Dự Luật 1897: Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam 2013

  • Bởi Admin
    14/09/2013
    0 phản hồi

    Duy Hữu Mai chuyển ngữ<br />
    Lê Thu Hà hiệu đính ngày 17/9/2013

    Dự Luật 1897: Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam 2013

    Quốc Hội khóa 113, nhiệm kỳ 2013-2015. Bản thảo ngày 9 tháng 9 năm 2013

    (Đã được đệ trình lên ủy ban Thượng Viện)

    Quốc Hội khóa 113

    Phiên họp 1

    Dự Luật số 1897

    Tại Thượng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ

    Ngày 9 tháng 9 năm 2013

    Đã nhận, đọc hai lần và đệ trình lên Ủy ban Đối ngoại Thượng Viện

    * * *

    DỰ LUẬT

    Nhằm thúc đẩy tự do và dân chủ tại Việt Nam

    Sẽ được Thượng viện và Hạ viện Hoa kỳ ban hành trong các phiên họp Quốc Hội kế tiếp.

    ĐIỀU 1: TIÊU ĐỀ NGẮN VÀ MỤC LỤC

    (a) Tiêu đề ngắn - Dự Luật này có thể gọi là Luật Nhân Quyền Việt Nam 2013

    (b) Mục Lục: Mục lục của Dự Luật này bao gồm:

    Điều 1: Tựa ngắn và mục lục.
    Điều 2: Kết quả và mục đích.
    Điều 3: Cấm gia tăng viện trợ những hoạt động ngoài mục đích nhân đạo cho Chính quyền Việt Nam.
    Điều 4: Chính sách ngoại giao vì lợi ích chung của Hoa Kỳ.
    Điều 5: Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
    Điều 6: Báo cáo thường niên

    ĐIỀU 2: KẾT QUẢ VÀ MỤC ĐÍCH

    (a) Kết quả - Quốc Hội nhận thấy:

    (1) Quan hệ giữa Hoa Kỳ và CHXHCN Việt Nam đã phát triển khả quan kể từ khi chấm dứt lệnh cấm vận vào năm 1994 với mậu dịch giữa hai nước đạt gần 25 tỉ mỹ kim trong năm 2012.

    (2) Chính quyền Việt nam trong quá trình mở rộng tự do kinh tế và mậu dịch lại không song song với việc thúc đẩy tự do trong chính trị cũng như đã không cải thiện các quyền công dân căn bản, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, lập hội và hội họp.

    (3) Quốc Hội Hoa Kỳ đã đồng ý cho Việt Nam trở thành thành viên chính thức của World Trade Organization (WTO) năm 2006 dựa trên những cam kết là Chính quyền Việt Nam đã và sẽ tiếp tục cải thiện nhân quyền.

    (4) Việt Nam vẫn còn là một quốc gia độc đảng, thống trị và kiểm soát bởi Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), và đảng này vẫn tiếp tục chối bỏ quyền thay đổi chính quyền của công dân.

    (5) Mặc dù những năm gần đây, Quốc Hội Việt Nam đã có một vai trò ngày càng tích cực, chủ động hơn với tư cách là một diễn đàn luôn chú trọng đến các mối quan tâm của địa phương, đẩy lùi tham nhũng cũng như những hoạt động không hiệu quả của nhà nước, tuy nhiên Quốc Hội vẫn chịu sự định hướng, chi phối của ĐCSVN, và ĐCSVN vẫn giữ vai trò kiểm soát trong việc đề cử các cuộc bầu cử trên toàn quốc cũng như địa phương.

    (6) Chính quyền Việt Nam nghiêm cấm đặt vấn đề công khai tính hợp pháp của quốc gia độc đảng, hạn chế tự do bày tỏ ý kiến, tự do báo chí, tự do hiệp hội và kiểm soát gắt gao việc sử dụng internet cũng như các phương tiện truyền thông.

    (7) Từ khi gia nhập World Trade Organization vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Chính quyền Việt Nam đã tùy tiện bắt giữ, giam cầm nhiều cá nhân vận động ôn hòa cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền, trong đó có Linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư nhân quyền Nguyển Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ và Lê Công Định, các blogger Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Lê Văn Sơn.

    (8) Chính quyền Việt Nam tiếp tục bắt giữ, bỏ tù, quản thúc tại gia, kết án hoặc hạn chế quyền công dân được bày tỏ bất đồng chính kiến hay tôn giáo một cách ôn hòa.

    (9) Chính quyền Việt Nam tiếp tục bắt giữ những lãnh đạo công đoàn và hạn chế quyền thành lập công đoàn độc lập.

    (10) Chính quyền Việt Nam tiếp tục hạn chế tự do tín ngưỡng, hạn chế sinh hoạt của những tổ chức tôn giáo độc lập, đàn áp giáo dân mà chính quyền cho là có thái độ chống đối.

    (11) Mặc dù vẫn có những báo cáo về sự tiến bộ trong việc mở thêm nhà thờ cũng như tổ chức công khai những nơi hoạt động tôn giáo, Chính quyền Việt Nam đã trì hoãn hầu hết các hoạt động tích cực kể từ khi Bộ Ngoại Giao Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “Những Quốc Gia Cần Quan Tâm Đặc Biệt” từ tháng 11 năm 2006.

    (12) Những nhà thờ Tin Lành không đăng ký của các sắc dân thiểu số, nhất là Người Thượng ở miền Trung và Tây Bắc Cao Nguyên phải cam chịu những ngược đãi, bạo quyền của chính quyền Việt Nam như bị ép buộc bỏ đạo, bắt bớ, sách nhiễu, cắt phúc lợi xã hội mà mọi người dân được hưởng, tịch thu và phá hủy tài sản, đánh đập thô bạo và giết chóc.

    (13) Đã và đang có xu hướng phản ứng bằng bạo lực từ phía Chính quyền đối với những buổi cầu nguyện và biểu tình ôn hòa của giáo dân Công Giáo, những mong đòi lại tài sản của giáo phận bị chính quyền tịch thu. Ngưòi biểu tình bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ và tài sản giáo hội bị phá hủy. Giáo dân Công Giáo còn phải tiếp tục đương đầu với việc cấm đoán lực chọn giáo sĩ, thành lập chủng viện và tuyển chọn chủng sinh, hạn chế quyền đi lại của cá nhân và đăng ký hoạt động tôn giáo.

    (14) Trong tháng 5 năm 2010, tại giáo phận Cồn Dầu thuộc Đà Nẵng phải đối diện với bạo lực càng ngày càng gia tăng trong một đám tang khi công an cố tình cản trở việc chôn cất theo đạo; đã có hơn 100 người bị thương, 62 người bị bắt, 5 người bị đả thương và ít nhất có 3 người chết.

    (15) Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất bị ngược đãi khi Chính Quyền Việt Nam tiếp tục hạn chế liên lạc và sự đi lại của các tăng thống giáo hội chỉ vì từ chối tham gia giáo hội do nhà nước bảo trợ. Chính quyền còn hạn chế tự do bày tỏ, hội họp và tiếp tục sách nhiễu, hăm dọa các tăng ni và các lãnh đạo của gia đình phật tử.

    (16) Chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp tín đồ của các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo vì không được nhà nước công nhận hay liên quan đến những tổ chức bị nhà nước cấm. Sự đàn áp bao gồm tạm giam, bỏ tù, hay bị chính quyền theo dõi gắt gao.

    (17) Nhiều người Thượng thiểu số và nhiều cá nhân khác vẫn bị giam cầm lâu dài bởi những bản án vì đã tham gia biểu tình ôn hòa trong những năm 2001, 2002, 2004, và 2008. Riêng người Thượng vẫn phải tiếp tục đương đầu với sự hăm dọa, giam gữ, tra tấn, và cả chết chóc bởi bàn tay của các viên chức chính quyền.

    (18) Người dân tộc HMông ở miền Bắc Việt Nam, Tây Bắc Cao Nguyên và Cao Nguyên trung phần Việt Nam cũng bị hạn chế tự do, tịch thu tài sản, ngược đãi, và bức hại bởi chính quyền Việt Nam.

    (19) Chính quyền Việt Nam kìm hãm người dân tộc Khơ Me Krom về các quyền như tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, tịch thu hầu hết các chùa phật giáo Khơ Me, khống chế tất cả các tổ chức Đạo Phật Khơ Me Kaon và ngăn cấm hầu hết các cuộc biểu tình chống đối ôn hòa.

    (20) Chính quyền Việt Nam kiểm soát hầu hết các hình thức báo in và báo điện tử, bao gồm cả việc sử dụng Internet, và thường xuyên gây nhiễu sóng tín hiệu của các đài phát thanh nước ngoài trong đó có đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia). Chính quyền đã bắt giữ và bỏ tù những cá nhân đăng tải, phát hành hay phổ biến các tài liệu liên quan đến dân chủ.

    (21) Ở Việt Nam những người bị bắt vì những hoạt động liên quan đến chính trị và tôn giáo thường bị kết án không theo trình tự pháp lý và họ không được hoàn toàn tự do tiếp xúc với luật sư theo sự chọn lựa của mình, họ có thể bị xử kín, bị giam giữ nhiều năm không qua xét xử, hoặc bị tra tấn ép nhận tội mà họ không gây ra, hoặc bị ép khai man, vu cáo, gán ghép tội đối với những người lãnh đạo của mình.

    (22) Việt Nam tiếp tục là quốc gia cung cấp cho công nghệ tình dục và bóc lột lao động khổ sai đối với phụ nữ và thiếu nữ, đồng thời, một số lớn thanh niên nam nữ bị lừa gạt, ký kết hợp đồng lao động quốc tế, để sau cùng xa quê hương, gặp phải cảnh khốn cùng, sống đời nô lệ hay phải cảnh lao động cưỡng bức. Việt Nam tiếp tục là điểm đến quốc tế của nạn buôn bán trẻ em và tiếp tục có tệ nạn mua bán trẻ em trong lãnh thổ của mình.

    (23) Có nhiều báo cáo cho thấy quan chức và nhân viên chính quyền Việt Nam tham gia vào, tạo điều kiện, dung túng, hay đồng lõa trong những trường hợp buôn người nghiêm trọng, phi nhân tính.

    (24) Những chương trình định cư người tị nạn của Hoa Kỳ bao gồm Chương trình Tái định cư Nhân đạo cho cựu tù nhân chính trị (Humanitarian Resettlement Program), Chương trình Ra đi có Trật tự (Orderly Departure Program), Chương trình Tái lập cơ hội cho các thuyền nhân trở về (Resettlement Opportunities for Vietnamese Returnees Program), chương trình tái định cư đại trà cho thuyền nhân tại các trại tị nạn Đông nam Á, Đạo luật hồi hương Mỹ lai năm 1988 (Amerasian Home Coming Act of 1988), và Chương Trình cho những cá nhân cần bảo vệ đặc biệt (Priority One Refugee Resettlement) đã giúp giải thoát rất nhiều người gốc Việt đã từng bị bạc đãi vì từng hợp tác với Hoa Kỳ, và trong nhiều trường hợp sự liên quan đó là do qua người phối ngẫu, cha mẹ, hoặc những ngưới thân khác trong gia đình. Ngoài ra còn có những người bị bức hại do sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch, xu hướng chính trị, hoặc là hội viên của những đoàn thể xã hội đặc biệt.

    (25) Trong khi những chương trình kể trên thực hiện tốt vai trò của chúng, một số đáng kể người di dân gốc Việt trong đó có trẻ lai hội đủ điều kiện lại bị từ chối một cách bất công hoặc bị loại bỏ, một số trường hợp bị từ chối do hận thù hoặc vì tệ tham nhũng của các quan chức, viên chức chính quyền Việt Nam, hay có những trường hợp do nhân sự Hoa Kỳ áp đặt những tiêu chuẩn cứng nhắc vào các tiêu chí phỏng vấn. Ngoài ra chính quyền Việt Nam còn từ chối cấp hộ chiếu cho các cá nhân mà Hoa Kỳ đã nhìn nhận là hội đủ điều kiện nhập cư.

    (26) Có báo cáo là Chính quyền Việt Nam đang giam giữ hàng chục ngàn người trong số đó có cả trẻ em trên dưới 12 tuổi bị bắt giam và cải tạo tại những trại cai nghiện và đối xử với họ như những nô lệ lao động.

    (27) Năm 2012, trên 150.000 người ký một kiến nghị trực tuyến kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ không nên mở rộng giao thương với cộng sản Việt Nam vì lý do nhân quyền.

    (28) Quốc Hội đã thông qua rất nhiều nghị quyết phản đối lạm dụng nhân quyền tại Việt Nam. Việc này cho thấy mặc dù quan hệ có nới rộng với chính quyền Việt Nam, nhưng không đồng nghĩa với việc chấp nhận những vi phạm nghiêm trọng về quyền căn bản của con người tại Việt Nam.

    (b) Mục Đích: Mục đích của Đạo Luật này nhằm thúc đẩy sự phát triển tự do và dân chủ tại Việt Nam

    ĐIỀU 3: CẤM GIA TĂNG VIỆN TRỢ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NGOÀI MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO CHO CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM

    (a) Viện Trợ

    (1) TỔNG QUÁT: Ngoại trừ những trường hợp nêu ở tiểu mục (b), Chính Quyền Liên Bang có thể không viện trợ ngoài mục đích nhân đạo cho Chính quyền Việt Nam trong bất kỳ năm tài khóa nào với số tiền vượt mức viện trợ cho những chương trình trong năm tài khóa 2012 ngoại trừ:

    A. Đối với giới hạn cho năm tài chính 2014, Tổng Thống phải quyết định và xác nhận với Quốc Hội trong thời gian không quá 30 ngày sau khi Đạo Luật này được ban hành rằng những yêu cầu từ tiêu đề A đến G của khoản (2) sau đây được đáp ứng trong khoảng thời gian 12 tháng sau ngày xác nhận; và

    B. Đối với giới hạn cho những năm tài chính tiếp theo, Tổng Thống phải quyết định và xác nhận với Quốc Hội theo báo cáo thường niên mới nhất đệ trình theo Phần 6 rằng những yêu cầu từ tiêu đề A đến G của khoản (2) sau đây được đáp ứng trong thời gian 12 tháng theo báo cáo.

    (2) Yêu Cầu: Các yêu cầu trong khoản (2) bao gồm:

    A. Chính quyền Việt Nam phải có những tiến bộ đáng kể trong việc phóng thích tất cả tù nhân chính trị và tôn giáo từ các trại tù, trại tạm giam hay quản thúc tại gia.

    B. Chính quyền Việt Nam phải có những tiến bộ đáng kể trong việc:

    (i) Tôn trọng quyền được tự do tín ngưỡng bao gồm quyền tham gia các hoạt động và tổ chức tôn giáo mà không bị can thiệp, sách nhiễu, hay có sự tham gia của chính quyền cho mọi tôn giáo; và

    (ii) Trả lại các tài sản tịch thu từ các giáo hội và cộng đồng tôn giáo.

    C. Chính quyền Việt Nam phải có những tiến bộ đáng kể trong việc tôn trọng quyền tự do ngôn luận, hội họp và bao gồm trả tự do cho nhà báo, bloggers, nhà dân chủ và những nhà hoạt động công đoàn độc lập.

    D. Chính quyền Việt Nam phải có những tiến bộ đáng kể trong thu hồi hay sửa đổi những điều luật kết tội bất đồng chính kiến ôn hòa, truyền thông độc lập, những hoạt động tôn giáo hợp pháp, các cuộc biểu tình hay tụ họp bất bạo động theo tiêu chuẩn và công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    E. Chính quyền Việt Nam phải có những tiến bộ đáng kể trong việc chấp nhận cho công dân Việt Nam quyền tự do và thông thoáng làm việc với cơ quan di trú Hoa Kỳ.

    F. Chính quyền Việt Nam phải có những tiến bộ đáng kể trong việc tôn trọng nhân quyền của công dân các sắc tộc thiểu số.

    G. Không một viên chức nào của Chính quyền Việt Nam hay bất cứ cơ quan tổ chức do Chính quyền làm chủ toàn phần hay bán phần được âm mưu, đồng lõa trong việc buôn người nghiêm trọng, hoặc Chính quyền Việt Nam phải áp dụng mọi biện pháp thích đáng nhằm chấm dứt nạn buôn người; bắt giữ các viên chức, cơ quan hay tổ chức và trừng phạt tương ứng với tội ác mà họ đã vi phạm.

    (b) Ngoại Lệ:

    (1) TIẾP TỤC VIỆN TRỢ VÌ QUYỀN LỢI QUỐC GIA – Không tùy thuộc vào việc Chính quyền Việt Nam đáp ứng những yêu cầu nêu trong tiểu mục (a)(2) ở trên, Tổng Thống có thể bãi bỏ việc áp dụng tiểu mục (a) cho bất kỳ năm tài khóa nào nếu Tổng Thống nhận thấy rằng việc tăng viện trợ ngoài mục đích nhân đạo sẽ thúc đẩy mục đích của đạo luật này hoặc phải nằm trong phạm vi quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ.

    (2) QUYỀN MIỄN CHẤP HÀNH- Tổng Thống có thể thực thi quyền theo khoản (1) đối với:

    A. Tất cả viện trợ ngoài mục đích nhân đạo cho Việt Nam; hoặc

    B. Một hay nhiều chương trình, dự án hoặc hoạt động của chương trình viện trợ đó.

    (c) Định Nghĩa:

    (1) VIỆN TRỢ NGOÀI MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO: Thuật ngữ "Viện Trợ Ngoài Mục Đích Nhân Đạo" có nghĩa là:

    A. bất kỳ khoản viện trợ nào theo Đạo Luật Viện Trợ Nước Ngoài năm 1961 (bao gồm các chương trình trong Tiêu đề IV, Chương 2, Phần 1 của Đạo Luật trên, liên quan đến Hiệp hội Đầu tư nhân ở nước ngoài), ngoại trừ:

    (i) viện trợ khắc phục thiên tai;

    (ii) trợ cấp thực phẩm hay thuốc men;

    (iii) viện trợ khắc phục môi trường bị nhiễm chất độc màu da cam và những hoạt động y tế liên quan;

    (iv) giúp tháo gỡ mìn và các hoạt động y tế liên quan và hoạt động giáo dục;

    (v) giúp chống buôn người nghiêm trọng;

    (vi) giúp chống đại dịch;

    (vii) giúp ngưới tị nạn; và

    (viii) giúp phòng chống HIV/AIDS, bao gồm bất kỳ khoản viện trợ nào theo điều khoản 104A của Đạo Luật trên; và

    B. Mua bán, tài trợ theo bất kỳ điều khoản nào trong Đạo Luật Bán Vũ khí

    (2) BUÔN NGƯỜI NGHIÊM TRỌNG - Thuật ngữ "buôn người nghiên trọng" nghĩa là bất kỳ hoạt động nào được mô tả trong khoản mục 103(8) trong Đạo Luật Bảo Vệ Nạn Nhân Của Tệ Buôn Người năm 2000.

    (d) Ngày hiệu lực: Chương này có hiệu lực kể từ ngày ban hành Đạo Luật và được áp dụng đối với hoạt động trợ cấp Ngoài Mục Đích Nhân Đạo cho Chính quyền Việt Nam đối với năm tài khoá 2014 và những năm tài khóa tiếp theo.

    ĐIỀU 4: CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VÌ LỢI ÍCH CHUNG CỦA HOA KỲ

    (a) Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia) Phát Sóng Về Việt Nam- Quốc Hội nhận thấy Hoa Kỳ nên có những biện pháp chống nhiễu sóng cho Đài Á Châu Tự Do do Chính quyền Việt Nam gây ra. Và Ban Trị Sự của Hệ Thống truyền thông không nên cắt giảm nhân sự, tài chánh, hoặc giờ phát sóng cho chương trình Việt Ngữ của Đài Tiếng Nói Hoa Ky (Voice of America) và Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia) đồng hành với việc không cắt giảm chương trình của những ngôn ngữ khác.

    (b) Những Chương Trình Trao Đổi Giáo Dục và Văn Hóa Với Việt Nam- Quốc Hội nhận thấy mọi chương trình trao đổi Giáo Dục và Văn Hóa giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nên hướng tới việc thúc đẩy tự do và dân chủ tại Việt Nam bằng cách tạo cơ hội cho công dân Việt Nam từ nhiều ngành nghề, góc độ có thể thấy được cách hoạt động của tự do và dân chủ; và bảo đảm rằng những cá nhân có biểu hiện mong muốn tự do dân chủ được tham gia những chương trình này.

    (c) Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc - Quốc Hội nhận thấy Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nên mạnh dạn phản đối, và khuyến khích các thành viên khác trong Liên Hiệp Quốc phản đối vị thế ứng cử của Việt Nam vào Ủy ban Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ bắt đầu năm 2014.

    ĐIỀU 5: TỰ DO TÔN GIÁO VÀ TỆ NẠN BUÔN NGƯỜI

    (a) Quốc Gia Cần Quan Tâm Đặc Biệt - Quốc Hội nhận thấy Việt Nam nên bị đưa trở lại danh sách Những Quốc Gia Cần Quan Tâm Đặc Biệt vì vi phạm Tự Do Tôn Giáo chiếu theo điều 402(b) của Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Thế Giới ban hành năm 1998.

    (b) Tiêu Chuẩn Tối Thiểu để Triệt Tiêu Tệ Nạn Buôn Người - Quốc Hội Nhận thấy Chính quyền Việt Nam không thực hiện được những tiêu chuẩn tối thiểu để triệt tiêu tệ nạn buôn người và không tạo được những bước tiến đáng kể để thực hiện. Việc xác định này phải được phản ảnh trong báo cáo thường niên cho Quốc Hội chiếu theo chương 110(b) trong Đạo Luật Bảo Vệ Nạn Nhân Tệ Buôn Người ban hành năm 2000.

    ĐIỀU 6: BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN

    (a) Tổng Quát - Trong thời gian không quá 6 tháng kể từ ngày Đạo Luật này được ban hành và mỗi chu kỳ 12 tháng tiếp theo, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao phải nộp báo cáo cho Quốc Hội về những điểm sau đây:

    (1) Quyết định và xác nhận của Tổng Thống cho các tiêu điểm từ A đến G trong tiểu mục 3(a)(2) được đáp ứng nếu có;

    (2) Nếu Tổng Thống loại bỏ việc áp dụng mục 3(a) chiếu theo mục 3(b) trong khoảng thời gian cần báo cáo phải dựa trên những cơ sở sau:

    (A) Sự loại bỏ phải xuất phát từ quyền lợi quốc gia;

    (B) Những khoản viện trợ ngoài mục đích nhân đạo được gia tăng cho Chính quyền Việt nam;

    (C) mô tả về các hình thức cũng như số tiền của từng khoản viện trợ chiếu theo mục 3(b)(1)

    (3) Những cố gắng của Chính quyền Hoa Kỳ trong việc nâng cao sự tiếp cận của công dân Việt Nam với Đài Á Châu Tự Do.

    (4) Những cố gắng để đảm bảo rằng những chương trình với Việt Nam quy định tại mục 102 của Luật Nhân Quyền, Luật Người Tị Nạn, và Luật Viện Trợ Nước Ngoài năm 1996 đối với việc tham gia vào các chương trình giao thoa văn hóa và giáo dục.

    (5) Danh sách của những người được cho là bị cầm tù, tạm giam, hay bị quản thúc tại gia, tra tấn, hoặc bị ngược đãi bởi Chính quyền Việt Nam chỉ vì họ đấu tranh bảo vệ nhân quyền đã được quốc tế công nhận. Trong khi thiết lập danh sách này, Bộ Trưởng có trách nhiệm thực thi những trách nhiệm thích đáng bao gồm việc quan tâm đến sự an toàn, quyền lợi, lợi ích của những người có tên trong danh sách này cũng như thân nhân của họ. Ngoài ra Bộ Trưởng cần lên danh sách những cá nhân và thân quyến của họ trong trường hợp cần được bảo vệ qua chương trình tị nạn.

    (6) Mô tả sự phát triển của luật pháp Việt Nam, gồm:

    (A) Tiến trình hướng tới phát huy mới trong tổ chức cầm quyền theo định hướng dân chủ.

    (B) Tiến trình những quy chế, quy định, quy tắc và các đạo luật do Chính quyền Việt Nam biên soạn và ban hành trong nước.

    (C) Phạm vi các đạo luật, quy định, luật lệ, quyết định hành chính và pháp lý, hoặc những việc làm liên quan đến tư pháp mà chính quyền ban hành được phổ biến tới quần chúng.

    (D) Phạm vi quyết định hành chánh và tư pháp căn cứ qua các công văn dựa trên quy điều, quy định, luật lệ, và các căn cứ khác của Chính quyền Việt Nam.

    (E) Phạm vi mỗi người dân được đối xử bình đẳng trước luật pháp bất kể quốc tịch, sắc tộc, quan điểm chính trị, hoặc các hiệp hội hiện tại hay trước đây.

    (F) Phạm vi quyết định hành chính và tư pháp độc lập với áp lực chính trị hay sự can thiệp của chính quyền, và được xét duyệt bởi các cơ quan có thẩm quyền phúc thẩm, và

    (G) Phạm vi luật pháp Việt Nam được biên soạn và thực hành theo định hướng tiêu chuẩn quyền con người được quốc tế công nhận, trong đó có cả những quyền trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân Sự và Qưyền Chính Trị

    (b) Liên Hệ Với Các Tổ Chức Khác - Trong quá trình soạn thảo báo cáo nêu trong tiểu mục (a), Bộ Trường, tùy theo thủ tục, sẽ tìm kiếm và duy trì liên lạc với các tổ chức phi Chính phủ, các nhà hoạt động nhân quyền (bao gồm người Mỹ gốc Việt và người những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam), nhận báo cáo và cập nhật từ những cá nhân và tổ chức này và đánh giá những báo cáo đó. Bộ Trưởng cũng sẽ tìm cách tham khảo ý kiến với Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ cho những chương liên quan trong bản báo cáo.

    Thông qua Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 1 tháng 8 năm 2013

    Chứng thực:

    KAREN L. HAAS,
    Thư Ký

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi