Giáo sư Carl Thayer - Những điều ít được biết đến về Tướng Giáp

  • Bởi Khách
    14/10/2013
    49 phản hồi

    Trọng Nghĩa phỏng vấn

    Vào hôm nay, 13/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về đến nơi an nghỉ cuối cùng tại quê nhà tỉnh Quảng Bình. Từ lúc ông qua đời đến nay, đã có rất nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trong khuôn khổ tạp chí đặc biệt hôm nay, RFI Việt ngữ xin giới thiệu nhận định của Giáo sư Carl Thayer – chuyên gia kỳ cựu về quân sự và chính trị Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) – về một số yếu tố ít được nói đến, nếu không muốn nói là hoàn toàn vắng bóng – trong tiểu sử chính thức của Đại tướng Giáp.

    RFI : Cho đến nay, các nhà báo và các nhà bình luận đã nói rất nhiều về cuộc đời của tướng Giáp. Theo quan điểm của Giáo sư, di sản chính của ông Giáp là gì?

    CarleThayer: Sự nghiệp của Tướng Võ Nguyên Giáp trải dài trên 64 năm kể từ năm 1927, khi ông bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì hoạt động chính trị, cho đến năm 1991 khi ông chính thức rời bỏ tất cả các chức vụ trong Đảng và Nhà nước. Sự nghiệp của ông có thể chia thành năm giai đoạn:

    - 1927-1944: Ông còn là một học sinh đấu tranh, nhà báo, một nhà tuyên truyền chính trị, một tù nhân, một giáo viên và một sinh viên sau đại học;

    - 1944-1973: Ông giữ nhiều chức vụ trong đó có chức chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị;

    - 1974-1980: Ông từ bỏ quyền kiểm soát hoạt động của quân đội và giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị;

    - 1980-1991: Ông thôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ; trong thời gian này, ông phụ trách khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình, và sau đó giáo dục;

    - 1991-2013: Tướng Giáp rời khỏi chức vụ cuối cùng là Phó Thủ tướng chính phủ và nghỉ hưu vĩnh viễn.

    Di sản chính của Tướng Giáp xuất phát từ vai trò tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hai (1944-1973). Ông bắt đầu chỉ huy một trung đội 34 người và phát triển lực lượng này thành một đạo quân nhân dân gồm vài trăm ngàn người trong không đầy mười năm. Tướng Giáp đồng thời kết hợp các tác phẩm quân sự của Napoleon, Clausewitz và Mao Trạch Đông với truyền thống quân sự cổ xưa của Việt Nam.

    Tướng Giáp nắm vững nghệ thuật chiến tranh nhân dân bằng cách vận động dân chúng để chiến đấu và trở thành nhân công trong mạng lưới hậu cần rộng lớn của ông. Tướng Giáp biết kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự. Mục tiêu của ông là đuổi Pháp ra khỏi Việt Nam trong một cuộc chiến tranh trường kỳ.

    Chiến công lẫy lừng nhất của ông là chiến dịch dẫn đến sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ. Tướng Giáp dùng chiến thuật nghi binh, gửi lực lượng của mình sang Lào và rồi sau đó cấp tốc chuyển hướng tiến đến vùng thung lũng Điện Biên Phủ. Tướng Giáp đã nhanh chóng bác bỏ lời khuyên của các chuyên gia Trung Quốc tung các làn sóng người tấn công vào doanh trại quân Pháp. Ông đã sử dụng chiến thuật bao vây, với lực lượng được tiếp ứng liên tục về mặt hậu cần, cung cấp lương thực, thiết bị vật tư, vũ khí và đạn dược cho chiến trường.

    Tầm quan trọng của trận Điện Biên Phủ là nó không chỉ đánh dấu sự thất bại của thực dân Pháp ở Đông Dương, mà cả của chủ nghĩa thực dân như một hệ thống trên toàn thế giới. Trong vòng tám năm sau đó, Pháp sẽ phải chịu thất bại ở Algeri.

    Hai tiểu sử: Chính thức và không chính thức

    RFI : Giáo sư đánh giá sao về một số « điều được che giấu » về cuộc đời của Tướng Võ Nguyên Giáp, những điều không hề xuất hiện trong tiểu sử chính thức ?

    Carl Thayer : Có hai phiên bản về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước hết là tiểu sử chính thức mang tính chất tôn vinh, gán cho ông tất cả những thành công quân sự của Việt Nam kể từ năm 1944 và miêu tả ông như một viên tướng tài ba hoàn hảo.

    Phiên bản thứ hai về sự nghiệp của Tướng Giáp không mang tính chất chính thức và cho thấy rằng ông là một người kiên định – có người cho đây là tính kiêu ngạo về mặt trí thức – một người cá nhân chủ nghĩa dễ nổi giận khi bị can thiệp vào vai trò tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của ông. Ông được mô tả như là “ngọn núi lửa dưới lớp băng tuyết” chính vì yếu tố được cho là nóng nảy đó.

    Tướng Giáp có nhiều người ủng hộ nhưng cũng bị nhiều người gièm pha. Lúc còn công tác, ông thường xuyên đụng chạm với những người gièm pha và các đối thủ của ông, những người không ngần ngại chỉ trích ông. Những người phê phán ông xuất phát từ hai động cơ: Chủ nghĩa giáo điều về mặt ý thức hệ và lòng ghen tị, sợ rằng Tướng Giáp nổi tiếng sẽ làm quyền lực của họ suy yếu. Đấy là thời kỳ lãnh đạo tập thể vô danh.

    Trong suốt sự nghiệp của mình, ông Giáp từng bị chỉ trích vì đã tìm kiếm một học bổng của chính quyền thực dân Pháp, có người thậm chí còn hàm ý rằng – nếu không nói là buộc tội ông – là một nhân viên Sở Mật thám Pháp.

    Ông cũng bị đả kích vì học chương trình Pháp, có được bằng tú tài baccalauréat, học tại trường Trung học Albert Sarraut có uy tín, nơi ông đứng đầu môn triết học, và Trường Đại học Luật Hà Nội, nơi ông tốt nghiệp thủ khoa về kinh tế chính trị. Đối thủ của Tướng Giáp đã dùng thành tích học tập của ông để quật lại ông. Dẫu sao thì ông thành viên duy nhất trong ban lãnh đạo bên trong (tối cao) của Đảng có được một nền giáo dục phương Tây.

    Các yếu tố không được phép nêu lên trong sự nghiệp của Tướng Giáp cho thấy một tập thể lãnh đạo chia rẽ và sự ganh đua rõ ràng giữa các cá nhân. Cuộc đối đầu giữa Tướng Giáp với nhà ý thức hệ Trường Chinh đã thành huyền thoại, tương tự như các cuộc đụng độ sau này của ông với Tướng Nguyễn Chí Thanh và ông Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất của Đảng Cộng sản.

    Bất đồng với Trường Chinh về vai trò cố vấn Trung Quốc

    Năm 1946, Trường Chinh, đứng thứ hai trong ban lãnh đạo sau Hồ Chí Minh, đã thất bại trong việc ngăn không cho ông Giáp được phong cấp Đại tướng và chức chỉ huy Quân đội Nhân dân. Trường Chinh và Tướng Giáp bất đồng về phạm vi và mức độ mà các cố vấn quân sự Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến chiến lược chiến trường của Việt Nam, và trên quyền của Tướng Giáp được đơn phương bổ nhiệm các trợ lý quan trọng.

    Vào năm 1951, Tướng Giáp đã cho mở một cuộc tấn công quá sớm vào các vị trí kiên cố của Pháp ở đồng bằng sông Hồng. Chiến dịch thất bại và Quân đội Nhân dân bị thương vong nặng nề. Tướng Giáp bị buộc phải tự phê bình, cách chức một số phụ tá quan trọng, cho phép thành lập một hệ thống chính trị viên trong quân đội, và chấp nhận các cố vấn quân sự Trung Quốc ở các cấp độ khác nhau trong Quân đội Nhân dân.

    Sau khi Chiến tranh Đông Dương đầu tiên (1946-1954) kết thúc Việt Nam bị chia cắt. Mặc dù Tướng Giáp đã có uy tín rất lớn, nhưng những kẻ đả kích ông vẫn tiếp tục thách thức quyền lực của ông và đặt nghi vấn về cách ông điều hành cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Bí thư Thứ nhất của Đảng là Lê Duẩn muốn đẩy mạnh việc lật đổ chính quyền miền Nam, ông Giáp thận trọng hơn và hai người kình chống nhau.

    Phe gièm pha Tướng Giáp đã thành công trong việc đề bạt ông Nguyễn Chí Thanh (1959) và sau đó là ông Văn Tiến Dũng (1974) lên cấp Đại tướng. Trước lúc những người này được thăng cấp, chỉ có ông Giáp mang cấp Đại tướng mà thôi. Cả hai vị tướng mới đề bạt về sau, đều đã giành lấy quyền kiểm soát hoạt động chiến tranh trong Nam từ tay của ông Giáp.

    Vào năm 1960, Tướng Giáp đã bị đẩy lùi từ hàng thứ tư xuống hàng thứ sáu trong Bộ Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba. Chủ trương chung sống hòa bình của lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào năm 1960 là điều đã tác hại đến nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam.

    Tướng Giáp, người thiên về phía Liên Xô – nước đã hỗ trợ quân sự cho Việt Nam – và có thái độ phê phán với Trung Quốc, đã không đồng nhịp với các lãnh đạo khác. Một lần nữa, ông đã bị các đồng chí chỉ trích.

    Trong năm 1965, khi Hoa Kỳ tung lực lượng chiến đấu vào Việt Nam, Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ra lệnh tung các đơn vị Quân đội Nhân dân miền Bắc vào cuộc chiến. Nguyễn Chí Thanh là người thiết kế chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 nhưng qua đời vì một cơn đau tim trước khi chiến dịch được thực hiện. Lực lượng Cộng sản miền Nam nằm vùng bị thương vong rất lớn, Tướng Giáp được phuc hồi và uy tín của ông tăng thêm.

    Sau cái chết của Hồ Chí Minh vào năm 1969, một bộ ba lãnh đạo mới nổi lên: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Vào thời điểm đó, Tướng Giáp nắm ba vai trò quan trọng: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, ông không bao giờ lấy lại được quyền kiểm soát hoạt động của các lực lượng vũ trang. Tướng Giáp đã phản đối cả hai chiến dịch Tết Mậu Thân và chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, và ý kiến ông đã bị bác bỏ cả hai lần.

    Tháng 4 năm 1972, Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ và đến tháng 10 năm 1973, ông được trao quyền chỉ huy của cuộc tấn công cuối cùng của cuộc chiến: Chiến dịch Hồ Chí Minh. Điểm đáng chú ý, đó là sự kiện chính một Ủy viên dân sự cao cấp của Bộ Chính trị – ông Lê Đức Thọ – chứ không phải là Tướng Giáp, là người ra chỉ thị cho Quân đội Nhân dân bắt đầu chiến dịch tấn công cuối cùng của mình bằng cách tấn công Ban Mê Thuột ở vùng Cao nguyên.

    Sau năm 1975, bị gạt ra bên lề, nhưng vẫn lên tiếng

    RFI : Về các hoạt động của ông sau năm 1975, một số người cho rằng ông đã hoàn toàn không còn vai trò gì, nhưng cũng có người thấy rằng người ta gạt được ông ra bên lề, nhưng không hoàn toàn bịt miệng được ông. Ý kiến của Giáo sư như thế nào?

    Carl Thayer : Sau khi Việt Nam thống nhất, Tướng Giáp vẫn làm Bộ trưởng Quốc phòng cho đến năm 1980. Nhưng chính Tướng Văn Tiến Dũng là người chỉ huy quân đội Việt Nam đánh qua Cam Bốt vào cuối năm 1978 và bảo vệ miền Bắc Việt Nam vào tháng Hai – tháng Ba năm 1979 khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam để trả thù.

    Rõ ràng ngôi sao của Tướng Giáp vào thời điểm đó lu mờ nhanh chóng. Năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng là người đọc báo cáo quân sự tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tư, còn Tướng Giáp được phân công nói về các chính sách của Đảng về khoa học và công nghệ. Tướng Giáp cũng không thành công khi phản đối việc giao cho quân đội nhiệm vụ xây dựng đất nước sau chiến tranh. Ông đã phải cúi đầu trước nguyên tắc “tập trung dân chủ” của Đảng và bảo vệ chính sách của Đảng trước công chúng.

    Tháng 2 năm 1980, Tướng Giáp rời khỏi Bộ Quốc phòng, nhưng vẫn giữ chức Phó Thủ tướng. Năm 1981, ông thoạt đầu bị giáng cấp từ Phó Thủ tướng thứ nhất xuống làm Phó Thủ tướng thứ ba. Đến tháng Ba năm 1982, Tướng Giáp bị loại ra khỏi Bộ Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ năm, nhưng vẫn giữ được chức Ủy viên Trung ương Đảng.

    Tướng Võ Nguyên Giáp rất được lòng dân và có hậu thuẫn mạnh mẽ trong Đảng. Vào giữa những năm 1980, những người ủng hộ ông đã thất bại trong việc đưa ông lên thay thế ông Phạm Văn Đồng ở chức Thủ tướng. Cũng có rất nhiều tin đồn về việc những người ủng hộ Tướng Giáp vận động để ông trở thành lãnh đạo Đảng. Sau đó, ông Giáp lần lượt phụ trách vấn đề nhân khẩu học và kế hoạch hóa gia đình, rồi vấn đề giáo dục. Ông rời khỏi chính quyền vào năm 1991 khi về hưu trong tư cách là Phó Thủ tướng.

    Rất khó đánh giá về những đóng góp của Tướng Giáp trong giai đoạn này. Việt Nam khi ấy được lãnh đạo tập thể, và cho đến năm 1986 vẫn tiếp tục đi theo mô hình kế hoạch tập trung không thành công của Liên Xô. Điều đáng nêu bật là Tướng Giáp tiếp tục hoạt động trong chính phủ cho đến năm tám mươi tuổi.

    Kiên trì bảo vệ chủ quyền Việt Nam trước Trung Quốc

    RFI : Có người cho rằng gần đây Tướng Giáp rất lo ngại về sự thao túng của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nhận định này có phần nào đúng hay không?

    Carl Thayer: Sự nghiệp quân sự lâu dài của Tướng Giáp cho thấy rõ là ông sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc và kể cả những tư vấn, nhưng ông vẫn đấu tranh để giữ được sự tự chủ và độc lập trong hành động của Việt Nam.

    Tướng Giáp nghiêng về Matxcơva nhiều hơn Bắc Kinh trong thời kỳ chiến tranh, vì sự chi viện quân bị to lớn của Liên Xô cho Việt Nam – bao gồm cả tên lửa phòng không. Mặc dù Liên Xô được cho là đã khuyên Tướng Giáp “thực hiện một vụ Afghanistan” bằng cách tấn công Cam Bốt và lật đổ chế độ Khmer Đỏ được Trung Quốc ủng hộ, Tướng Giáp vẫn chống lại việc can thiệp quân sự trên quy mô lớn.

    Khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ trở lại vào năm 1991, Tướng Giáp đã hoàn toàn nghỉ hưu

    Trong những năm tháng nghỉ hưu, Tướng Giáp rất được biết đến với hai lần lên tiếng.

    Năm 2004, ông đã viết thư cho Bộ Chính trị phê phán sự can thiệp của tình báo quân đội (Tổng Cục II) vào các công việc nội bộ của Đảng.

    Năm 2009, ông thu hút sự chú ý của công luận khi viết ba thư ngỏ gửi tới các lãnh đạo Đảng và Nhà nước cảnh báo tác động môi trường của dự án khai thác bauxite, do Trung Quốc tài trợ, ở Cao nguyên Trung phần. Ông đề cập đến vấn đề này với lập luận rằng đó là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

    Sự kiện đó gây ra một dây chuyền cộng hưởng trong dân chúng nói chung, đang ngày càng lo lắng trước sự quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông.

    Vị anh hùng Việt Nam cần khi phải đối mặt với ngoại bang xâm lược

    RFI : Giáo sư giải thích thế nào về việc Tướng Giáp được lòng dân đến như vậy ?

    Carl Thayer: Tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược quân sự tầm cỡ thế giới. Vào năm 1944 – khi ông chỉ huy một trung đội 34 người – ai có thể nghĩ được rằng trong vòng 10 năm, ông đã phát triển lực lượng lên thành một quân đội có hàng trăm ngàn binh sĩ và đánh bại được Pháp, một trong những thế lực quân sự mạnh nhất vào thời điểm đó ? Tướng Giáp đã có được uy phong rất lớn với chiến thắng tại Điện Biên Phủ, một sự kiện đã để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời ông.

    Sự được lòng dân của ông dựa trên nhiều nền tảng. Trước tiên, hàng triệu người Việt Nam đã phục vụ trong Quân đội Nhân dân khi Tướng Giáp là Tổng chỉ huy và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là nguồn cảm hứng của họ. Các cựu chiến binh và gia đình của họ là một thành phần to lớn trong cư dân tại Việt Nam.

    Thứ hai, sau Hồ Chí Minh và có thể Phạm Văn Đồng, Tướng Giáp là lãnh đạo quốc gia duy nhất nổi bật bên trên một ban lãnh đạo tập thể mờ nhạt. Ông có sức lôi cuốn, phát biểu lưu loát và truyền cảm hứng cho người dân. Ông là vị anh hùng mà Việt Nam cần có khi phải đối mặt với sự xâm lược của ngoại bang, từ năm 1946 đến 1973 và sau đó, trong những năm 2000, khi Trung Quốc đe dọa chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

    Sau thời gian làm một nhà quân sự, Tướng Giáp đã phụ trách những lãnh vực quan trọng liên quan đến sự phát triển như khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình và giáo dục. Đó là nền tảng thứ ba của việc ông được lòng dân.

    Uy tín Tướng Giáp trong dân chúng còn dựa trên sự thành công của ông trong suốt 64 năm phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam và đất nước Việt Nam. Ông sẽ luôn luôn được tưởng nhớ như là người chỉ huy chính, đã đánh bại hai cường quốc lớn.

    Rõ ràng, Tướng Giáp đã thu hút được cảm tình của cả hai thế hệ trẻ và già tại Việt Nam. Điều này được thấy qua việc người dân đủ mọi lứa tuổi thể hiện sự đau buồn, tự động đổ xô đến nhà ông để thắp nến và hương.

    Tướng Giáp là hiện thân của một chính khách Việt Nam biết sử dụng trí tuệ để đưa ra các chiến thuật và chiến lược cho phép kẻ có vẻ là yếu đánh bại được kẻ mạnh.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    49 phản hồi

    - "quân đội Pháp yếu" là do suy luận, cần gì phải tài liệu chứng minh. Pháp bị Đức chiếm, quân đội bị banh là đương nhiên, còn chăng chỉ một số nhỏ chạy qua Anh. 1945 mới giải phóng còn cần Mỹ giúp nữa là.

    Còn tài liệu? Ở đây cũng nói về sự yếu đi của Pháp, không đủ phương tiện (une France encore profondément marquée par la guerre et par la perte de sa puissance... avec des moyens insuffisants). Tướng Pháp giỏi? Xin lỗi, không có Mỹ, không có Normandie, Pháp giờ nói tiếng Đức khản giọng luôn. Pháp dở thì nói dở cho rồi, chứ đừng kiểu: không, tao thua vì thằng khác nó giỏi quá. Rõ rởm.
    Đọc thử: http://fr.wikipedia.org/wiki/Histoire_militaire_de_la_France

    "La France a grandement bénéficié des largesses du Programme d'assistance militaire et jusqu'au début des années 1960, la grande majorité de son matériel lourd est américain.

    La guerre d'Indochine qui débute quelques mois après la fin de la Seconde Guerre mondiale voit une France encore profondément marquée par la guerre et par la perte de sa puissance devoir se confronter à des revendications anticolonialistes. Or Paris considère que son Empire est l'un des rares atouts lui permettant de « tenir son rang » et choisit de se battre contre une rébellion indépendantiste communiste de plus en plus forte avec des moyens insuffisants (115 000 hommes en 1947 tout inclus, 240 000 en 1954 plus 260 000 des États associés d'Indochine). Seules les unités professionnelles sont engagées, appuyées par les forces locales dans la lutte contre le Việt Minh;.."

    - 1956 Pháp cút khỏi miền Nam Việt Nam. Chuyện đã rõ.

    Olala viết:
    Không có DBP, chưa chắc Pháp chịu trao trả độc lập cho một quốc gia thuộc địa nào (dù bị nhiều áp lực khác đi nữa).

    Chú nói dài lòng thòng, to mồm, dẫn lời đám cộng sản Pháp linh tinh, vẽ chuyện đẻ đái lung tung, thế nhưng lại rất dốt, lười đọc kiến thức 'cốt lõi' liên quan đến điều mình nói :)

    Có thật là nếu không có ĐBP thì Pháp không trả độc lập cho một thuộc địa nào cả (dù bị nhiều áp lực khác đi nữa) ư ? Hễ định phán điều gì có hơi hướng 'mạnh dạn' thì chú cũng nên 'ướm thử' đôi ba lần chứ nhẫy.

    Xem đây này,

    http://en.wikipedia.org/wiki/Decolonization_of_the_Americas

    Haiti, tục gọi là Saint-Domingue, độc lập ngày 01/01/1804 từ tay thực dân Pháp, trước ĐBP có 150 năm thôi :)

    Đáng tin chứ hả chú ??!!

    bạn đọc viết:

    - Khi xẩy ra trận Điện Biên Phủ: quân đội Pháp yếu, vì 1945 nước Pháp mới được giải phóng khỏi Đức, trong khi Việt Minh được sự hỗ trợ tài lực của Trung Cộng, lúc đó đã rút khỏi Đại Hàn. Pháp cố đấm ăn xôi là dở. Thua ở ĐBP là phải.

    Bác viết ngược đời.

    Chọn đúng điểm rơi (thời cơ) ấy là tài nghệ dụng binh, ấy là sự khôn ngoan mà không dễ mấy ông tướng trên thế giới có được. Bác có biết gì (biết cụ thể, chi tiết các số liệu) về thực lực của phe ta (quân đội/bộ đội VN) và của phe địch (quân viễn chinh Pháp) trong trận DBP? Bác cho rằng phe ta thắng chỉ vì phe địch dở, xem ra bác giỏi hơn cả nhiều học giả của Pháp - kẻ bại trận DBP(!!!???)

    (Bác có thành tích gì trong lĩnh vực khoa học hay bình loạn quân sự ... công bố cho bà con biết cái chơi) :D

    Báo L'Humanité (Pháp) viết: "Tướng Giáp, nhà chiến lược cho tự do, từ trần.

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp là anh hùng của nền độc lập Việt Nam và là kiến trúc sư vĩ đại trong thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ. Ông là một huyền thoại sống, một chiến lược gia xuất sắc kết thúc cuộc chiến tranh của thực dân Pháp năm 1954".

    TIẾP ...

    bạn đọc viết:

    - Năm 1954: Điện Biên Phủ và 1956 Pháp cút khỏi miền Nam Việt Nam, dù không có hay không cần có Điện Biên Phủ . Đó là sự thật lịch sử.

    Vâng, đó chính là lịch sử của mấy vị chưa học thứ tự của các con số, số nào đến trước số nào đến sau. Đó là chưa nói, nếu không có DBP-1954 thì liệu có chuyện Pháp cút-1956 không.

    Để cho dễ hiểu hơn tôi kể cho bác nghe một chuyện về ... sinh đẻ có kế hoạch :-) . Chuyện như sau:

    Em trai sinh ... trước chị gái: Gia đình nọ mong mỏi có được một mụn con trai nối dõi, thế nhưng khó lắm, khổ sở lắm, tốn kém lắm và lâu lắm bà vợ mới có thai . Than ôi ! đứa con đầu sinh ra là gái . Chồng thương vợ mới bảo: "Thôi đừng sinh đẻ nữa em ạ. Mình nên đi xin một bé trai về nuôi cũng được". Bà vợ không thích nuôi con nuôi nên ... cố gắng, cố gắng. Thế là một mụn con trai ra đời. Một thằng khùng hàng xóm qua bàn loạn: "Lẽ ra chúng mày không cần đẻ lần đầu mà đợi đẻ lần thứ hai thì cũng có đứa con trai vậy!"

    Bác nghĩ xem, nếu không có lần đầu sinh ra bé gái (chứng tỏ bà vợ có khả năng có thai và sinh đẻ được) thì liệu vợ chồng ấy có muốn cố gằng để sinh ra đứa con trai lần thứ hai không?

    Wilfred Burchett, một trong những nhà báo chiến trường nổi tiếng người Australia từng viết:

    Chiến thắng của Việt Minh là chiến thắng đầu tiên của một phong trào kháng chiến ở châu Á chống lại quân đội thực dân trong một cuộc xung đột quân sự thông thường. Nó chấm dứt huyền thoại bất khả chiến bại của phương Tây, dẫn tới sự rút lui nhục nhã của Pháp khỏi Việt Nam và truyền cảm hứng cho các lực lượng chống đế quốc thực dân trên toàn thế giới”.

    Không có DBP, chưa chắc Pháp chịu trao trả độc lập cho một quốc gia thuộc địa nào (dù bị nhiều áp lực khác đi nữa).

    (Ngoài lề: Bác có biết đến năm 3014, nước Trung Hoa sẽ bị chia ra thành 8 quốc gia độc lập không? Do vậy, bây giờ VN chống Tàu là vô ích. Cứ đợi đến năm 1956, í lộn, năm 3016 tự khắc Tàu đầu hàng VN. Đáng tin chứ hả bác?)

    visitor viết:

    Lại nữa nếu không có ĐBP và sự ủng hộ của Mĩ thì liệu ông Diệm có thể quay về cầm quyền tại miền Nam VN hay không chứ đừng nói đến chuyện đòi nọ đòi kia. lol.

    Lại nữa nếu ông Hồ không cướp chính quyền Trần Trọng Kim thì đã không có ĐBP và ông Diệm cũng không cầm quyền tại miền Nam VN; và dân tộc VN cũng đã không mất 4 triệu nhân mạng do ông Hồ và ĐCSVN gây ra.

    VN2006A viết:
    - Nhưng còn Pháp? Pháp tuy yếu sau WW2, nhưng hình như Mỹ có viện trợ cho Pháp??? Hình như Ngoại trưởng Mỹ còn hỏi Pháp có cần 1 quả bom nguyên tử không, khi nghe tin ĐBP sắp thất thủ???

    Mỹ làm gì mà cũng ngồi vào bàn ở Genf??? Theo lập luận ở trên thì hoá ra nước mẹ Đại Pháp cũng không độc lập??? Chuyện riêng thuộc địa của mình mà lại có thằng Mỹ ngồi bên cạnh là sao???

    Sau WW2 Pháp sống nhờ viện trợ Mỹ, mang quân quay lại Đông Dương cũng nhờ quân viện Mỹ, do đó Pháp bị Mỹ chi phối là đương nhiên.

    Ti nhiên, rốt cuộc Mỹ lại chơi đểu Pháp nên không chịu mang bom rải thảm ở ĐBP; trận địa lọt thỏm trong cái lòng chảo này mà giả dụ Mỹ dội bom như dội xuống Nhật, Đức hồi 1945 thì quân ta tha hồ ăn no :) Mục đích của trò đểu dứt giây sinh tử này của Mỹ là nhằm loại hẳn Pháp ra khỏi Đông Dương để rảnh tay oánh ván bài mới với Tàu cộng và LX ở châu Á.

    Pháp căm Mỹ kể từ dạo ấy cho nên về sau luôn tìm cách thọc gậy Mỹ trong suốt cuộc can dự của Mỹ vào chiến tranh VN, ngầm ủng hộ cho đám thờ ma thành phần thứ 3 và MTDTGPMNVN chống phá VNCH. Công dân Hồ Cương Quyết cũng từ đấy mà 'thành danh' :)

    bạn đọc viết:
    Có nhiều điểm đáng bàn cãi về những nhận định của Carl Thayer. Tôi chỉ nói 2 điểm:

    - Khi xẩy ra trận Điện Biên Phủ: quân đội Pháp yếu, vì 1945 nước Pháp mới được giải phóng khỏi Đức, trong khi Việt Minh được sự hỗ trợ tài lực của Trung Cộng, lúc đó đã rút khỏi Đại Hàn. Pháp cố đấm ăn xôi là dở. Thua ở ĐBP là phải.

    - 1956 Pháp cút khỏi miền Nam Việt Nam, dù không có hay không cần có Điện Biên Phủ. Đó là sự thật lịch sử. Hỏi miền Nam hay miền Bắc hay?

    "Đến tháng 1 năm 1956 thì Ngô Đình Diệm đòi Quân đội viễn chinh Pháp (Corps Expéditionaire) phải rút khỏi Việt Nam sau khi khám phá ra người Pháp đã ủng hộ lực lượng Bình Xuyên chống lại chính phủ. Ngoại trưởng Pháp Christian Pineau nhượng bộ và lực lượng Pháp hoàn toàn triệt thoái khỏi Việt Nam vào Tháng Tư năm 1956" http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_nh%E1%BA%A5t_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Vi%E1%BB%87t_Nam

    Yếu là yếu thế nào? Pháp có Anh-Mỹ đứng đằng sau chống lưng, cung cấp vũ khí. Cộng thêm một loạt tướng Pháp lừng danh trong CT thế giới thứ 2, từ Leclerc tới Nava nữa chứ. Lại nữa nếu không có ĐBP và sự ủng hộ của Mĩ thì liệu ông Diệm có thể quay về cầm quyền tại miền Nam VN hay không chứ đừng nói đến chuyện đòi nọ đòi kia. lol.

    bạn đọc viết:
    Có nhiều điểm đáng bàn cãi về những nhận định của Carl Thayer. Tôi chỉ nói 2 điểm:

    - Khi xẩy ra trận Điện Biên Phủ: quân đội Pháp yếu, vì 1945 nước Pháp mới được giải phóng khỏi Đức, trong khi Việt Minh được sự hỗ trợ tài lực của Trung Cộng, lúc đó đã rút khỏi Đại Hàn. Pháp cố đấm ăn xôi là dở. Thua ở ĐBP là phải.

    - 1956 Pháp cút khỏi miền Nam Việt Nam, dù không có hay không cần có Điện Biên Phủ. Đó là sự thật lịch sử. Hỏi miền Nam hay miền Bắc hay?

    ...

    - Việt Minh không có sự giúp đỡ to lớn của LX và TQ thì chắc là không có ĐBP "chấn động địa cầu"!!!

    Cho nên LX, TQ ngồi chễm trệ ở Genf bàn việc chia đôi nước Nam. Chiến sỹ chống cộng lập luận rằng: như vậy VNDCCH không (thực sự) có độc lập, vì để người khác quyết định vận mệnh nước Nam?!

    - Nhưng còn Pháp? Pháp tuy yếu sau WW2, nhưng hình như Mỹ có viện trợ cho Pháp??? Hình như Ngoại trưởng Mỹ còn hỏi Pháp có cần 1 quả bom nguyên tử không, khi nghe tin ĐBP sắp thất thủ???

    Mỹ làm gì mà cũng ngồi vào bàn ở Genf??? Theo lập luận ở trên thì hoá ra nước mẹ Đại Pháp cũng không độc lập??? Chuyện riêng thuộc địa của mình mà lại có thằng Mỹ ngồi bên cạnh là sao???

    Nhưng hình như là nó vậy??? Đã đi vay vốn nhà bank thì khó mà có độc lập 100%??? Làm phi vụ lớn, có gì chia chác là nhà Bank ngồi cạnh góp ý, cho ý kiến chỉ đạo ngay???

    May mắn gặp được nhà bank dễ tính, phóng tay thì dễ hành động theo ý mình, hoặc chủ động tìm chỗ nó nới tay để mà hành động.

    Gặp phải nhà bank khó tính, chỉ đạo gắt gao mọi thứ, thì khó bề xoay xở. Đành phải "viện trợ 700 triệu thì chống cộng kiểu 700 triệu, viện trợ 300 triệu thì chống cộng kiểu 300 triệu".

    Nếu cắt hết viện trợ???

    Xuất độc chiêu "Ù Té Quyền" (UTQ)

    Có nhiều điểm đáng bàn cãi về những nhận định của Carl Thayer. Tôi chỉ nói 2 điểm:

    - Khi xẩy ra trận Điện Biên Phủ: quân đội Pháp yếu, vì 1945 nước Pháp mới được giải phóng khỏi Đức, trong khi Việt Minh được sự hỗ trợ tài lực của Trung Cộng, lúc đó đã rút khỏi Đại Hàn. Pháp cố đấm ăn xôi là dở. Thua ở ĐBP là phải.

    - 1956 Pháp cút khỏi miền Nam Việt Nam, dù không có hay không cần có Điện Biên Phủ. Đó là sự thật lịch sử. Hỏi miền Nam hay miền Bắc hay?

    "Đến tháng 1 năm 1956 thì Ngô Đình Diệm đòi Quân đội viễn chinh Pháp (Corps Expéditionaire) phải rút khỏi Việt Nam sau khi khám phá ra người Pháp đã ủng hộ lực lượng Bình Xuyên chống lại chính phủ. Ngoại trưởng Pháp Christian Pineau nhượng bộ và lực lượng Pháp hoàn toàn triệt thoái khỏi Việt Nam vào Tháng Tư năm 1956" http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_nh%E1%BA%A5t_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Vi%E1%BB%87t_Nam

    siêu viết:

    Chỉ dùng nước bọt xây dựng quân đội, không tiền, không súng, không gạo, không có ai chống lưng, không có bàn tay ngoại bang mà làm được như vậy thì đúng là khâm phục thật.

    Thế là giỏi rồi!!!

    Không phải ai cũng vay được vốn của nhà Bank để xây dựng startup company.

    Không phải ai vay được vốn cũng xây dựng thành công.

    Không phải ai thành công cũng loại được ảnh hưởng của nhà Bank.

    Ngày xưa học sử, sử chê Nguyễn Ánh "cõng rắn cắn gà nhà". Mình vẫn phục thầm trong bụng: ông Nguyễn Ánh này tài, sang tận Xiêm, gạ gẫm được Xiêm mang quân sang đánh Nguyễn Huệ. Mà Xiêm cách xa VN, chứ không kề như TQ.

    Trích dẫn:
    Carl Thayer: Tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược quân sự tầm cỡ thế giới. Vào năm 1944 – khi ông chỉ huy một trung đội 34 người – ai có thể nghĩ được rằng trong vòng 10 năm, ông đã phát triển lực lượng lên thành một quân đội có hàng trăm ngàn binh sĩ và đánh bại được Pháp, một trong những thế lực quân sự mạnh nhất vào thời điểm đó ? Tướng Giáp đã có được uy phong rất lớn với chiến thắng tại Điện Biên Phủ, một sự kiện đã để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời ông.

    Chỉ dùng nước bọt xây dựng quân đội, không tiền, không súng, không gạo, không có ai chống lưng, không có bàn tay ngoại bang mà làm được như vậy thì đúng là khâm phục thật.

    Trần Thị Ngự viết:

    Tôi thích quan điểm của GS Carl Thayer. Người ngoại quốc là người ngoài cuộc, nhất là một chuyên gia về VN và lại ở Úc, nói về ông Giáp sẽ khách quan hơn, không như quan điểm của những người thích ông Gíap thì toàn tô hồng và muốn. . . phong thánh, hay quan điểm của các người không thích ông thì muốn dìm ông Giáp xuống bùn.

    Tôi thường đọc các bài viết của GS Carl Thayer để tìm học các thông tin mới chưa được phổ biến, nhưng ít khi tìm thấy! Tuy nhiên, những thông tin có liên quan Mỹ-Việt hay Úc-Việt thì đáng ghi nhận.

    Một giáo sư hay nhà nghiên cứu nước ngoài về “thâm cung bí sử” của ĐCSVN thì thuờng ít giá trị vì những nguồn thông tin chính mà họ có được là từ những dữ liệu được đưa ra dưới nhiều hình thức tinh vi của ĐCSVN; cái gọi là “quan điểm” của GS Carl Thayer cũng không ngoại lệ.

    Trần Thị Ngự viết:

    Không ngờ ở miền Nam được hơn 30 năm lại phải "di cư" đi nửa vòng trái đất để đến tận Mỹ. Bố tôi đã đưọc an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng được hơn 7 năm, không phải lo di cư nữa, nhưng không biết rồi tôi có còn phải "di cư" đến đâu nữa hay không.

    Ông cụ thân sinh của bác Ngự phải di cư hai lần vì Cụ đã nghe theo bác Hồ bỏ Hà Nội vào Khu Tư rồi vô Đảng. Nay bác Ngự muốn biết “còn phải di cư đến đâu nữa không” thì bác thử nghe theo bác Trương (Trương Tấn Sang) bỏ Mỹ về VN rồi vô Đảng thì bác sẽ tìm ra câu trả lời :-)

    Tôi thích quan điểm của GS Carl Thayer. Người ngoại quốc là người ngoài cuộc, nhất là một chuyên gia về VN và lại ở Úc, nói về ông Giáp sẽ khách quan hơn, không như quan điểm của những người thích ông Gíap thì toàn tô hồng và muốn. . . phong thánh, hay quan điểm của các người không thích ông thì muốn dìm ông Giáp xuống bùn.

    Tuy nhiên, có một điều hơi mâu thuẫn trong quan điểm của GS Carl Thayer là ông cho rằng ông Giáp không phải là người đặt kế hoạch và điều khiển cuộc tấn công Mậu Thân cũng như trận tấn công muà xuân 1975, nhưng GS Carl Thayer lại cho rằng ông đã đánh thắng hai cường quốc Pháp và Mỹ. Nếu đúng thật là ông Giáp không liên quan gì đến hai trận Mậu Mậu Thân và muà xuân 1975 thì ông Giáp chỉ được coi là anh hùng Điện Biên Phủ thôi, chứ không phải là anh hùng chống và chiến thắng "đế quốc" Mỹ.

    Tiên đây cũng xin kể là bố tôi năm 1947 bỏ việc làm ở Hanoi để cùng các chú bác và cô của tôi vào Khu Tư đi theo kháng chiến và tất cả đều làm việc ở công binh xuởng. Ở Khu Tư, bố tôi và các anh chị em của ông đều "được" kết nạp đảng. Một thời gian sau, vì không chiụ được không khí gò bó trong đời sống của một đảng viên, bố tôi làm đơn xin ra khỏi đảng, trở lại đời sống thường dân ở Khu Tư. Để "trả thù" việc bố tôi xin ra khỏi đảng, bố tôi được phân công làm dân công để tải lương thực và quân trang quân dụng lên Điện Biên Phủ thường xuyên gấp hai ba những người dân khác. Trong đợt dân công cuối cùng và lúc đang ở Điện Biên Phủ, bố tôi được tin chiến thắng. Sau đó ông đi theo đoàn quân chiến thắng về Hanoi, nghe được tin cho dân hai miền Nam và Bắc "di cư," vội vã trờ về Khu Tư tìm cách dẫn mẹ và các chị em tôi trốn ra Hải Phòng rồi từ đó vào Nam. Không ngờ ở miền Nam được hơn 30 năm lại phải "di cư" đi nửa vòng trái đất để đến tận Mỹ. Bố tôi đã đưọc an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng được hơn 7 năm, không phải lo di cư nữa, nhưng không biết rồi tôi có còn phải "di cư" đến đâu nữa hay không.

    GS Carl Thayer viết:
    Sau thời gian làm một nhà quân sự, Tướng Giáp đã phụ trách những lãnh vực quan trọng liên quan đến sự phát triển như khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình và giáo dục. Đó là nền tảng thứ ba của việc ông được lòng dân.

    Ông Phạm Văn Đồng là người có thể "đảm đương" lãnh vực kế hoạch hóa gia đình, bởi vì ông ta là người không có cá tính, ai bảo làm gì thì làm nấy, thậm chí ký một công hàm mang hệ lụy lịch sử mà ông cũng ký.

    Nhưng ông Võ Nguyên Giáp thân là đại tướng thì hết sức không nên! Đây là một việc của chính quyền làm mất lòng dân, chứ không nên kể như một hành trạng để ông Giáp "được lòng dân". Ông Thayer chắc không nghe hay nhận thấy tính châm biếm trong câu ca dao thời đại "Nhà thơ làm kinh tế/Thống chế đi đặt vòng".

    Việc tang lễ Đại Tướng Võ Nhuyên Giáp như vậy có thể coi là thành công, người dân Việt Nam đã có dịp thể hiên tình cảm của mình với Đại Tướng. Tuy nhiên, với sự đe doạ của giặc phương Bắc ngày nay, việc tìm người hiền tài cầm quân là rất quan trọng. Có người nói với tôi rằng , hiện nay có hai Tướng có thể thay Tướng Giáp: Đó là Phùng quang Thanh và Đỗ Hữu Ca ( CA Hải Phòng). Xét về chức thì Phùng quang Thanh chức to hơn, nhưng về kinh nghiệm chiến trường, thì Đỗ Hữu Ca ( CA Hải Phòng ) giỏi hơn nhiều. Nhiều người cho rằng tướng Thanh chưa đánh trận nào lớn, còn tướng Đỗ Hữu Ca ( CA Hải Phòng) đã qua chiến dịch Tiên Lãng, đánh bại tướng Đoàn Văn Vươn. Ngoài ra Đỗ Hữu Ca ( CA Hải Phòng) còn thạo thuỷ binh , chuyên đánh tàu ngầm nguyên tử bằng thuyền thúng. Thật là trời đem tướng Đỗ Hữu Ca ( CA Hải Phòng) cho dân tộc ta đáy. Tôi phân vân quá, không biết chọn ai, nhờ các bạn chỉ giúp.

    Cảl Thayer viết:
    Thứ hai, sau Hồ Chí Minh và có thể Phạm Văn Đồng, Tướng Giáp là lãnh đạo quốc gia duy nhất nổi bật bên trên một ban lãnh đạo tập thể mờ nhạt. Ông có sức lôi cuốn, phát biểu lưu loát và truyền cảm hứng cho người dân. Ông là vị anh hùng mà Việt Nam cần có khi phải đối mặt với sự xâm lược của ngoại bang, từ năm 1946 đến 1973 và sau đó, trong những năm 2000, khi Trung Quốc đe dọa chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

    Sau thời gian làm một nhà quân sự, Tướng Giáp đã phụ trách những lãnh vực quan trọng liên quan đến sự phát triển như khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình và giáo dục. Đó là nền tảng thứ ba của việc ông được lòng dân.

    Tôi vẫn luôn luôn nghi ngờ về những chuyên gia ngoại quốc về Việt nam. Nghe họ phát biểu về con người và đất nước Việt nam mình là cả một nỗi khổ. Lý do là vì họ thường là những người có tình cảm đặc biêt với đất nước và dân tộc mình. Nhưng tình cảm ấy, dù có sâu đậm cũng không bù đắp được thiếu hụt về hiểu biết những phức tạp của con người và đất nước Việt nam, bằng mình.

    Bùi Tín viết:
    Một nhược điểm của tướng Giáp là văn phong, khẩu khí của ông, nếu không thể nói là yếu kém thì có thể nói là không có gì nổi bật. Ông mất đi, để lại hàng chục đầu sách, hàng trăm luận văn, bản báo cáo, hàng chục hồi ký (phần lớn do nhà văn quân đội Hữu Mai ghi lại), rất nhiều bài trả lời phỏng vấn trong nước và nước ngoài. Có cuốn sách nào hay, những ý tưởng quân sự nào đặc sắc của cá nhân ông, để lại cho hậu thế hay không? Điều này rất khó nói. Tôi từng dự nhiều buổi nói chuyện của ông tại Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, tại Học viện Quân sự cấp cao, ở trường Sỹ quan Lục quân, ở nhiều Quân khu, có thể nói ông không có năng khiếu truyền đạt, thông tin một cách bổ ích, hấp dẫn, rất thiếu những hình ảnh, dẫn chứng đặc sắc thú vị. Ông không có tài hùng biện, lôi cuốn của tướng Nguyễn Chí Thanh, không có tài kể chuyện thú vị của tướng Trần Độ, không có sự sống động dày dạn của lão tướng Lê Trọng Tấn, không có sự táo tợn bộc trực của tướng Phùng Thế Tài, cũng không có cái giọng bình dân lính tráng bỗ bã của tướng Đinh Đức Thiện. https://danluan.org/tin-tuc/20131005/bui-tin-vo-nguyen-giap-nhu-toi-tung-biet#comment-99586
    Huỳnh Ngoc Chênh viết:
    Vì ông là thần tượng nên tôi theo sát bước đi của ông. Sau 75, tôi đọc không sót một cuốn sách nào viết về ông và Điện Biên Phủ cũng như cố gắng đọc một số những gì ông nói hoặc viết ra sau nầy. Đọc về Điện Biên Phủ và về ông thì rất thích thú nhưng tôi lại không có chút thú vị nào khi đọc những gì ông viết hoặc nghe ông phát biểu tại các lễ lạc quan trọng mà ông được phát biểu. Tôi thấy những điều ông nói chẳng khác gì Lê Duẩn hoặc báo Nhân Dân. Rồi càng về sau, tôi dần dần càng lo lắng về ông. Qua các kỳ đại hội, qua các chức vụ ông được phân công, tôi lờ mờ hiểu ra rằng ông bị đẩy dần khỏi bộ máy quyền lực cấp cao. Tôi đau xót lắm và liên tưởng đến hình ảnh Nhạc Phi trong truyện Tàu, dường như đang tái hiện dần ra nơi ông.

    https://danluan.org/tin-tuc/20131008/huynh-ngoc-chenh-toi-trung#comment-99602

    Đơn giản là người Việt sẽ hiểu người Việt hơn ai hết. Chính vì lẽ đó, tôi tin vào các nhận định của người Việt hơn các ông Tây mũi lõ. Với sự mập mờ được ĐCS Việt nam cố ý tạo ra, trước mắt các sử gia phương Tây là đám mây dày, rất khó cho họ có một kết luận chính xác dựa trên các phương pháp khảo nghiệm khoa học của Tây phương, và vì vậy lúc này khả năng thấu hiểu lòng dạ mang tính chất cảm tính của người Á Đông phát huy tác dụng của nó.

    Ông GS này là... Tây.
    Bài của ông về VNG khác hẳn bài của Nguyễn Hoàng Vy và Trần Hồng Tâm (2 tác giả Việt).
    Từ đầu đến cuối 2 vị người Việt dắt dẫn tôi từng bước đến kết luận rằng... Ông Giáp sồng làm đếch gì lâu thế để phạm biết bao nhiêu tội. Chết quách năm 1939 (trước khi gặp ông Hồ) còn hơn.

    Tôi hơn tuổi bố đẻ ra Hoàng Vi, nhưng phục Hoàng Vi trẻ người, chỉ dựa vào một vài tài liệu đọc được mà cứ phán những người bằng tuối ông nội bố mình (cụ nội mình), cứ như mình đẻ ra các ông già vậy.
    Với Trần Hồng Tâm cũng vậy.
    Tây và ta nhận định (toàn diện đấy nhé) khác nhau về một ông Giáp.

    Thế là thế nào?

    Ông Carl Thayer không chính xác, đặc biệt là điểm này "Nguyễn Chí Thanh là người thiết kế chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 nhưng qua đời"

    Tới thời điểm này các tài liệu nghiên cứu từ hai phía đều có nhiều, và ngay cả người trong cuộc cũng đã lên tiếng, tác giả của TTC và NỔI DẬY 1968 là ông Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng, ông Giáp và ông Hồ phản đối và bày tỏ sự không tin tưởng.

    Link:
    http://www.viet-studies.info/kinhte/Ptibbenow_VoNguyenGiap.htm

    http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-e78a5e-interview-with-van-tien-dung-1981

    Nói chung ông Carl Thayer và các sử gia trong nước và nước ngoài rất khó có cơ hội biết được sự thât về các mối quan hệ và xung đột trong ĐCS. Chừng nào các tài liệu thực sự của ĐCS chưa được bạch hóa. Còn giờ ta chỉ chấp nhận những suy đoán của các sử gia như một sự tham khảo.

    Pages