Hàn Vĩnh Diệp - Nỗi day dứt về biên giới phía Bắc

  • Bởi Mắt Bão
    14/09/2013
    2 phản hồi

    Hàn Vĩnh Diệp (CLB Phan Tây Hồ)

    Bài viết này của Hàn Vĩnh Diêp (tức Diệp Đình Huyên) công bố năm 2008, vào lúc có tin sắp hoàn thành việc cắm mốc biên giới trên đất liền. Sau những trận càn quét của “tin tặc” (không biết từ đâu ra và do ai nuôi?), bài viết chỉ còn xuất hiện trên một vài trang blog không nổi tiếng lắm. Chúng tôi đăng lại theo bản lưu trữ.

    Trong bài viết này tác giả bác bỏ ý kiến của ông Vũ Dũng (lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) khi ông này tuyên bố với báo chí rằng “hoàn toàn không có chuyện mất đất!”. Ông đã chứng minh rằng tại hai địa điểm (Thác Bản Giốc và Hữu Nghị Quan) mà ông Thứ trưởng đã dẫn chứng - và được ông đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Dũng phụ họa, đều có chuyện di dời cột mốc và mất đất.

    Đặc biệt là trong phần “phụ lục”, tác giả đã cho chúng ta biết thêm về một địa điểm khác tại Cao Bằng đã bị Trung Quốc lấn chiếm bằng cách “dời cột mốc từ trên núi cao xuống dưới chân núi”. Đó là cửa khẩu Ngọc Khê (Pò Péo) tại tỉnh Cao Bằng. Cửa khẩu này nằm gần nơi sông Quây Sơn chảy từ Trung Quốc sang đất Việt Nam, về phía thượng lưu của Thác Bản Giốc. Để độc giả dễ xác định vị trí của cửa khẩu này, tôi đã mạn phép đưa thêm một tấm bản đồ trích từ bộ Bản đồ Giao thông xuất bản năm 2004.

    MAI THÁI LĨNH

    Theo tin của báo giới: năm 2008 sẽ hoàn thành việc phân giới – cắm mốc biên giới trên đất liền Việt – Trung. Các quan chức ngoại giao ta đánh giá đây là một thắng lợi vĩ đại “trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Trung Hoa. Biên giới hai nước sẽ được ổn định bền vững, lâu dài”! Ổn định trong một thời gian thì có thể, còn bền vững lâu dài thì chưa hẳn. Bởi tư tưởng chủ đạo quán xuyến của những người cầm quyền Trung Quốc trước đây và hiện nay là bành trướng mở rộng lấn chiếm lãnh thổ các nước lân cận. Sự kiện họ ngang nhiên thành lập đơn vị hành chính cấp huyện Tam Sa bao gồm toàn bộ lãnh thổ – lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta ngay trong lúc các phiên họp vòng thứ 23 cấp Chủ tịch Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc đang diễn ra là một minh chứng. “Một thắng lợi vĩ đại!”, chắc phải xem xét lại một cách nghiêm túc nhận định này. Dư luận trong nước và ngoài nước cho rằng: Hiệp định biên giới đường bộ Việt Nam – Trung Quốc ký năm 1999 đã làm cho nước ta mất một phần không nhỏ lãnh thổ quốc gia. Ông Vũ Dũng – Thứ trưởng Bộ ngoại giao đặc trách vấn đề biên giới tuyên bố: “Hoàn toàn không có chuyện mất đất!” (Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 06/1/2008). Ông Nguyễn Lân Dũng – đại biểu quốc hội, thành viên của Ủy ban đối ngoại Quốc hội, cũng có ý kiến: “Tôi có đi một số điểm trên biên giới Việt – Trung, làm gì có chuyện mất đất!” Ông còn nói một cách mơ hồ: “Ông Vũ Dũng chắc không nhầm bởi vì ông đã theo dõi vấn đề này từ khi còn là cán bộ ngoại giao mới 22 tuổi, đến nay đã 57 tuổi giữ chức vụ thứ trưởng bộ ngoại giao!” Trong khi đó, nếu chúng ta chỉ chịu khó một chút, thăm hỏi bất kỳ một người dân địa phương nào ở những điểm cột mốc đã bị di dời, họ sẽ chỉ rõ địa điểm của cột mốc cũ.

    Lãnh thổ biên giới quốc gia có bị mất hay không, không chỉ căn cứ vào vài lời tuyên bố của những quan chức mà phải xác định một cách rõ ràng, khoa học qua các tư liệu lịch sử của các triều đại phong kiến, thời Pháp thuộc, thời VNDCCH (trước năm 1979).

    Biên giới trên bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc không phải chỉ đến năm 1999 với hiệp định về biên giới Việt Nam – Trung Quốc mới được phân giới cắm mốc. Nhiều tư liệu lịch sử đã cho thấy: ngay từ thời Tiền Lê – Lý – Trần “cương vực Bắc – Nam đã phân rõ”. Nếu như việc phân định ranh giới không rõ ràng thì làm sao trong các cuộc tranh chấp đất đai vùng biên giới như sử cũ đã ghi chép (ví như vụ năm 1083 – 1084 thời nhà Lý, vụ năm 1689 thời Hậu Lê …), vua quan nước Tàu lại chịu thua cuộc! Nếu cương vực hai nước không rõ ràng thì căn cứ vào đâu vua Lê Thánh Tông đã khẳng định: “một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được… kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biển ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di!” Nếu không có sự phân giới mà hai quốc gia đều chấp nhận thì làm sao Triều Nguyễn (và sau này là chính quyền Pháp) có thể xây dựng các đồn binh trấn giữ trên biên giới ở những điểm hiểm yếu trên suốt dọc tuyến biên giới hai nước Việt – Trung? Nếu không có các cột mốc xác định đường biên giới hai nước thì dựa trên cơ sở nào bộ ngoại giao nước ta năm 1979 công bố sách trắng “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc” và sách tư liệu về “Sự thật về biên giới Việt Nam – Trung Quốc”, trong đó tố cáo Trung Quốc đã lấn chiếm hơn 90 điểm, có điểm lấn sâu vào gần 6km trên dọc tuyến hơn 1300km biên giới (từ năm 1949 đến năm 1979); đơn phương vẽ lại bản đồ, chuyển dịch nhiều điểm trên biên giới về phía Việt Nam (trong đó có thác Bản Giốc ở Cao Bằng),…?

    Việc phân giới cắm mốc theo hiệp định biên giới năm 1999 được quy định theo giới – mốc hiện trạng mà những cột mốc này lại bị “người anh em đồng chí vì tình hữu nghị vĩ đại” đã dịch chuyển, di dời vào sâu trong nội địa lãnh thổ nước ta trong thời gian hơn nửa thế kỷ qua thì làm sao tin được đất đai, sông núi mà Tổ tiên đã để lại cho chúng ta suốt trên dọc tuyến biên giới phía Bắc không bị xâm phạm, lấn chiếm!

    Cũng trong tuyên bố ngày 6/01/2008 của ông Vũ Dũng và lời phụ họa của Ông Nguyễn Lân Dũng có đề cập đến hai điểm cụ thể là Thác Bản Giốc và Hữu nghị quan.

    Về Thác Bản Giốc, theo ông Vũ Dũng thì phần thác cao (tức là phần thác có ba dòng chảy đổ từ trên độ cao khoảng 40m xuống phụ lưu của sông Quây sơn nằm bờ phía Nam sông Quây sơn) là thuộc Việt Nam, còn phần thác thấp (tức là thác ba tầng đổ xuống sông Quây sơn, nằm bờ phía Bắc của sông) là thuộc phía Trung Quốc – theo mốc 53 nằm phía trên thác. Khi nói đến thác Bản Giốc là nói đến thác ba tầng này. Các sách địa lý, du lịch của ta và của Pháp đều miêu tả và ghi hình ảnh phần thác này và đều khẳng định là thác của Việt Nam. Nếu phần thác ba tầng từ trước đã thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc thì các nhà địa lý Pháp, Việt Nam không thể nào viết như vậy.

    Xin được nêu thêm một vài dẫn chứng: Ngay sau khi hiệp định biên giới Việt Nam – Trung Quốc được ký kết, bộ địa chí Cao Bằng do cơ quan Tỉnh uỷ và UBND Tỉnh Cao Bằng tổ chức và biên soạn, cơ quan hiệu đính – thẩm định – nâng cao là trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, cơ quan xuất bản là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội (xuất bản năm 2000). Đoạn nói về thác Bản Giốc, tác phẩm trên viết như sau: ”Thác Bản Giốc thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, con sông Quây sơn bắt nguồn từ Trung Quốc đổ vào nước ta tại Pò Peo thuộc xã Ngọc Khê rồi chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, khi đến xã Đàm Thủy huyện Trùng Khánh dòng sông hiền hòa lượn quanh dưới chân núi Cò Muông rồi nghiêng mình chảy qua cánh đồng Đàm Thủy, băng qua bãi ngô rộng lớn trước làng Bản Giốc. Đến đây dòng sông được tách ra thành nhiều nhánh rồi đột ngột hạ thấp khoảng 35 mét tạo thành thác. Đó là thác Bản Giốc, thác xếp thành ba tầng với những ngọn thác lớn nhỏ khác nhau, với những tên gọi khác nhau là Quây Bắc, Lầy Sản, Ngà Moong, Ngà Chang, Ngà Vãi, Ngà Rằng, Thông Áng, … Quang cảnh ở đây đẹp đẽ, nên thơ, trong lành, tĩnh mịch của sông nước, rừng núi, mây mù chen lẫn với cảnh làng quê của đồng bào các dân tộc miền núi. Phía bờ sông bên kia là cột mốc 53 biên giới Việt Trung…”. Tập sách ảnh giới thiệu Cao Bằng trong bộ sách Việt Nam đất nước con người do Thông tấn xã Việt Nam – Nhà xuất bản Thông tấn phối hợp với Sở thương mại Du lịch tỉnh Cao Bằng biên soạn – xuất bản năm 2004 đã giới thiệu ảnh phần thác ba tầng của Thác Bản Giốc với lời chú thích: “…Thác chia thành ba tầng gồm nhiều ngọn thác lớn nhỏ khác nhau. Thác rộng đến 300m; những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi tạo thành một màn bụi nước trắng xóa. Ngay từ xa du khách có thể nghe thấy tiếng ầm ào của thác vang động cả một vùng rộng lớn …”. Như vậy cột mốc 53 hiện nay là cột mốc đã được di dời từ trên núi bên bờ Bắc sông Quây Sơn xuống giữa lòng sông trên đầu thác để lấn chiếm phần thác ba tầng và cũng chính là Thác Bản Giốc.

    Tài liệu địa lý của thời Pháp thuộc ghi nhận: Thác Bản Giốc là thác đẹp nhất Đông Dương. Tài liệu địa lý – du lịch của Trung Quốc cũng ghi nhận: Thác Bản Giốc (họ gọi là thác Đức Thiên) là thác đẹp nhất của Trung Quốc và là một trong những thác đẹp nhất Châu Á. Phần thác ba dòng ở bờ Nam sông tuy cũng có vẻ đẹp riêng, nhưng chỉ vào loại trung bình trong hàng trăm thác ở các vùng rừng núi nước ta. Hơn mười năm nay Trung Quốc đã đầu tư lớn xây dựng các cơ sở hạ tầng để biến thác Bản Giốc (phần thác ba tầng họ lấn chiếm) thành điểm du lịch rất hấp dẫn. Những năm gần đây, họ mở cửa ở cột mốc 53 để thu hút khách du lịch (trong – ngoài nước) của Việt Nam. Ông Vũ Dũng nói: “Hàng triệu lượt khách du lịch đến thác Bản Giốc đều biết rõ điều này!” Đúng là khách đến tham quan du lịch thác Bản Giốc, hiện trạng của thác cũng dễ làm cho họ ngộ nhận như vậy. Họ đâu có được nghe giới thiệu về những tư liệu lịch sử và họ cũng ít có dịp tiếp xúc với người dân bản địa để tìm hiểu nguyên trạng của thác Bản Giốc, của cột mốc 53. Đến thác Bản Giốc hỏi bất cứ người dân nào (nhất là lớp từ tuổi trung niên trở lên) ở làng Bản Giốc, làng Thắc Then đều được họ cho biết rành rẽ toàn bộ thác Bản Giốc (cả bờ bắc – bờ nam) trước đây đều thuộc về Việt Nam; cột mốc 53 không nằm ở vị trí hiện nay mà ở trên núi phía bờ Bắc … Trong bài bút ký Cực Bắc bao nỗi lo toan của tác giả Đỗ Hoàng đăng trong Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) số tháng 1 năm 2008 có đoạn: “Khi tôi đến thác Bản Giốc gặp cụ Nông Văn Thà làm ruộng bên thác kể rằng: hồi cụ còn nhỏ, nhà cụ dựng ở bên kia thác Bản Giốc; cụ theo bố vào sâu cách thác đến 12km để làm rẫy…” (việc làm rẫy xa như vậy có thể là chuyện xâm canh, nhưng khoảng cách hơn 2km phía bờ Bắc trở vào thì không chỉ bà con bờ Nam mà cả bờ Bắc – nay là người Trung Quốc cũng xác nhận là đất Việt Nam)

    Về Hữu nghị quan, ông Vũ Dũng nói: “Một số người hiểu nhầm là đường biên giới đi qua ải Nam Quan, thực ra trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc và theo các văn bản pháp lý lịch sử , đường biên giới luôn nằm phía nam ải Nam Quan. Còn vị trí cụ thể đường biên do hạn chế của điều kiện lịch sử, các văn bản về hoạch định và phân giới cắm mốc giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc) có những điểm không rõ ràng. Đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỉ lệ lớn từ 1/20.000 đến 1/500.000 có nghĩa 1 mm trên bản đồ tương đương với 20 – 500m trên thực địa. Hơn nữa địa hình trên bản đồ không hoàn toàn phù hợp với địa hình trên thực địa nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới tại các khu vực này…!”

    Cách giải trình trên đây của ông Vũ Dũng hơi lắt léo, vừa mơ hồ, vừa khó hiểu. Đường biên giới trên thực địa có thể không hoàn toàn phù hợp 100% với đường biên trên bản đồ. Sự chênh lệch này có thể xảy ra trên nhiều điểm trên toàn tuyến biên giới chứ sao lại chỉ ở những nơi hiểm yếu như khu vực Hữu nghị quan và sai sót ấy của bản đồ lại chỉ xê dịch về phía ta không về phía đất Tàu? Bản đồ đi kèm với hiệp định là do hai bên cùng thực hiện, đâu phải là do phía Tàu (nhà Thanh) vẽ mà họ vẽ thế nào cũng được? Cùng với bản đồ, trên thực địa còn có các cột mốc đánh dấu sự phân giới được hai nước thống nhất nên xác định đất vùng biên thuộc bên nào chắc không đến nỗi khó lắm, nếu đôi bên đều có công tâm!

    Sử sách chẳng đã ghi chép chuyện tranh giành đất ở tám thôn thuộc Na Oa – Lộc Bình (Lạng Sơn) hơn 300 năm trước đó sao! Viên Tri Châu Tư Lang (Quảng Tây) tố cáo với tổng đốc Quảng Tây là Tri Châu, Lộc Bình lấn chiếm đất tám thôn vùng Na Oa. Tổng đốc Quảng Tây yêu cầu đốc trấn Lạng Sơn cử người hội khám. Khi ra hiện trường hỏi mốc giới, Tri Châu Tư Lang và Lộc Bình đều chỉ vào hòn đá có hình con sư tử trên núi. Viên quan nhà Thanh quở trách Tri Châu Tư Lang: “Mốc giới ở đây sao ngươi lại tranh xuống Na Oa? Ngươi cậy là người của Thiên triều muốn xâm chiến đất của An Nam sao?” Đất khu vực Hữu nghị quan, ngoài bản đồ còn có cột mốc biên giới kia mà! Dư luận dân ta không hiểu nhầm thắc mắc cửa khẩu Hữu nghị (Nam Quan) do ai xây dựng mà là đất đai khu vực phía Nam Hữu nghị quan có phải bị Trung Quốc xâm lấn? Cửa quan Hữu nghị cũng như nhiều cửa quan khác trên tuyến biên giới phần lớn đều do các triều đại Trung Quốc xây dựng. Các cửa quan ấy đều được thiết lập ngay trên đường biên giới của hai nước, phía Bắc cửa quan là đất Trung Quốc, phía Nam cửa quan là đất Việt Nam. Ở cửa khẩu Hữu nghị cũng vậy. Cửa khẩu Nam Quan (Hữu nghị) được xây dựng trên đường biên giới giữa hai mốc 18 và 19. Có lẽ dân ta không hiểu nhầm như ông Vũ Dũng nói. Phía Bắc cửa quan là đầu mối quốc lộ 322 của Quảng Tây và phía Nam cửa quan là đầu mối của quốc lộ 1A Việt Nam. Thời phong kiến và Pháp thuộc các cơ sở dịch vụ và đồn binh của mỗi nước đều thiết lập ngay sát cửa quan phía Bắc (Trung Quốc) và phía Nam (Việt Nam). Binh lính Trung Quốc canh giữ cửa Bắc, binh lính Việt Nam canh giữ cửa Nam. Nhưng hiện trạng ngày nay, toàn bộ khu vực phía Nam cửa quan vào sâu đất của ta đến 0,8km (điểm số 0 mới của đường 1A) đều thuộc đất Trung Quốc. Họ xây dựng nhiều tòa nhà đồ sộ trong khu vực này. Thực trạng này có phải lãnh thổ nước ta ở khu vực Hữu nghị quan đã bị xâm lấn nghiêm trọng hay không? Ông Vũ Dũng không giải đáp đúng vào điểm mấu chốt này mà đi nói vòng vo, lấp lửng!

    Cũng trong bút ký “Cực Bắc bao nỗi lo toan”, nhà văn Đỗ Hoàng viết: “Năm 1973 khi tôi lên Lạng Sơn nhìn thấy Mục Nam Quan là của bộ đội mình đứng gác, nhưng tháng 5 năm 2006 vừa qua tôi cùng đoàn nhà văn Việt Nam ở Trung Quốc về qua cửa khẩu Lạng Sơn thì thấy cổng Hữu Nghị Quan và nhiều ngôi nhà xây từ thời Pháp đã ở bên đất bạn.

    Tôi là người biết chữ Hán, nói được tiếng Bắc Kinh và biết chút tiếng Anh, nên tôi đọc được những dòng chữ mà Trung Quốc ghi lưu dấu ở các di tích này. Phía Trung Quốc không ghi sai dòng nào. Những tòa nhà nào Pháp xây họ đều ghi đúng như vậy. Đường biên lùi sâu vào đất ta đến năm, sáu trăm mét.

    Đấy là điều không chỉ tôi mà nhiều người nữa cũng rất day dứt, băn khoăn, mặc dù tôi chỉ là một dân thường và tự nhủ: Mình như gái goá lo việc triều đình! Nhưng cổ nhân đã dạy “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (Nước nhà thịnh suy, một người dân cũng phải có trách nhiệm lo lắng bảo vệ), việc này luôn luôn bức xúc và canh cánh trong lòng tôi!”

    Việc ký hiệp định biên giới trên bộ năm 1999 Việt Nam – Trung Quốc có làm tổn hại đến quyền lợi thiêng liêng của Tổ quốc hay không; sự tổn hại ấy nhiều hay ít đang là nỗi day dứt, bức xúc, băn khoăn của nhiều người quan tâm đến vận nước - như tâm tư của nhà văn Đỗ Hoàng. Để giải đáp thỏa đáng nỗi băn khoăn, day dứt, bức xúc chính đáng này nên chăng nhà nước cần công bố nguyên văn bản hiệp định cùng bản đồ đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc mới được thiết lập, đối chiếu đầy đủ với các tư liệu lịch sử từ các triều đại phong kiến, Pháp thuộc, nhà nước Việt Nam DCCH – XHCN (từ năm 1949 đến 1990); những chú giải – giải thích xác đáng về những thay đổi lãnh thổ trên đường biên hiện trạng với đường biên lịch sử (như giải thích của chính phủ Pháp ở Đông Dương khi ký hiệp định biên giới trên bộ Pháp – Thanh)

    Hàn Vĩnh Diệp (CLB Phan Tây Hồ)
    (mùa xuân năm 2008)

    PHỤ LỤC 1: Thác Bản Giốc


    Ảnh 1: Toàn cảnh thác Bản Giốc trong sách Địa chí tỉnh Cao Bằng

    Ảnh 2 : Thác Bản Giốc (phần thác ba tầng) trong sách giới thiệu Cao Bằng
    (trong bộ “Việt nam đất nước - con người” của VNTTX và Sở TMDL Cao Bằng)

    Ảnh 3 : Cột mốc 53 trơ trọi trên đầu thác Bản Giốc


    Ảnh 4 : Cửa khẩu 53 mở cho khách tham quan, du lịch từ Việt Nam được tự do sang bờ bắc (Trung Quốc)

    PHỤ LỤC 2 : Cột mốc ở Ngọc Khê

    Ảnh 5: Cột mốc ở Ngọc Khê

    Ảnh 6 : Đất Việt Nam thành đất Trung Quốc

    Ảnh 7 (xem chú thích bên dưới)

    Chú thích : Ảnh 5 là cột mốc ở cửa khẩu Ngọc Khê (huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) - bên Trung Quốc là Pò Péo (Tĩnh Tây, Quảng Tây), trước ở trên đỉnh núi, sau bị dời xuống chân núi về phía ta, mặc nhiên toàn bộ khu vực hiện là đồn biên phòng TQ và bãi rộng có đống quặng (ảnh 6) trở thành đất TQ. Những năm 60, bãi đất này chính quyền ta giành làm địa điểm tập kết chở hàng viện trợ của TQ cho VN; lợi dụng việc ấy họ di dời cột mốc để xâm lấn lãnh thổ ta. Nếu chiếu theo cột mốc mới dựng trên hẽm núi bên trái thì hàng chục mẫu ruộng ở giữa cột mốc mới và bãi đất rộng trên đây sẽ bị mất về TQ (Ảnh 7)

    Ảnh 8 : Cửa khẩu Ngọc Khê (Pò Péo)

    Trích bản đồ giao thông đường bộ năm 2004 (M.T.L.)

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Ông Trần Công Trục tuyên bố như đinh đóng cột rằng :“Thác Bản Giốc được xác định đúng tinh thần luật pháp, thông lệ quốc tế và Hiệp ước Pháp- Thanh. Không ai có quyền tự mình duyệt phương án đàm phán giải quyết khu vực này". (xin xem bài Thác Bản Giốc được xác định đúng tinh thần Công ước Pháp-Thanh (Trần Công Trục)).

    Thế nhưng, ông Trương Nhân Tuấn trong bài “Mâu-Thuẩn của Lê Công Phụng về Nam-Quan và Thác Bản-giốc” đã chứng minh rằng trong Công ước Pháp Thanh, cột mốc 53 không thể nào nằm trên một cái cồn như phía TQ đã đưa cột mốc giả ra để cắt đôi thác Bản Giốc của ta:

    Ông TUẤN viết: “Lê Công Phụng đã khẳng- định với phóng-viên rằng cột mốc cắm tại gần thác Bản-Giốc đã có từ đời nhà Thanh. Theo Phụng thì cột mốc nầy nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối. Và dân địa-phương cũng nói cột móc đó ở đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi cả.
    Lê Công Phụng đã nói những chi-tiết không phù-hợp với những gì trên thực-tế đã ghi trong các biên-bản và bản- đồ đính-kèm trong Hiệp-Ước Thiên-Tân.
    Theo biên-bản ký ngày 19 tháng sáu năm 1894 tại Long-Châu giữa hai Ủy-Ban Phân- Ðịnh Biên-Giới Pháp và Trung-Hoa, thì đã có 207 cột mốc đã được đặt từ Bi-Nhi bên sông Kì-Cùng cho tới biên-giới Vân-Nam. Ðoạn 1 gồm từ Bi-Nhi tới biên-giới Quảng-Ðông. Ðoạn 2 gồm từ biên-giới Quảng-Ðông cho đến biên-giới Vân Nam. Vùng có cột mốc Nam-Quan thuộc đoạn 1. Vùng biên-giới bao-bọc thác Bản-Giốc được nằm trong đoạn 2.
    Trong đoạn 2 nầy gồm có 140 cột mốc. Và trong 140 cột nầy, không có cột nào được mô-tả « được đặt trên một cồn nhỏ ở giữa suối cả». Trong biên-bản nói trên có ghi rõ : « Les bornes frontière, comme on vient de le voir, portent toutes un No, de 1 à 67 pour la 1ère section et de 1 à 140 pour la seconde, ont été posées aux endroits indiqués ci dessus ... » , dịch tiếng Việt : Những cột mốc biên-giới, như ta vừa mới xem thấy, tất-cả đều mang số, từ số 1 đến số 67 cho đoạn thứ nhứt và từ số 1 đến số 140 cho đoạn thứ hai, đã được đặt tại những địa-điểm chỉ- định như trên ... .
    Và điều cần nhấn mạnh, tất cả những cột mốc đều mang một cái tên là tên địa-phương mà nó được đặt.
    Thí- dụ 1 : Cột số 1 của đoạn 2 mang tên Keo-Tsieu-Linh tọa-lạc trên một ngọn đồi phía Bắc Bi-Nhi phía tả ngạn sông Kì-Cùng.
    Thí- dụ 2 : Cột số 5 mang tên Tsie-Long-Linh, ở cách 20 bước (pas) trước cửa Trung-Hoa Nghi-Tan-Quan.
    Thí- dụ 3 : Cột duy nhất được đóng làm hai cột là cột số 74 mang tên Pui-Tung. Cột thứ nhất đóng 15 bước phía Nam, tả ngạn của Cửa (porte) và cột thứ hai 74 bis đóng đối-xứng phía hữu ngạn.
    Như vậy cột « được đặt trên một cồn nhỏ ở giữa suối » mà Lê Công Phụng mô-tả là cột mang số mấy ? Mang tên gì ?
    Tôi xin đính kèm một phần bản- đồ đã kèm theo biên-bản, mang số 3, có bao gồm vùng liên-hệ. Tức là vùng thuộc Phủ-Trùng-Khánh, phía Bắc tỉnh Cao-Bằng đồng-thời ghi lại tại đây một đoạn biên-bản làm tại Móng-Cái ngày 29 tháng 3 năm 1887 :
    .....
    4/ Du point A de la 3e carte au point B de la 3e carte près du village annamite de Luong-Bak-Trai, la frontière suit le milieu du lit du Song-Date-Dang.
    5/ Du point B de la 3e carte au annamite de Bao-Khe la frontière décrit un arc dont la convexité est tournée vers lEst, laissant en Chine le poste de Ban-Thao-Kha traversant la passe de Ko-Ya-Ai, laissant en Chine le poste militaire de Ko-Ya-Kha et de Kaing-Han-Kha ect ... ect ... en Annam le Song-Date-Dang entre B et C et les villages de Luong-Bak-Trai, de Loung-Bo-Xa et de Pham-Khe ect ... ect ...
    6/ Du point C de la 3e carte point où le Song-Date-Dang entre sur territoire annamite , la frontière suit une direction N-O jusquà la passe de Keng-Qui-Ai, laissant en Chine la passe de Dinh-Lang-Ai, le poste de Nhiam-Thiang-Kha, de Dinh-La-Kha, de Lung-Bang-Ai ect... ect... en Annam les villages de Loung-Tu-Thon, de Linh-Chiem, le territoire de Loung-Trat-Thon et de Pia-Mé-Thon ect ... ect ...
    7/ De la passe de Keng-Ki-Ai jusquau point D de la 3e carte la frontière court directement au Sud-Ouest puis se relève directement au Nord jusquau point E.
    .....
    Tạm dịch :
    ......
    4/ Từ điểm A của bản- đồ số 3 tới điểm B của bản- đồ số 3 gần với làng An-Nam tên Luong-Pak-Trai, đường biên-giới theo đường giữa của dòng sông Song-Date-Dang.
    5/ Từ điểm B của bản- đồ thứ 3 tại Bao-Khe thuộc An-Nam, đường biên-giới vẽ một vòng cung mà mặt lồi day về hướng Ðông, để lại Trung-Hoa trạm Ban-Thao-Kha, xuyên qua của ải Ko-Ya-Ai, để lại Trung-Hoa trạm lính Ko-Ya-Kha và Kaing-Han-Kha ect... ect ... thuộc An-Nam sông Song-Date-Dang giữa hai điểm B và C đồng thời những làng Luong-Bak-Trai, Loung-Bo-Xa và Pham-Khe ect ... ect ...
    6/ Từ điểm C của bản- đồ thứ 3, điểm mà con Song-Date-Dang chảy qua lãnh-thổ An-Nam, đường biên-giới theo hướng Tây-Bắc cho đến ải Keng-Qui-Ai, để lại cho Trung-Hoa ải Dinh-Lang-Ai, trạm Nhiam-Thiang-Kha, Dinh-La-Kha , Lung-Bang-Ai ect ... ect... để cho An-Nam những làng Loung-Tu-Thon, Linh-Chiem, lãnh- địa vùng Lung-Trat-Thon, và Pia-Me-Thon.
    7/ Từ ải Keng-Qui-Ai cho đến điểm D của bản- đồ thứ 3, đường biên-giới chạy thẳng hướng Tây-Nam , sau đó trở thẳng lên hướng Bắc cho tới điểm E.
    ....
    Ta nhận thấy trong bản- đồ mang tên số 3 đính kèm theo đây có ghi rõ các điểm chính-yếu là các điểm A, B, C, D, E .... và trong Biên-Bản (không gởi) ta thấy có ghi rõ số thứ-tự của và tên, tức địa- danh của 140 cột mốc phân-chia biên-giới. Ðường biên-giới của đoạn 2 như vậy tương- đối rõ rệt, khó mà tranh cãi được.
    Trong bản- đồ ta không thấy ghi vị-trí thác Bản-Giốc. Vì đây chỉ là một chi-tiết nhỏ. Nhưng theo những người thông-thạo thì biết rằng thác nầy thuộc xã Ðàm-Thủy, Phủ Trùng-Khánh tỉnh Cao-Bằng. Thác bản-Giốc ở về hướng Ðông-Bắc Trùng-Khánh-Phủ, cách đây lối 20 Km. Hang Pac-Pó cũng nằm trong phần bản- đồ nầy, về hướng Bắc Trùng-Khánh-Phủ. Hai địa danh nầy nếu thông-thạo về bản- đồ thì sẽ không gặp khó-khăn gì để nhận- diện. Nhất là những cửa ải có ghi tên khá rõ dọc theo đường biên-giới. Dựa vào các phương- danh nầy ta có thể suy ra vị trí của thác Bản-Giốc. Tuy-nhiên, tôi cũng xin kèm theo đây bản- đồ tổng-quát của tỉnh Cao-Bằng, do Pháp ấn-hành trong lúc Việt-Nam còn là thuộc- địa. Theo bản- đồ nầy thì Bản-Giốc thuộc Việt-Nam, cách biên-giới ít nhất là 5 cây số”.

    Như thế, rõ ràng là ĐCSVN đã vì lý do nào khác để NHÂN NHƯỢNG cắt thác Bản Giốc của tổ tiên ta dâng cho TQ, hoàn toàn TRÁI NGƯỢC với tinh thần Công ước Pháp Thanh 1887-1985. Bởi vì đoàn thương thuyết của phía VN chỉ cần nêu ra đoạn trên trong Công ước Pháp Thanh (mà chắc chắn là VN đang lưu trữ tại Hà Nội) để BÁC BỎ cột mốc 53 do TQ dời từ vị trí nguyên thủy thời 1887-1895 xuống cồn Pò Thoong (như Đảng và Nhà nước “ta” đã TỐ CÁO trong Bị vong lục 1979). Từ đó, ta sẽ không bị TQ CƯỚP MẤT nửa thác như ngày nay.

    Mâu-Thuẩn của Lê Công Phụng về Nam-Quan và Thác Bản-giốc

    Trương Nhân Tuấn

    Trả lời một cuộc phỏng-vấn gần đây, Thứ-Trưởng Bộ Ngoại-Giao CSVN Lê Công Phụng đã cho biết là biên-giới Việt-Trung đã được phân- định lại và hai bên, nước Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa và nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đã ký Hiệp- Ðịnh Trên Bộ vào ngày 30 tháng 12 năm 1999 và Hiệp-Ðịnh Phân-Ðịnh Vịnh Bắc Bộ đã ký vào ngày 25 tháng 12 năm 2000. Nhân dịp cuộc phỏng-vấn nầy, ông Lê Công Phụng đã phủ-nhận những tin cho rằng Việt-Nam đã nhượng cho Trung-Hoa trên 700 Km2 đất. Phụng nói rằng:
    « Về biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, mọi người đều biết là thực dân Pháp và triều đình nhà Thanh đã hoạch định và phân giới cắm mốc theo 2 thỏa ước cách đây hơn 100 năm, tức là vào các năm 1887 và 1895. Theo 2 công ước đó, biên giới Việt Nam và Trung Quốc đã được phân định toàn bộ từ Tây sang Đông trên chiều dài trên dưới 1.300 cây số, và đã cắm trên 300 cột mốc. Trong hơn 100 năm qua, đã diễn ra rất nhiều biến thiên về con người, của thiên nhiên, của các sự kiện chính trị, và vì vậy đường biên giới không còn nguyên vẹn như lúc nhà Thanh và thực dân Pháp phân định một thế kỷ trước. Trong tình hình như vậy, nước CHXHCN Việt Nam chúng ta và nước CHND Trung Hoa có nhu cầu cùng xác định lại đường biên giới, để làm sao mà thực hiện quản lý, làm sao mà duy trì được ổn định nhằm phát triển kinh tế và quan trọng hơn là nhằm xây dựng một mối quan hệ hữu nghị láng giềng hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì chúng ta ngày nay và vì thế hệ sau này.
    Đàm phán lại lần này thì căn cứ để phân định đường biên giới là dựa chủ yếu vào các công ước đã được ký cách đây 100 năm. Và khi chúng ta và Trung Quốc đưa ra bản đồ chủ trương của mình (có nghĩa là theo chúng ta đường biên giới chỗ nào là đúng, theo Trung Quốc đường biên giới chỗ nào là đúng), hai bên chênh nhau 227 km2 tại 164 điểm. Và 227 km2 đó nằm trên quãng 400 cây số. Còn 900 cây số chiều dài còn lại thì hai bên nhất trí với nhau theo phân định của bản đồ Pháp - Thanh.
    Trong 227 km2 đó, chúng ta đàm phán với Trung Quốc từ năm 1993, đi đến ký kết ngày 30/12/1999. Chúng ta được khoảng trên dưới 113 km2 và Trung Quốc được trên dưới 114 km2. Như vậy có thể nói, qua cuộc đàm phán thương lượng đi đến ký kết Hiệp định trên bộ, chúng ta và Trung Quốc đã đạt kết quả được công bằng và thỏa đáng.
    »
    Như vậy, theo Phụng, Hiệp-Ước phân- định biên-giới ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 « chủ-yếu » là đã dựa theo Hiệp-Ước Thiên-Tân . Hiệp-Ước nầy ký giữa Pháp và Trung-Hoa (dưới triều- đại nhà Thanh) trong phần « Délimitation de la Frontière ... », vào các năm 1887 và 1895. Tuy vậy, đã có những sai biệt tại 164 điểm trên khoảng 400 Km đường biên-giới và việc nầy làm sinh ra một sự chênh-lệch lãnh-thổ giữa hai nước là 227 cây số vuông. Nhưng theo Phụng, những chênh-lệch đất đai nầy đã được hai bên đàm-phán từ năm 1993. Kết quả của việc đàm-phán là Việt-Nam được 113 cây số vuông và Trung-Hoa được 114 cây số vuông. Nếu thật sự đúng như vậy thì về phần hình-thức, các con số, ta có thể công-nhận rằng đây là một sự thảo-thuận công-bằng và thỏa- đáng.
    Nhưng thực-tế thì ra sao ? Lê Công Phụng có nói sự thật hay không ? Toàn-bộ nội- dung các hiệp- định đã ký từ cuối năm 1999 và cuối năm 2000 đến nay nhà nước CHXHCN VN vẫn chưa công-bố. Ta có thể gọi đây là các mật-ước. Ngoài những câu trả lời mơ-hồ trong bài phỏng-vấn của Lê Công Phụng, thì toàn-thể dân ta trong và ngoài nước thảy đều không hay biết thêm gì hơn về chuyện nầy. Ðứng trước một sự bít bùng về tin-tức như vậy, những người có lòng với đất nước ở quốc nội cũng như tại hải ngoại, đã gióng lên những tiếng chuông qua các hình-thức viết bài tố-cáo hay làm tuyên-cáo phản- đối nhằm để cảnh-tỉnh người dân trong nước vì lo ngại trước việc CSVN có thể nhượng đất đai cho CHND Trung-Hoa. Chúng tôi hôm nay, sau khi khảo-cứu sơ-lược bản chánh của Hiệp-Ước Thiên-Tân về phần Phân- Ðịnh Biên-Giới tồn-trữ tại Văn-Khố Ðông- Dương tại Aix-En-Provence, xin ghi-nhận vài điều mâu-thuẫn trong bài trả lời phỏng-vấn Lê Công Phụng. Nếu Ông Lê Công Phụng có đọc bài nầy thì xin cho ý-kiến. Nếu ông không trả lời để làm sáng tỏ những chi-tiết ghi sau đây, điều đó có nghĩa những gì chúng tôi nhận- định là đúng.
    I/ Thác Bản-Giốc : Lê Công Phụng đã trả lời câu hỏi về thác Bản-Giốc như sau :
    « Về thác Bản Giốc, thì đây là điều rất phức tạp. Chúng tôi cũng rất lạ là trong sách sử của chúng ta và Trung Quốc từ năm 1960 đến nay, không ai nói thác Bản Giốc có phần là của Trung Quốc. Ngay Trung Quốc cũng không nói đấy là của Trung Quốc. Còn đối với chúng ta, thác này đã đi vào sử sách, nhất là sách giáo khoa của học sinh, thành di tích, điểm du lịch được nhiều người ưa chuộng.
    Đây là điều mà chúng tôi rất khó hiểu, bởi lẽ trong công ước giữa nhà Thanh và Pháp, thác Bản Giốc chỉ thuộc về chúng ta có 1/3 thôi; và theo thực trạng cột mốc được cắm từ thời nhà Thanh, thì chúng ta cũng chỉ được 1/3 thác.
    - Tức là cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời Thanh?
    - Đúng vậy. Cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời Thanh, xác định chỉ có chưa được một nửa thác Bản Giốc là ở bên phía ta. Theo quy định quốc tế, khi phân giới cắm mốc thì thác được coi như 1 dòng sông, 1 dòng suối. Đã là sông suối thì đường biên giới đi qua luồng chính, tức là chỗ tàu thuyền đi lại được. Còn đối với sông suối nơi tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới phải đi theo rãnh sâu nhất.
    - Chẳng nhẽ tất cả các khách du lịch, trong đó có những người có trách nhiệm, đi thăm thác Bản Giốc mà không phát hiện ra cột mốc nằm đó hay sao?
    - Cột mốc không nằm sát Bản Giốc. Khi chúng tôi khảo sát thì mới thấy cột mốc nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét. Vì vậy nên cũng không mấy ai quan tâm đến cột mốc ở thác Bản Giốc.
    Trước tình hình như vậy, chúng tôi nghĩ rằng trong đàm phán phải hợp lý, thỏa đáng phù hợp với mặt pháp lý. Chúng ta phải căn cứ vào những thỏa thuận pháp lý Thanh - Pháp, căn cứ vào biểu đồ, căn cứ vào cột mốc hiện có mà dân địa phương nói là cột mốc đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi cả. Cuối cùng, lãnh đạo chúng ta cũng nhất trí trong tất cả các điều kiện ấy, không thể đòi hỏi thác Bản Giốc phải là của chúng ta hoàn toàn được.
    Lẽ ra theo thực tiễn thì chúng ta chỉ được 1/3. Nhưng sau đàm phán, chúng ta và bạn đã thỏa thuận thác Bản Giốc được chia đôi, mỗi bên được 50%. Hiện nay cả 2 bên đang tiến hành khai thác du lịch phía bên mình.
    Ở chỗ này, nếu nói chúng ta bán đất thì hoàn toàn vô lý. Pháp lý lẫn thực tiễn đều không cho phép chúng ta giữ chủ quyền trên toàn bộ thác Bản Giốc. »
    Lê Công Phụng đã khẳng- định với phóng-viên rằng cột mốc cắm tại gần thác Bản-Giốc đã có từ đời nhà Thanh. Theo Phụng thì cột mốc nầy nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối. Và dân địa-phương cũng nói cột móc đó ở đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi cả.
    Lê Công Phụng đã nói những chi-tiết không phù-hợp với những gì trên thực-tế đã ghi trong các biên-bản và bản- đồ đính-kèm trong Hiệp-Ước Thiên-Tân.
    Theo biên-bản ký ngày 19 tháng sáu năm 1894 tại Long-Châu giữa hai Ủy-Ban Phân- Ðịnh Biên-Giới Pháp và Trung-Hoa, thì đã có 207 cột mốc đã được đặt từ Bi-Nhi bên sông Kì-Cùng cho tới biên-giới Vân-Nam. Ðoạn 1 gồm từ Bi-Nhi tới biên-giới Quảng-Ðông. Ðoạn 2 gồm từ biên-giới Quảng-Ðông cho đến biên-giới Vân Nam. Vùng có cột mốc Nam-Quan thuộc đoạn 1. Vùng biên-giới bao-bọc thác Bản-Giốc được nằm trong đoạn 2.
    Trong đoạn 2 nầy gồm có 140 cột mốc. Và trong 140 cột nầy, không có cột nào được mô-tả « được đặt trên một cồn nhỏ ở giữa suối cả». Trong biên-bản nói trên có ghi rõ : « Les bornes frontière, comme on vient de le voir, portent toutes un No, de 1 à 67 pour la 1ère section et de 1 à 140 pour la seconde, ont été posées aux endroits indiqués ci dessus ... » , dịch tiếng Việt : Những cột mốc biên-giới, như ta vừa mới xem thấy, tất-cả đều mang số, từ số 1 đến số 67 cho đoạn thứ nhứt và từ số 1 đến số 140 cho đoạn thứ hai, đã được đặt tại những địa-điểm chỉ- định như trên ... .
    Và điều cần nhấn mạnh, tất cả những cột mốc đều mang một cái tên là tên địa-phương mà nó được đặt.
    Thí- dụ 1 : Cột số 1 của đoạn 2 mang tên Keo-Tsieu-Linh tọa-lạc trên một ngọn đồi phía Bắc Bi-Nhi phía tả ngạn sông Kì-Cùng.
    Thí- dụ 2 : Cột số 5 mang tên Tsie-Long-Linh, ở cách 20 bước (pas) trước cửa Trung-Hoa Nghi-Tan-Quan.
    Thí- dụ 3 : Cột duy nhất được đóng làm hai cột là cột số 74 mang tên Pui-Tung. Cột thứ nhất đóng 15 bước phía Nam, tả ngạn của Cửa (porte) và cột thứ hai 74 bis đóng đối-xứng phía hữu ngạn.
    Như vậy cột « được đặt trên một cồn nhỏ ở giữa suối » mà Lê Công Phụng mô-tả là cột mang số mấy ? Mang tên gì ?
    Tôi xin đính kèm một phần bản- đồ đã kèm theo biên-bản, mang số 3, có bao gồm vùng liên-hệ. Tức là vùng thuộc Phủ-Trùng-Khánh, phía Bắc tỉnh Cao-Bằng đồng-thời ghi lại tại đây một đoạn biên-bản làm tại Móng-Cái ngày 29 tháng 3 năm 1887 :
    .....
    4/ Du point A de la 3e carte au point B de la 3e carte près du village annamite de Luong-Bak-Trai, la frontière suit le milieu du lit du Song-Date-Dang.
    5/ Du point B de la 3e carte au annamite de Bao-Khe la frontière décrit un arc dont la convexité est tournée vers lEst, laissant en Chine le poste de Ban-Thao-Kha traversant la passe de Ko-Ya-Ai, laissant en Chine le poste militaire de Ko-Ya-Kha et de Kaing-Han-Kha ect ... ect ... en Annam le Song-Date-Dang entre B et C et les villages de Luong-Bak-Trai, de Loung-Bo-Xa et de Pham-Khe ect ... ect ...
    6/ Du point C de la 3e carte point où le Song-Date-Dang entre sur territoire annamite , la frontière suit une direction N-O jusquà la passe de Keng-Qui-Ai, laissant en Chine la passe de Dinh-Lang-Ai, le poste de Nhiam-Thiang-Kha, de Dinh-La-Kha, de Lung-Bang-Ai ect... ect... en Annam les villages de Loung-Tu-Thon, de Linh-Chiem, le territoire de Loung-Trat-Thon et de Pia-Mé-Thon ect ... ect ...
    7/ De la passe de Keng-Ki-Ai jusquau point D de la 3e carte la frontière court directement au Sud-Ouest puis se relève directement au Nord jusquau point E.
    .....
    Tạm dịch :
    ......
    4/ Từ điểm A của bản- đồ số 3 tới điểm B của bản- đồ số 3 gần với làng An-Nam tên Luong-Pak-Trai, đường biên-giới theo đường giữa của dòng sông Song-Date-Dang.
    5/ Từ điểm B của bản- đồ thứ 3 tại Bao-Khe thuộc An-Nam, đường biên-giới vẽ một vòng cung mà mặt lồi day về hướng Ðông, để lại Trung-Hoa trạm Ban-Thao-Kha, xuyên qua của ải Ko-Ya-Ai, để lại Trung-Hoa trạm lính Ko-Ya-Kha và Kaing-Han-Kha ect... ect ... thuộc An-Nam sông Song-Date-Dang giữa hai điểm B và C đồng thời những làng Luong-Bak-Trai, Loung-Bo-Xa và Pham-Khe ect ... ect ...
    6/ Từ điểm C của bản- đồ thứ 3, điểm mà con Song-Date-Dang chảy qua lãnh-thổ An-Nam, đường biên-giới theo hướng Tây-Bắc cho đến ải Keng-Qui-Ai, để lại cho Trung-Hoa ải Dinh-Lang-Ai, trạm Nhiam-Thiang-Kha, Dinh-La-Kha , Lung-Bang-Ai ect ... ect... để cho An-Nam những làng Loung-Tu-Thon, Linh-Chiem, lãnh- địa vùng Lung-Trat-Thon, và Pia-Me-Thon.
    7/ Từ ải Keng-Qui-Ai cho đến điểm D của bản- đồ thứ 3, đường biên-giới chạy thẳng hướng Tây-Nam , sau đó trở thẳng lên hướng Bắc cho tới điểm E.
    ....
    Ta nhận thấy trong bản- đồ mang tên số 3 đính kèm theo đây có ghi rõ các điểm chính-yếu là các điểm A, B, C, D, E .... và trong Biên-Bản (không gởi) ta thấy có ghi rõ số thứ-tự của và tên, tức địa- danh của 140 cột mốc phân-chia biên-giới. Ðường biên-giới của đoạn 2 như vậy tương- đối rõ rệt, khó mà tranh cãi được.
    Trong bản- đồ ta không thấy ghi vị-trí thác Bản-Giốc. Vì đây chỉ là một chi-tiết nhỏ. Nhưng theo những người thông-thạo thì biết rằng thác nầy thuộc xã Ðàm-Thủy, Phủ Trùng-Khánh tỉnh Cao-Bằng. Thác bản-Giốc ở về hướng Ðông-Bắc Trùng-Khánh-Phủ, cách đây lối 20 Km. Hang Pac-Pó cũng nằm trong phần bản- đồ nầy, về hướng Bắc Trùng-Khánh-Phủ. Hai địa danh nầy nếu thông-thạo về bản- đồ thì sẽ không gặp khó-khăn gì để nhận- diện. Nhất là những cửa ải có ghi tên khá rõ dọc theo đường biên-giới. Dựa vào các phương- danh nầy ta có thể suy ra vị trí của thác Bản-Giốc. Tuy-nhiên, tôi cũng xin kèm theo đây bản- đồ tổng-quát của tỉnh Cao-Bằng, do Pháp ấn-hành trong lúc Việt-Nam còn là thuộc- địa. Theo bản- đồ nầy thì Bản-Giốc thuộc Việt-Nam, cách biên-giới ít nhất là 5 cây số.
    II/ Ải Nam-Quan và cột mốc số O :
    Tôi xin ghi lại câu hỏi và câu trả lời của Lê Công Phụng trong bài phỏng-vấn :
    « - Còn về mục Nam Quan. Đi bộ từ Hữu nghị quan tới cột mốc số 0 đến vài trăm mét. Thực tế sự sai lệch này là như thế nào?
    - Trong sử sách, trong văn thơ đều nói đất của chúng ta kéo dài từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau. Mục Nam Quan ở đây nếu nói là cái cổng thì cũng là một cách, nhưng nếu nói là khu vực thì cũng là một cách nói. Giống như đại đa số các cửa khẩu biên giới, ''cửa khẩu'' theo nghĩa rộng thường bao gồm hai cửa khẩu.
    - Và thường chúng thường cách nhau bao nhiêu mét?
    - Ví dụ như ở Bắc Luân thì hai cửa khẩu cách nhau khoảng 100m. Còn các khu vực trên đất liền, sát với sông suối, thì tùy địa hình của từng bên. Chúng ta cũng biết là ải Nam Quan là cuối khúc sông. Nếu chúng ta bắt đầu tính biên giới từ chân tường hoặc chia đôi cửa mục Nam Quan thì cũng không được. Còn cột mốc số không - nhân dân Lạng Sơn báo cáo với Trung ương, Chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già còn chưa ra đời. Chúng ta tôn trọng cơ sở pháp lý đã có, tôn trọng thực tiễn, nhất là vì lâu nay quản lý đã như vậy. Cho nên hiện nay chúng ta công nhận mục Nam Quan là của Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200m. »
    Theo Hiệp-Ước Thiên-Tân thì không có cột mốc nào mang số O. Cột mốc tại ải Nam-Quan, theo biên-bản ký ngày 19 tháng 6 năm 1894, thì cột mốc nầy mang số 18, mang tên Nam-Quan, và theo biên-bản ký ngày 15 tháng 12 năm 1890 thì có ghi chú : 1er borne sur le chemin de Nam-Quan à Dong-Dang (à 100 m au S de la porte) có nghĩa là cột thứ nhất trên đường từ Nam-Quan về Ðồng- Ðăng (cách 100 thước về phía Nam của Cửa ). Lê Công Phụng nói rằng đã thương-lượng với Trung-Hoa « là dựa chủ yếu vào các công ước đã được ký cách đây 100 năm ». Thực-tế cho thấy Lê Công Phụng đã hoàn-toàn nói không đúng sự thật.
    Cột mốc số Zéro không hiện-hữu trong Hiệp-Ước Thiên-Tân. Và con số Zéro cũng không có ý nghĩa đặc-biệt gì trong việc phân- định biên-giới. Tôi nghĩ rằng Lê Công Phụng đã lầm lẫn cột cây-số đầu tiên của Quốc-Lộ 1 với cột mốc biên-giới. Lầm lẫn nầy không gì quan-trọng, vì ở chỗ nầy ngoại-lệ, vì vừa là chỗ của đường biên-giới vô-hình hai nước đi qua, cũng là chỗ bắt đầu của một đường Quốc-Lộ. Nhưng trầm-trọng là cột mốc gọi là Zéro đó đã đặt không đúng vị-trí của nó. Lê Công Phụng nói rằng nó cách Cửa Nam-Quan hơn 200 m. Hơn 200 là bao nhiêu ? 400 hoặc 500 cũng là hơn 200. Nhưng nhờ vậy, ít nhất, qua Lê Công Phụng ta biết nước ta đã mất đi hơn 100 thước đất tại Nam-Quan.
    III/ Nghi ngờ sự hiểu biết của Lê Công Phụng về Hiệp-Ước Thiên-Tân :
    Tôi nghĩ rằng Lê Công Phụng đã không có một kiến-thức tối-thiểu nào về nội- dung của Hiệp-Ước Thiên-Tân. Theo Phụng thì cuộc thương-lượng về biên-giới giữa VN và TH đã bắt đầu từ năm 1993 và ký vào cuối năm 1999. Thời-gian thương-thảo tính gọn là 6 năm. Lúc Phụng trả lời phỏng-vấn là năm 2002. Tức khoảng 9 năm từ ngày bắt đầu thương-thảo cho tới ngày trả lời phỏng-vấn. Vậy mà Phụng đã cho chúng ta thấy là ông ta không biết một chút nào về Hiệp-Ước nầy. Các câu trả lời liên quan đến các cột mốc của ông ta đã cho phép tôi kết-luận như vậy. Ông ta không biết gì về hiệp-ước nầy thì làm sao ông ta có thể thương-lượng với các ủy-viên đại-diện cho Trung-Hoa ? Về cột mốc tại gần thác Bản-Giốc, Ông Phụng nói rằng « khi chúng tôi khảo-sát », có nghĩa là chính mắt Phụng trông thấy cột mốc ấy. Xin hỏi lại cột mốc ấy mang số mấy, có ghi những chữ gì ? Xin ông Phụng vì quyền-lợi đất nước mà trả lời cho rõ rệt. Cột mốc ở Nam-Quan cũng thế, Lê Công Phụng chỉ nói bừa . Vì làm gì có cột mốc O ? Chưa hết, theo Hiệp ước Thiên-Tân thì đã có nhiều nơi biên giới giữa nước ta và Trung-Hoa là một giòng sông. Và khi nào cũng thế, trong các biên-bản đính kèm đều có ghi chủ quyền của hai nước về dòng sông. Thí dụ trong đoạn từ Trúc-Sơn (Móng Cái) đến Bắc Ải Cương, con sông Gia Long một đoạn là biên giới giữa hai nước. Theo Hiệp-Ước Thiên-Tân thì ÐƯỜNG GIỮA của giòng sông là đường biên-giới. Thí dụ khác, Sông Hồng làm biên-giới giữa hai nước đoạn phía Bắc của Lào-Kai. Trong đoạn nầy Hiệp-Ước Thiên-Tân cũng ghi rõ là đường giữa của dòng sông là biên-giới hai nước. Cù-lao nào gần bờ nước ta thì thuộc nước ta. Cù-lao nào gần bờ Trung-Hoa thì thuộc Trung-Hoa.
    Lê Công Phụng nói rằng đàm-phán về việc phân- định lại biên-giới dựa lên Hiệp-Ước Thiên-Tân. Thì nếu vậy cứ giở Hiệp-Ước nầy ra mà áp- dụng. Hà cớ chi viện- dẫn luật quốc-tế : « Theo quy định quốc tế, khi phân giới cắm mốc thì thác được coi như 1 dòng sông, 1 dòng suối. Đã là sông suối thì đường biên giới đi qua luồng chính, tức là chỗ tàu thuyền đi lại được. Còn đối với sông suối nơi tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới phải đi theo rãnh sâu nhất », thử hỏi có phải là Phụng không biết gì về Hiệp-Ước Thiên-Tân hay không ?
    Mặc khác, trả lời câu hỏi liên-quan đến cột mốc gọi là cột mốc O, Phụng nói : « Còn cột mốc số không - nhân dân Lạng Sơn báo cáo với Trung ương, Chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già còn chưa ra đời. Chúng ta tôn trọng cơ sở pháp lý đã có, tôn trọng thực tiễn, nhất là vì lâu nay quản lý đã như vậy. Cho nên hiện nay chúng ta công nhận mục Nam Quan là của Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200m ». Như đã nói, cột mốc số không là do Lê Công Phụng đặt ra, thực tế trong Hiệp-Ước Thiên-Tân không hề có cột nào mang số Zérô. Cột nầy không có vậy làm sao nó có đó từ khi những người già chưa ra đời ? Phải chăng Phụng vừa không biết mà lại còn cố ý nói dối ? Như trên Phụng có nói là dựa lên các hiệp ước Pháp-Thanh làm căn bản nào để thương-lượng. Phụng không biết gì về các hiệp ước nầy thì lấy gì thương-lượng. Ta mất đất là điều hiển-nhiên. Cột mốc ở thác Bản-Giốc cũng thế, dân ở đó có nói là từ xưa nay không ai thay đổi cả. Nếu thật vậy thì người Tầu họ quên thác Bản-Giốc hàng trăm năm nay. Chắc là gần đây, người Hoa nào đi chơi thác nầy mới « phát-hiện » được cột mốc nên TH ngày hôm nay mới đòi chủ-quyền. Lê Công Phụng coi thường trí thông-minh của mọi người quá !
    IV/ Kết-Luận : Các hiệp- định phân- định lại biên-giới trên bộ Việt-Trung đã được ký kết từ cuối năm 1999, nhưng chúng ta không ai biết được nội- dung của nó ra sao. Nếu không có bài trả lời phỏng-vấn nầy của Lê Công Phụng thì chúng ta hoàn-toàn không biết được một chi-tiết chính-thức nào về các hiệp ước về biên-giới. Hiệp-ước về lãnh hải thì đã có nhiều người viết đến khá chính-xác, tôi sẽ không đề-cập tới. Hai chi-tiết quan-trọng mà Lê Công Phụng bộc-lộ qua bài phỏng-vấn là Nam-Quan và thác Bản-Giốc thì ta nhận thấy rằng Lê Công Phụng vừa không hiểu-biết về Hiệp-Ước Thiên-Tân và lại vừa nói dối. Vấn đề là Phụng nói dối để làm chi ? Và đó mới chỉ là HAI điểm trong tổng số 164 điểm sai biệt.
    Tại Nam-Quan nước ta mất đất hơn trăm thước. Chúng ta không đòi hỏi gì, chỉ yêu-cầu nhà-nước CSVN và nhà nước CHND Trung-Hoa tôn trọng lãnh-thổ của Việt-Nam. Cột mốc tại Nam-Quan mang số 18, đề chữ Nam-Quan, đặt về hướng Nam trên đường Nam-Quan về Ðồng-Ðăng, cách CỬA Nam-Quan 100 m.
    Tại thác Bản Giốc nước ta mất vào trên 5 cây-số. Nhưng tôi e ngại rằng vùng đất rộng lớn phía bắc ngạn sông Song-Date-Dang (tên Việt là gì tôi chưa tra ra được), có hình là một vành bán nguyệt đã bị CSVN nhượng cho Trung-Hoa. Hàng trăm cây số vuông đất nước đang thay chủ. Chúng ta cũng không đòi hỏi những người cầm-quyền điều gì. Chỉ yêu-cầu nhà nước CSVN và nhà nước CHND Trung-Hoa tôn-trọng tinh-thần các biên-bản và bản- đồ của hiệp-ước Thiên-Tân. Ðây mới thực-sự phản-ảnh biên-giới vững-bền và hòa-bình của hai nước Việt-Trung.
    Cuối cùng, yêu- cầu nhà nước CSVN trưng-bầy 162 điểm phải thương-lượng lại giữa hai nước. Hoặc ít nhất, trưng bầy một điểm cụ-thể mà tại đó TH phải nhường đất lại cho ta.

    Trương Nhân Tuấn

    (Theo Web Diễn Đàn Dân Chủ)