Xích Tử - Chạy làng lịch sử

  • Bởi Khách
    23/09/2013
    0 phản hồi

    Xích Tử

    Nhà văn Đào Hiếu nói rất đúng rằng, vì lý do không xử lý được bọn sâu mọt tham nhũng ăn bậy và vẫn còn là đồng chí với bọn ấy, vẫn cấp lương và lãnh đạo bọn ấy, bà Doan nên thay cách gọi “người ta” bằng “chúng ta”.

    Chí Phèo sau đêm hoan lạc tình cờ, bất ngờ với Thị Nở, ngượng quá không biết xưng hô sao nên đành chuyển từ ngôi thứ hai sang ngôi thứ ba “đằng ấy”; còn bà Doan thì không lạ gì những người mà bà đang đóng vai lên án, nên phải chuyển lại từ đại từ ngôi thứ ba số nhiều “người ta” sang ngôi thứ nhất số nhiều “chúng ta”.

    Cách sử dụng đại từ xưng hô như vậy phản ánh tư duy không đúng tầm và vô trách nhiệm của một người lãnh đạo cao nhất của nhà nước, tương tự như cách nói của một bà Bộ trưởng rằng xây bệnh viện là trách nhiệm của nhà nước, làm như thể bà không phải là nhà nước vậy.

    Lâu nay, như một hiện tượng lịch sử chính trị riêng của từng người, các cụ lãnh đạo cao cấp về hưu có cách chạy làng, làm nhạt lịch sử cá nhân để như tỏ sự ”phản tỉnh” nhằm cắt trước cái đuôi sam cách mạng (mượn hình ảnh cái đuôi sam không cách mạng của Lỗ Tấn), xếp gạch phòng hờ có biến động để còn chút tài sản cho con cháu chạy tội. Các cụ thi nhau tự thanh tẩy, cấp tiến để rồi kế đó, khi bị đe đọa kỷ luật đảng, nhử lừa một số quyền lợi đang có và sẽ có của hậu duệ, một số cụ im ngay, rút hẳn những phát ngôn cấp tiến kia lại không còn dấu vết. Cái tinh thần bạt nhược, cơ hội của văn hóa chính trị thời đại cách mạng vô sản là như vậy.

    Song biết đâu, đàng sau nó lại là một sự mưu toan chạy làng lịch sử tập thể vĩ đại. Sự “đổi mới” bằng cách hy sinh, tự thủ tiêu các mục tiêu đấu tranh “giai cấp” một thời, chỉ giữ lại cái vỏ từ ngữ giả dối và rỗng tuếch “định hướng xã hội chủ nghĩa” để phát triển một cách không kiểm soát nhưng hết sức cơ hội vụ lợi cái thứ chủ nghĩa tư bản hoang dã để tìm nguồn lực nuôi sống bộ máy chế độ và tích lũy nhóm, cá nhân; mở rộng ngoại giao đa phương với cả những chính đảng vốn là kẻ thù nước ngoài miễn là có lợi; kéo nhân dân chạy xoành xoạch quanh cái chong chóng thay đổi chính sách nhưng lúc nào cũng cho là đúng là một kiểu chạy làng ở cấp độ học thuyết, được tạo nên bởi những nhà lý luận hưởng lộc nhân dân, lúp xúp chạy bã hơi sau thực tiễn để khoe trò ngôn phiệt nhằm hợp lý (luận) hóa công cuộc chạy làng nói trên.

    Về thực tiễn, trong điều kiện về nguyên tắc bảo vệ chính trị nội bộ, đảng quản lý rất nghiêm ngặt các yếu tố liên quan đến quan hệ với người nước ngoài của đảng viên, nhất là với số Việt kiều di tản, vượt biên do có tham gia chế độ cũ, việc một Thủ tướng cộng sản, vốn là thủ lĩnh công an, làm sui với một người Mỹ gốc Việt cựu Thứ trưởng của chính quyền VNCH, với chàng rể dĩ nhiên cũng là người Mỹ, liệu có phải là chuẩn bị cho cuộc chạy làng của một trong những người đại diện của chế độ không, cả về ý nghĩa biểu tượng lẫn thực tế. Quan hệ sui gia đó có thể là con đường chuyển rửa tiền từ các nguồn tài khoản bất chính khác nhau đến tài khoản nước ngoài để sau đó quay về đầu tư làm giàu trong nước và tiếp tục quay vòng; chuẩn bị căn cứ địa cho một cuộc đào thoát chính trị hoặc hình sự. Đó không phải là trường hợp duy nhất về qui mô và đơn giản về mục đích. Hàng loạt các quan chức từ cấp vụ trung ương, cấp sở ở địa phương trở lên và các “đại gia” làm giàu từ mối quan hệ bất chính với các giới chức trong hệ thống chính trị đã bằng mọi cách đưa con ra nước ngoài du học, vừa chuẩn bị “nhân lực” cho tương lai, vừa có được một tài khoản hợp pháp để chuyển tiền ra ngoài. Đây sẽ là nguồn lực bảo đảm và dồi dào cho lực lượng thống trị đất nước của kế hoạch hậu khủng hoảng, kể cả sự chuyển hướng hòa bình cho một chế độ xã hội dân chủ. Nhân dân nhất định sẽ không được tham gia để “làm chủ” cho quá trình chuyển biến này. Liệu trong 80.000 tỉ đồng giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến rửa tiền theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2012, có bao nhiêu giao dịch thuộc các loại kể trên?

    Đáng kể nhất vẫn là cách chạy làng quan phương công khai thông qua những ứng xử, giải thích chính sách của nhà cầm quyền.

    Đảng, nhà nước đã thấy, biết một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ suy thoái, trong đó có tham nhũng; đã thấy được cả bầy sâu. Nhưng khi dùng công cụ nghị quyết và bộ máy để chống lại và tự chỉnh đốn, đảng đã thất bại hoàn toàn. Sơ kết một năm thực hiện nghị quyết 4 khóa XI là một kiểu chạy làng, qua việc chỉ đánh giá nó là cần thiết, đúng đắn, có hiệu quả bước đầu. Bao nhiêu tiền của dân đổ vào đó thành công cốc, chỉ làm lợi cho những cá nhân tham nhũng và nhóm lợi ích bất chính biết rút ra kinh nghiệm tinh vi hơn; và làm hại bằng việc đẩy đảng vào chỗ phân hóa hơn, mất đoàn kết hơn. Không có sự chạy làng nào xảo quyệt hơn lời giải thích của đồng chí X. với cử tri Hải Phòng rằng bộ phận không nhỏ đó là hơn 16.000 đảng viên bị xử lý kỷ luật qua công tác kiểm tra đảng thường xuyên năm 2012: đó là câu trả lời vỗ mặt Tổng bí thư, rằng cố gắng của nghị quyết 4 là như vậy, vì không có nó, vẫn có chừng ấy đảng viên bị xử lý kỷ luật hàng năm; đó là trách nhiệm của đảng đối với đảng viên của mình, trách nhiệm của Tổng bí thư. Cuối cùng, gác sang bên sự bất hòa vì lợi ích chung, đảng cũng khoe cái đuôi mèo thật dài bằng cách khẳng định quyết tâm chính trị chống tham nhũng, bằng những thể chế trên giấy chống tham nhũng, bằng các hoạt động và bộ máy cồng kềnh, tốn kém nhưng vô hiệu để thực hiện công việc này. Lịch sử sẽ đòi nợ đảng câu trả lời về những cái mà đảng không làm được, nguyên nhân của nó và tổng chi phí mà đảng đã lấy từ tiền thuế của dân để tự tẩy rửa mình.

    Cách chạy làng rõ rệt và gây khó chịu nhất là lối lãnh đạo, đánh giá lập lờ, vô trách nhiệm của đảng đối với sự xuống cấp của nhiều lĩnh vực trong cuộc sống kể từ ngày “đổi mới” đến nay. Đó là sự xuống cấp đến mức khủng hoảng, suy sụp của những dịch vụ công, vốn là biểu tượng tự hào của nền dịch vụ phúc lợi miễn phí của “chủ nghĩa xã hội” như y tế, giáo dục; đó là sự suy đồi của nền văn hóa, đạo đức xã hội, sự lệch lạc những chuẩn mực, giá trị truyền thống và bình thường, sự xuất hiện của thói vô cảm, vô đạo, vô nhân, vô luân được thể hiện bằng những lối sống tham dục, thực dụng, chạy theo và cổ xúy một cách có tổ chức những trò giải trí lố lăng, nhố nhăng, gợi dục, những niềm tin tâm linh vớ vẩn, sự gia tăng tình trạng tội phạm bạo lực... Tất cả đều được đảng đánh giá, phân tích nguyên nhân chủ quan khách quan, nếu quá nghiêm trọng thì qui cho nó là mặt trái của kinh tế thị trường, do các thế lực thù địch, do diễn biến hòa bình tạo nên; và tiếp tục giao nhiệm vụ khắc phục cho các cấp các ngành, còn mình thì cố chứng minh là chính sách đúng nhưng thực thi sai; tiếp tục ra nghị quyết tăng cường lãnh đạo không thiếu một lĩnh vực nào của đời sống xã hội.

    Sự vô trách nhiệm thể hiện đến mức kiêu ngạo của đảng chính là ở chỗ, không có ở quốc gia nào mà sự chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con dân được đảng giành lấy độc quyền lãnh đạo, tổ chức thực hiện như ở nước ta. Từ ngày nắm quyền, đảng đã giữ lấy toàn bộ thiết chế chăm sóc, giáo dục nhân dân, ban hành không biết bao nhiêu thể chế, sử dụng không biết bao nhiêu nguồn lực được tích lũy từ tài nguyên quốc gia, từ quốc khố của nhân dân và hình thành một bộ máy bao gồm cả hệ thống chính trị với đủ kiểu giáp công (trấn áp khủng bố, đe dọa, tuyên truyền lừa mị, thi đua khen thưởng, danh hiệu cao quí, học hàm học vị, chức tước bổng lộc...), để thực hiện công cuộc tạo ra con người mới xã hội chủ nghĩa, cả về thể chất và tinh thần, nhằm tẩy rửa con người quá khứ, thay thế con người tôn giáo, theo phương pháp quảng canh sản xuất hàng loạt “nhân cách con người là sự tổng hòa các quan hệ xã hội”. Với sự lạm dụng vào quyền của nhân dân và sự tốn kém sức lực, trí tuệ, tiền của mà các nước khác không thể có được để độc quyền thực hiện mục đích này, nếu thất bại, chỉ xét như tình cảnh hiện nay, đảng không có quyền từ chối trách nhiệm của mình trừ phi đảng muốn chạy làng lịch sử.

    Tương tự, sau khi giành chính quyền, đảng đã qua cầu rút ván bằng những biện pháp quản lý và cấm nhân dân sử dụng những phương tiện mà vốn trước đó đã được đảng sử dụng để làm “cách mạng”, đặc biệt là báo chí, phương tiện truyền thông, vũ khí và vật liệu nổ. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, tình hình vi phạm hình sự có sử dụng các loại vũ khí nóng, lạnh lại gia tăng. Nếu so với Mỹ, bình quân mỗi người dân có một khẩu súng, và Việt Nam, về nguyên tắc là không có, nếu tỉ lệ số vụ án mạng có sử dụng vũ khí Việt Nam cao hơn hoặc bằng vớ Mỹ, đó là sự thất bại cũng thuộc trách nhiệm của đảng. Không thể chạy làng được.

    Xích Tử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi