So sánh vị trí cột mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc với bản đồ của quân đội Mỹ (Bài 1)

  • Bởi Hồ Gươm
    07/10/2013
    2 phản hồi

    Dương Danh Huy1, Phạm Quang Tuấn và Phan Văn Song2
    Các tác giả cảm ơn Lê Minh Phiếu và Phạm Thanh Vân đã góp ý

    Từ khi Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết ngày 30/12/1999 (“Hiệp định 1999”), đã có nhiều ý kiến, phân tích và tranh cãi về Hiệp định này, cũng như về việc phân giới cắm mốc sau đó.

    Để có thể phân tích những vấn đề biên giới một cách khách quan, chúng ta cần biết chính xác biên giới “mới” và biên giới “cũ” ở đâu.

    Biên giới “mới”, theo Hiệp định Biên giới Việt Trung, đã được công bố trong Nghị Định Thư Phân Giới Cắm Mốc Biên giới trên Đất liền Việt Nam – Trung Quốc giữa Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2009). Nghị Định Thư3 có vị trí đầy đủ các mốc và cách thức nối những mốc đó (chẳng hạn, theo sông, theo đường phân thủy, theo hướng Bắc Nam, v.v.).

    Vấn đề là định nghĩa biên giới “cũ” thế nào.

    Một trong những định nghĩa có thể chấp nhận được là biên giới Việt Nam - Trung Quốc trước khi Việt Nam giành lại độc lập từ Pháp. Biên giới này dựa vào các Hiệp ước 1887 và 1895 giữa Pháp và Trung Hoa.

    Vào đầu thập niên 1950, trước khi Pháp rút khỏi Việt Nam, Sở Địa Dư Đông Dương (Service Geographique de l’Indochine, SGI) vẽ biên giới này, theo cách hiểu của Pháp, trên bản đồ tỷ lệ 1:25 000 (“bản đồ SGI”). Những bản đồ này được Sở Bản đồ của Quân đội Mỹ (Army Map Services, AMS) hiệu đính, soạn lại, và xuất bản ở tỷ lệ 1:50 000 (“bản đồ AMS”) vào năm 19644. Trong công trình này, chúng tôi đã thử vẽ bản đồ so sánh so sánh vị trí cột mốc mới với biên giới trên bản đồ AMS.

    Những vấn đề khi so sánh biên giới theo Nghị Định Thư và bản đồ AMS là:

    1. Hệ trắc địa khác nhau: Bản đồ AMS vẽ theo hệ trắc địa Indian 1960, tức là tọa độ được tính từ một số mốc chuẩn ở Ấn Độ. Tọa độ của các mốc biên giới theo NĐT được xác định theo hệ WGS-84, hệ trắc địa này xử dụng những dữ kiện chính xác hơn về hình dạng trái đất. Hai hệ tọa độ này cũng định nghĩa kinh độ zero khác nhau..Giải quyết vấn đề này khá đơn giản vì có những phần mềm dùng những công thức chính xác cho việc chuyển tọa độ. Chúng tôi đã kiểm tra kết quả do phần mềm chúng tôi dùng với kết quả do Cục Tình báo Địa-không gian Quốc gia của Mỹ (National Geospatial Intelligence Agency) và sự khác biệt chỉ là vài mét.

    2. Những sai số trong bản đồ của SGI và AMS.

    (a) Phương tiện kỹ thuật hạn chế: thời 1950 chưa có vệ tinh, GPS, v.v. nên các nhà trắc địa thời 1950 phải dùng những dụng cụ dựa vào tay và mắt, “thô sơ” so với thời nay. Điều này sẽ góp phần gây ra sai số ngẫu nhiên.

    (b) Khi biên giới ở các vùng rừng núi (như hầu hết biên giới Việt - Trung) thì sự đo lường rất khó khăn, và trọng lực từ núi đồi cũng gây nhiễu cho thiết bị trắc địa. Điều này sẽ góp phần gây ra sai số ngẫu nhiên.

    (c) Khi dùng những phương pháp trắc địa thời xưa, muốn đo tọa độ của một địa điểm thì phải dựa trên mạng tam giác trắc địa. Thực tế thì mỗi nước hay mỗi vùng có thể có một mạng tam giác trắc địa riêng, nhưng để lập hệ trắc địa Indian 1960 thì phải nối mạng trắc địa của Việt Nam vào với mạng của Ấn Độ. Việc nối mạng trắc địa từ Ấn Độ và Miến Điện, sang Thái Lan, sang Campuchia rồi tới Việt Nam phải đi qua nhiều điểm trắc địa, cho nên sai số tích tụ lại. Điều này sẽ góp phần gây ra sai số hệ thống (systematic error), tức là một sai số đồng đều ở mọi địa điểm.

    Vấn đề 2 là vấn đề nan giải và theo nhận xét của chúng tôi (dựa theo những khác biệt giữa các mốc Nghị Định Thư và sông, thác trên bản đồ AMS), có thể dẫn đến những sai số từ 0 tới khoảng 200 m. Chính những bản đồ của AMS cũng ghi ở nhiều chỗ là “Map sources irreconcilable” – bản đồ nguồn có mâu thuẫn không giải quyết được.

    Một ví dụ cụ thể có thể thấy trong hình 1, lấy từ bản đồ binh_lieu-6452-2 của AMS, gần điểm 55 x 98 (107°29’, 21°39’30”). Thí dụ này cho thấy bản đồ AMS có những sự tự mâu thuẫn và có thể có sai số lên đến 200 m.

    danluan_d00170.jpg

    Hình 1. Xê xích đường biên giới do “sources irreconcilable” trên bản đồ binh_lieu-6452-2 của AMS.

    Một thí dụ khác về sai số là trong khi đoạn sông Quy Sơn ở hạ nguồn thác Bản Giốc là biên giới, thì trên bản đồ của chúng tôi có một sự chênh lệch khoảng 100-150 m giữa các cột mốc mới với dòng sông biên giới trên bản đồ AMS. Điều đáng để ý ở đây là bản đồ Google Maps cũng thể hiện một sự chênh lệch khoảng 100-150 m giữa biên giới và dòng sông biên giới này, và sự chênh lệch đó củng cố quan điểm của chúng tôi rằng bản đồ AMS đã vẽ đoạn sông Quy Sơn này khoảng 100-150 m quá xa về phía tây nam.

    Với những hạn chế do sai số, chúng tôi vẫn quyết định công bố các bản đồ so sánh cột mốc mới với biên giới trên bản đồ AMS, vì chúng tôi cho rằng chúng là một công cụ sơ khởi có thể có ích cho việc phát hiện và tìm hiểu về những trường hợp mà Hiệp định 1999 và việc phân giới cắm mốc đã thay đổi biên giới.

    Chúng tôi đã

    • Dùng phần mềm để chuyển kinh độ và vĩ độ của cột mốc sang kinh độ và vĩ độ theo hệ trắc địa Indian 1960.
    • Dùng phần mềm để chiếu các toạ độ này lên bản đồ với phép chiếu Universal Transverse Mercator (UTM) dùng múi 48 (tức là cùng phép chiếu với bản đồ AMS)5, và dùng cùng tỷ lệ với bản đồ AMS.
    • Chồng bản đồ các cột mốc lên bản đồ AMS bằng những phép chiếu tuyến tính.

    Kết quả

    Kết quả của công trình này là 22 bản đồ có thể được tải về từ đây:

    https://dl.dropboxusercontent.com/u/40784403/jpg.zip

    Các bản đồ có tên tập tin như sau.

    danluan_d00171.jpg

    Đoạn biên giới Tên tập tin Đường dẫn đến bản đồ Mỹ tương ứng
    x0a Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x0b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x0c Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    1 binh_lieu-6452-2-copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/binh_lieu-6452-2.pdf
    2 dinh_lap-6452-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/dinh_lap-6452-3.pdf
    x2 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    3 lang_son-6352-1 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/lang_son-6352-1.pdf
    x3 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    4 dong_dang-6352-4 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/dong_dang-6352-4.pdf
    5 na_cham-6353-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/na_cham-6353-3.pdf
    x5 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    6 phuc_hoa-6354-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/phuc_hoa-6354-3.pdf
    x6 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x6b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    7 trung_khanh_phu-6354-4 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/trung_khanh_phu-6354-4.pdf
    8 tra_linh-6254-1 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/tra_linh-6254-1.pdf
    9 soc_giang-6254-4 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/soc_giang-6254-4.pdf
    10 nam_quet-6154-1 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/nam_quet-6154-1.pdf
    x10 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x10b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    11 na_kung-6055-2 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/na_kung-6055-2.pdf
    x11 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x11b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    12 na_lay-6055-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/na_lay-6055-3.pdf
    x12 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    13 ha_giang-5954-1 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/ha_giang-5954-1.pdf
    x13 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    14 pa_kha-5854-2 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/pa_kha-5854-2.pdf
    x14 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x14b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    15 ngai_fong_tion-5854-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/ngai_fong_tion-5854-3.pdf
    x15 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    16 lao_kay-5753-1 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/lao_kay-5753-1.pdf
    17 muong_hum-5754-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/muong_hum-5754-3.pdf
    x17 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    18 phong_tho-5654-2 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/phong_tho-5654-2.pdf
    x18 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x18b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    19 ta_phing-5653-4 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/ta_phing-5653-4.pdf
    20 muong_boum-5553-1 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/muong_boum-5553-1.pdf
    x20 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    21 ban_la_sin-5554-3 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/ban_la_sin-5554-3.pdf
    x21 Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    x21b Không có Không có trong bản đồ 1:50 000
    22 ban_me_rang-5454-2 copy.jpg http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/ban_me_rang-5454-2.pdf

    Lưu ý bản đồ AMS thiếu một số đoạn ngắn dọc biên giới, thí dụ như x1, x5, và công trình này không bao gồm những đọan đó.

    Chú giải về các bản đồ

    Kinh độ, vĩ độ trên bản đồ dùng hệ trắc địa Indian 1960. Điều này có nghĩa tọa độ của mỗi cột mốc mới trên bản đồ sẽ hơi khác với tọa độ của nó trong Nghị Định Thư, vì Nghị Định Thư dùng hệ tọa độ WGS84. Tuy nhiên, cả hai tọa độ khác nhau này đều chỉ đến cùng một điểm trên mặt đất.

    Bản đồ dùng phép chiếu Universal Transverse Mercator trên múi 48.

    Các ô trên bản đồ là các ô tọa độ UTM tương ứng với 1 km x 1 km trên thực địa.

    Nền của bản đồ là bản đồ 1:50 000 của quân đội Mỹ.

    Bản đồ Mỹ có thể hiện các đặc trưng địa lý như núi đồi, sông suối, làng mạc, đường xá.

    Bản đồ Mỹ có thể hiện các cột mốc Pháp-Thanh. Các cột mốc này được ghi chú dưới dạng “Boundary Marker (53)”.

    Bản đồ Mỹ cũng có vẽ đường biên giới giữa các cột mốc. Biên giới này được vẽ bằng đường vạch đen.

    Các điểm xanh hình vuông là cột mốc mới, theo toạ độ từ Nghị định thư sau khi đã được chuyển từ hệ trắc địa WGS84 sang Indian 1960. Độ chính xác của việc chuyển hệ là 1 giây, tương đương với 30 m trên mặt đất.

    Bản đồ này cũng có thể hiện biên giới (đường đỏ) và các sông lớn (đường xanh) theo CIA World DataBank II. So sánh biên giới và các sông lớn theo CIA World DataBank II với bản đồ quân đội Mỹ xác nhận lại quan điểm của chúng tôi rằng bản đồ CIA World DataBank II đã bị đơn giản hóa và không còn chính xác. Người xem có thể bỏ qua đường đỏ và đường xanh này.

    ____________________________________________

    1 Thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

    2 Cộng tác viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

    3 Xem Công báo từ số 634+635 tới số 640+641

    4 Xem tại đây

    5 Trong tương lai, có thể tìm cách giảm thiểu những sai số đã nói bằng cách dùng thông tin về địa hình (sông, đỉnh đồi, núi, đường xe, tàu, v.v.) để điều chỉnh lại địa đồ.

    6 Xem tại đây

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Chào bác Phiên Ngung,

    1. "Phản biện" của ô TNT không phải là ở điểm dùng bản đồ CIA mà là ở điểm sau của ông ấy

    "Các bản đồ được các tác giả gọi là « bản đồ mốc giới Việt Nam - Trung Quốc theo tọa độ từ nghị định thư phân giới cắm mốc » đã được thực hiện không theo đúng bất kỳ một qui cách quốc tế « cartographie – vẽ bản đồ » nào. Cách vẽ của các tác giả là cách vẽ của con người thời cổ đại, lúc nhân loại chưa biết trái đất có hình cầu.
    Thật vậy, các tác giả đã vẽ các bản đồ biên giới Việt-Trung theo tiêu chuẩn trái đất hình vuông."

    và ở điểm ông ấy chưa hề biết mặt nũi bản đồ CIA, không biết nó là gì mà cũng đã khẳng định nó là 1 loại Transverse Mercator.

    2. "1) Nhà nước CSVN hiện nay, sau khi ký hiệp ước biên giới và có nghị định thư về hiệp ước này, đã chính thức vẽ lại bản đồ biên giới Việt - Trung chưa? Việc nay do ai đảm nhiệm? Ví dụ như do Nha Trắc Địa thuôc (hay) sở, bộ nào?"

    2.1 Bản đồ chính thức đi kèm với nđt thì đã được công bố trên Công báo của CP VN. Đó là bản đồ có giá trị pháp lý trong luật quốc tế và là bản đồ quan trọng nhất.

    Còn CP VN có vẽ lại những bản đồ khác chưa thì tôi không biết.

    3. "Như vậy, trong suốt những năm từ 1959 đến khi có xung đột biên giới 1/79 nhà nước CSVN có bản đồ chính thức cho biên giới Việt - Trung hay không? Nếu có, xin quí vị, vì chuyên môn, so sánh hai bản đồ này cho rõ thiệt hơn."

    Tôi không biết từ 1959 đến 1979 CP VN có công bố bản đồ chính thức nào có tỷ lệ cao đủ để chúng ta so sánh với các cột mốc mới (2009) hay không.

    4. "Bản đồ do quí vị bỏ công nghiên cứu và soạn thảo có được sự đồng (hậu) thuẩn của nhà nước CSVN hay không? Nêu lên thắc mắc này, thuần tuý vì chuẩn mực và chính danh của bản đồ do quí vị soạn thảo, để biết chắc rằng bản đồ này phản ảnh trung thực biên giới giữa hai nước sau khi đã ký kết hiệp dịnh biên giới."

    Bản đồ chúng tôi công bố có 2 yếu tố chính:

    1. Bản đồ quân đội Mỹ XB trong thập niên 1960. Chắc là bản đồ này không có "sự đồng (hậu) thuẩn của nhà nước CSVN".
    2. Vị trí của các cột mốc. Đó là từ tọa độ cột mốc trong nghị đính thư mà VN đã ký kết với TQ. Tức là chắc là các tọa độ đó có "sự đồng thuẩn của nhà nước CSVN".

    Chúng tôi kết hợp những yếu tố đó lại thành bản đồ của chúng tôi, và bản đồ của chúng tôi chỉ có sự đồng thuận và hậu thuẫn của 3 chúng tôi mà thôi.

    4. Nếu nhà nước CSVN có ban ngành, nha, sở, bộ chính thức vẽ bản đồ biên giới Việt -Trung căn cứ theo các cột mốc ấn định bởỉ hiệp dịnh đã có hiệu lực, tại sao quí vị không so sánh với bản đồ này để làm sáng tỏ những khuất tất hoặc do thiếu sót về kỷ thuật hay cố tình vì hậu ý che dấu để mọi người hiểu rõ kết quả đích thực của hiệp dịnh biên giới Việt - Trung do chính quyền CSVN ký kết với Tàu.

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện thời gian thôi.

    Việc so sánh các cột mốc mới (nđt 2009) với bản đồ quân sự Mỹ là dễ thực hiên hơn so sánh bản đồ biên giới mới (nđt 2009) với bản đồ quân sự Mỹ, cho nên chúng tôi làm trước. Bao giờ thời gian cho phép thì chúng tôi sẽ làm điều kia sau.

    Thật ra việc chúng tôi làm, dù chưa làm sáng tỏ hết, cũng đã làm sáng tỏ thêm đáng kể. Thí dụ, đây là bản đồ khu vực Ải Nam Quan:

    Dù chúng tôi chưa vẽ được đường biên giới giữa các cột mốc mới (các đốm xanh) thì cũng có thông tin đáng để ý cho những người thật sự quan tâm.

    Chào bác Huy!

    Hôm nọ tôi có thấy thắc mắc của bác cho riêng tôi, tựu trung về bản đồ của CIA. Đáng lẽ tôi đã trả lời nhưng cảm thấy nó không quan trọng mà đề mục của bác đang có những ý kiến đóng góp của nhiều vị về chuyên môn. Nay tôi có một vài thắc mắc với bác và quí vị trong Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông nên tôi xin trả lời bác trước về thắc mắc hôm nọ.

    Ý tôi là không nên so sánh với bản đồ của CIA và nhân đọc bài một độc giả khác giới thiệu trên BBC, trong đó bản thân bác cũng đề cập đến việc so sánh với bản đồ CIA nên tôi nêu bài đó để nói về ý của mình. Việc bác trả lời BBC sau bài bác viết mà ông Tuấn phàn nàn (kịch liêt???) tựu trung cũng do việc so sánh với bản đồ CIA mà ra nên dù bài nào trước cũng không phải là điều quan trọng. Đó là lý do tại sao tôi không trả lời trong mục đó.

    Nay xin có thắc mắc với bác và quí vị như sau:

    1) Nhà nước CSVN hiện nay, sau khi ký hiệp ước biên giới và có nghị định thư về hiệp ước này, đã chính thức vẽ lại bản đồ biên giới Việt - Trung chưa? Việc nay do ai đảm nhiệm? Ví dụ như do Nha Trắc Địa thuôc (hay) sở, bộ nào?

    Theo thông tin của Viện Khoa Học Đo Đạc và Bản đồ thì ngành Trắc địa của VN(DCCH) ra đời vào năm 1959.

    Trích dẫn:
    Đầu thế kỷ 20, sau khi thôn tính và lập nền đô hộ, Pháp đã tiến hành công tác đo vẽ cho toàn bộ Đông Dương nhằm mục đích khai thác tối đa vùng đất này. Việc đo đạc được tiến hành có tổ chức, áp dụng các phương pháp đo khoa học và các máy móc có chất lượng cao. Những bản đồ, hồ sơ còn lưu trữ nói lên điề đó. Hiện nay những bản đồ, những số liệu đo đạc từ trước năm 1945 vẫn còn được dùng trong một số ngành.

    Trong thời kháng chiến chống Pháp (1646-1954) công tác trắc địa chủ yếu phục vụ cho quân sự: như trắc địa pháo binh, công binh, trinh sát … Sau cuộc kháng chiến thành công, nhà nước Việt Nam ra đời năm 1959 đánh dấu một bước trưởng thành của ngành trắc địa Việt Nam.

    Đội ngũ người làm công tác đo đạc và bản đồ nhà nước là cơ quan có chức năng tổ chức việc đo vẽ bản đồ toàn quốc các tỷ lệ, ban hành Quy phạm trắc địa và thống nhất công tác trắc địa trong cả nước
    http://www.vigac.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=21

    Đoạn in đậm có thể do sai sót ấn loát và ý của đoạn văn nói về sự ra đời chính thức của ngành Trắc địa.

    2. Như vậy, trong suốt những năm từ 1959 đến khi có xung đột biên giới 1/79 nhà nước CSVN có bản đồ chính thức cho biên giới Việt - Trung hay không? Nếu có, xin quí vị, vì chuyên môn, so sánh hai bản đồ này cho rõ thiệt hơn.

    3. Bản đồ do quí vị bỏ công nghiên cứu và soạn thảo có được sự đồng (hậu) thuẩn của nhà nước CSVN hay không? Nêu lên thắc mắc này, thuần tuý vì chuẩn mực và chính danh của bản đồ do quí vị soạn thảo, để biết chắc rằng bản đồ này phản ảnh trung thực biên giới giữa hai nước sau khi đã ký kết hiệp dịnh biên giới.

    4. Nếu nhà nước CSVN có ban ngành, nha, sở, bộ chính thức vẽ bản đồ biên giới Việt -Trung căn cứ theo các cột mốc ấn định bởỉ hiệp dịnh đã có hiệu lực, tại sao quí vị không so sánh với bản đồ này để làm sáng tỏ những khuất tất hoặc do thiếu sót về kỷ thuật hay cố tình vì hậu ý che dấu để mọi người hiểu rõ kết quả đích thực của hiệp dịnh biên giới Việt - Trung do chính quyền CSVN ký kết với Tàu.

    Bản thân tôi luôn trân trọng những đóng góp của cá nhân bác và quý vị trong QNCBĐ trong việc làm sáng tỏ nhiều vấn đề về Biển Đông và biên giới của Việt nam.

    Kính

    Phiên Ngung