, là đầu tàu của nền kinh tế.." và rằng " dưới ánh sáng CN Max- Lenin, chúng ta kiên định lập trường xây dựng VN tiến lên XHCN,..". Chỉ còn cách ngẩng lên trời kêu 3 tiếng : Ô hô hô! (3). "HP phải là cương lĩnh thứ 2 của đảng" thì thể chế có mà chạy đằng giời cũng về lại 1982 .

    Công ty nhà nước như Bưu Điện của Mỹ còn lỗ sặc gạch, huống gì là ở VN. Ít ra, công ty bưu điện Mỹ lỗ là do trả lương bổng cho nhân viên quá hậu hĩnh + thay đổi công nghệ (internet, online payment, etc...) nên số lượng thư từ gửi bị ít lại. Còn ở VN & TQ, lỗ là lương bổng trả cho nhân viên cao hơn mức bình thường đã đành (chỉ vài công ty độc quyền như dầu khí, điện...,) phần lớn là do tham nhũng (kick back hay lại quả,) một phần lớn nữa là chính vì tham nhũng (kick-back) gây phá hoại/kém hiệu quả trong vận hành (ví dụ: mua máy móc dỏm nhưng được "chiết khấu" cao -> mau hư -> hiệu năng kém -> giá thành cao -> dân không mua...)

    Tóm tắt, đã là doanh nghiệp nhà nước thì ở Tư Bản hay XHCN gì cũng không làm tốt bằng tư nhân. Những hãng hàng không do nhà nước làm chủ như ở Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan xưa kia hoạt động có lời, giờ thì cũng phải cổ phần hoá thành tư nhân hết vì cạnh tranh không nổi với các hãng hàng không tư nhân (nội địa hay quốc tế.)

    Thực ra, kinh nghiệm từ lâu, từ nhiều nước đã cho thấy phần lớn doanh nghiệp nhà nước là thua lỗ, thất bại, chỉ trừ một số trường hợp rất ít, hiếm hoi. Ai có học qua quản lý kinh tế, hay sống qua ở các nước có tự do thông tin đều biết điều sơ đẳng này.

    Theo ý nghĩa đó, và với nhận thức việc Đảng độc quyền lãnh đạo ở nước ta hàng chục năm nay, bài này không nói lên được cái gì lạ, không có gì mới. Có lạ chăng là bài được viết bởi một nhóm học giả.

    Mấy ông Mỹ hoặc Việt gốc Mỹ thì chắc chưa hiểu, hay không biết Đảng ta độc quyền lãnh đạo mọi mặt là như thế nào, hoặc là mấy ông ấy muốn xem một khi thất bại thì tại sao thất bại. Vì rằng ở Mỹ họ không thể tìm thấy hay rất khó tìm thấy một trường hợp quản lý nào có thể thất bại tệ hại, thảm hại như thế.

    Mấy ông Việt thì chắc là biết rồi, nhưng nay có thể viết ra bằng ngôn ngữ nghiên cứu (scholarly language), thay vì hô khẩu hiệu hay dùng Đảng ngữ. Thế nhưng, biết đâu có người lại cho đây là một khám phá khoa học quản lý - kinh tế - nhà nước, chưa từng phát hiện, xứng đáng một giải Nobel về kinh tế? Hay giải thưởng Hồ chí Minh?

    Việc kế tiếp là gì? "Báo cáo này được ông Nguyễn Xuân Thành, trưởng nhóm trên gửi tới uỷ ban Kinh tế Quốc hội." Kinh thế, Cuốc hội nào? Mỹ hay ta? Quốc hội Mỹ chắc chẳng thèm đọc, họ chắc đang mừng đã đạt được thoả hiệp để khỏi bị default, vừa có quỹ để chính phủ làm việc trở lại một thời gian. Cuốc hội ta thì đọc báo cáo chắc cũng chẳng nổi, nói chi đến làm được cái gì.

    Thôi, thay mặt Đảng, để tớ đi ngủ, sáng mai phải đi hô khẩu hiệu tiếp. Bao nhiêu năm rồi đã vậy, tớ chẳng thế nào có thể quậy khác được.

    Bye bye Harvard. See you Fulbright. Until next report.

    Một bài phân tích rất quan trọng về những nút thắt cản trở phát triển kinh tế ở Việt Nam. Thử tìm Google với từ khoá "Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng" thì ra khá nhiều bài, cả báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, VNN v.v... cũng có bài về nó. Nhưng trong số này chỉ có phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị là nói đúng, nói đủ về bản báo cáo này, còn lại toàn bàn đâu đâu, thậm chí tránh nhắc đến từ "thể chế yếu kém":

    Đằng sau sự trục trặc của tăng trưởng kinh tế

    SGTT.VN - “Đằng sau sự trục trặc của tăng trưởng kinh tế Việt Nam là nguyên nhân về thể chế”, đây là đánh giá chung trong báo cáo “Khơi thông những nút thắt về thể chế để phục hồi tăng trưởng” của nhóm chuyên gia kinh tế thuộc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, gồm các tác giả Vũ Thành Tự Anh, Phạm Duy Nghĩa, Huỳnh Thế Du, Đỗ Thiên Anh Tuấn, Ben Wilkinson, Dwight Perkins và David Dapice. Báo cáo này được ông Nguyễn Xuân Thành, trưởng nhóm trên gửi tới uỷ ban Kinh tế Quốc hội.

    Xuyên suốt bản báo cáo là luận điểm: thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ.

    Với phần tóm tắt trong thời gian có hạn, nhận định nổi bật của nhóm tác giả đã nhận được sự đồng tình cao là trong bốn động cơ tăng trưởng thì ba động cơ “nội” gồm khu vực kinh tế nhà nước, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và nông nghiệp đang trục trặc.

    Chỉ có một động cơ “ngoại” – khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang chạy tốt. Và điều quan trọng được ông Thành nhấn mạnh: đằng sau sự trục trặc của ba động cơ “nội” là nguyên nhân về thể chế.

    Theo lý giải của nhóm nghiên cứu, sở dĩ động cơ còn lại hoạt động tốt là do các doanh nghiệp FDI dựa chủ yếu vào thể chế ở bên ngoài để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ thống luật pháp chi phối các quan hệ hợp đồng, bộ máy quản trị doanh nghiệp, liên kết sản xuất và tín dụng cũng đều từ bên ngoài và của nước ngoài.

    Tuy nhiên, “điểm rất hay” được ông Thành nhấn mạnh là trong bối cảnh suy kiệt của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, vẫn có những doanh nghiệp thành công nhờ “lách” được yếu kém của thể chế trong nước và có thể sử dụng nguồn lực ở nước ngoài.

    Nhưng, hộ gia đình ở khu vực nông nghiệp thì không có cách gì lách được khó khăn về thể chế nếu quyền sở hữu về đất đai không rõ ràng. Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng sự đầu tư của hộ gia đình có sự suy giảm rất mạnh bởi liên kết rất chặt với quyền sở hữu không rõ ràng, khi họ không bỏ tiền đầu tư vào đất, mà chỉ có động cơ khai thác tối đa trong thời hạn ngắn ngủi còn lại mà họ có được.

    Còn khu vực FDI thì ngay cả quyền sở hữu về đất đai họ cũng không bị ảnh hưởng vì họ chỉ thuê đất tại Việt Nam, ông Thành phân tích.

    Đồng tình với nhận định của nhóm nghiên cứu, vị chuyên gia trong lĩnh vực thống kê của Việt Nam là ông Bùi Trinh dẫn số liệu tính toán từ niên giám Thống kê cho thấy tỷ trọng giá trị gia tăng của khu vực FDI trong GDP năm 2000 khoảng 13%, đến năm 2011 tỷ lệ này tăng khoảng 7 điểm phần trăm (chiếm khoảng 20% GDP). Nhưng lượng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài (chi trả sở hữu trừ thu từ sở hữu) của năm 2011 theo giá hiện hành tăng gần 19 lần so với năm 2000, và nếu loại trừ yếu tố giá thì tỷ lệ này cũng xấp xỉ tám lần.

    Theo ông Trinh, điều này góp phần làm mức độ để dành (saving) của trong nước ngày càng giảm và nếu loại trừ kiều hối thì tỷ lệ này chỉ chiếm khoảng trên dưới 20% GDP. Và, để dành của một quốc gia là nguồn cơ bản để tái đầu tư trong khi đầu tư hàng năm chiếm trong GDP vẫn rất cao, trung bình từ năm 2000 – 2011 lượng đầu tư vẫn chiếm trong GDP khoảng 40% (đặc biệt năm 2007 tỷ trọng này lên tới 46% GDP và từ năm 2004 – 2010 tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đều trên 41%).

    Luồng tiền chi trả sở hữu thuần đi ra nước ngoài sẽ càng trầm trọng nếu ba động cơ nội địa không được phục hồi và khu vực FDI ngày càng lấn át động cơ nội. Điều gì sẽ xảy ra khi khu vực này chiếm 30% trong GDP? Vì cái thực sự mà đất nước và nhân dân được hưởng và tích luỹ không phải là chỉ tiêu “phù phiếm” GDP mà là tổng thu nhập quốc gia (GNI) và khoản để dành của mọi khu vực sở hữu trong nước, ông Trinh bày tỏ.

    Như vậy, khi đã xác định được sự đình trệ của khu vực sản xuất trong nước là do thể chế thì các nhà hoạch định chính sách có thể cải thiện thể chế để phục hồi ba động cơ nội. Việc cải thiện thể chế không chỉ là giãn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp mà chính là thái độ công bằng, minh bạch và sòng phẳng đối với khu vực tư nhân và nông nghiệp. Điều này không tốn kém nhưng cũng rất khó khăn vì phải tái cơ cấu cách nghĩ! Việc đạt được thành tích tăng trưởng này nọ thực sự không quan trọng bằng việc phục hồi ba động cơ nội, ông Trinh nhấn mạnh.

    Các nhà hoạch định chính sách có thể cải thiện thể chế để phục hồi ba động cơ nội của nền kinh tế. Việc này không chỉ là giãn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp mà chính là thái độ công bằng, minh bạch và sòng phẳng đối với khu vực tư nhân và nông nghiệp.

    Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng, hiện nay vấn đề bức bách nhất vẫn là tái cấu trúc kinh tế để thoát khỏi vòng xoáy tăng trưởng thấp. Bởi nếu không tiến hành thay đổi và duy trì hiện trạng với các chính sách kinh tế quan trọng liên quan đến khu vực ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước, khu vực tư nhân và nông nghiệp sẽ có khả năng mang lại tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ ở mức 3 hoặc 4% một năm, và thật sự nguy cơ sẽ còn thấp hơn nữa.

    Khái quát những nút thắt thể chế, nhóm nghiên cứu nhìn nhận xác lập quyền sở hữu rõ ràng vẫn là một thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Chế độ sở hữu hiện thời của Việt Nam mang tính phân tán, cát cứ, không rõ chủ đối với đất đai, tài nguyên công cộng, đối với phần vốn của nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, đối với đầu tư công.

    Trong bối cảnh quyền sở hữu phân tán như vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng, những nhóm xã hội có thế lực và các doanh nghiệp có quan hệ thân thiết với giới chức trong chính quyền nắm quyền định đoạt các nguồn lực kinh tế trong quốc gia sẽ được hưởng lợi. Các thể chế kinh tế trên thực tế sẽ được xác lập để ráo riết bảo vệ lợi ích của họ.

    Từ nay đến năm 2016, bản báo cáo cho rằng ở Việt Nam dày đặc các cơ hội cải cách thể chế với việc sửa đổi Hiến pháp và nhiều đạo luật liên quan đến thể chế kinh tế, quản lý xã hội.

    Sở hữu đất đai, vấn đề dường như đã được khẳng định tại dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cũng được nhóm nghiên cứu đề cập với quan điểm có thể giữ nguyên sở hữu toàn dân về đất đai, nhưng coi đó là khái niệm chính trị chứ không phải là khái niệm kinh tế và xác định sự sở hữu thực tế là quyền sở hữu chắc chắn của người nắm giữ tài sản.

    Với doanh nghiệp nhà nước, để tránh phân tán và cát cứ trong thực hiện quyền sở hữu, bản báo cáo cho rằng cần thảo luận để thành lập các cơ quan tín thác nhận uỷ nhiệm của chính quyền, để thực thi một cách tập trung các quyền sở hữu của nhà nước tại doanh nghiệp.

    Nam Thanh
    http://sgtt.vn/Goc-nhin/183980/Dang-sau-su-truc-trac-cua-tang-truong-kinh-te.html