Nhật Lệ - Người cày có ruộng và được mùa... rớt giá

  • Bởi Mắt Bão
    04/09/2013
    0 phản hồi

    Nhật Lệ


    Cách đây 68 năm, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên dưới năm ngàn đảng viên cộng sản và hàng triệu người dân đất Việt đã nhất tề đứng lên làm cuộc Cách mạng tháng 8 lịch sử. Không ai có thể phủ nhận tầm vóc và mức độ ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi thế giới của Cách mạng tháng 8. Không ai có thể phủ nhận tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người Cộng sản lúc ấy, đã biết tạo ra thời cơ, nắm chắc thời cơ, phát lệnh tổng khởi nghĩa dành chính quyền đúng lúc.

    Và, không ai có thể phủ nhận sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam, đã vùng dậy cuốn bay hệ thống chính quyền thực dân, vốn đã chà đạp nhân phẩm và lương tri, vốn đã đẩy cuộc sống nhân dân đến chỗ khốn cùng mà đỉnh cao là hàng triệu người chết đói năm 1945. Đương nhiên, không ai phủ nhận được sự hy sinh xương máu lớn lao của những người đã làm nên Cách mạnh tháng 8. Đó là trận cuồng phong không gì chống nổi, là tức nước vỡ bờ, đập tan mọi xiềng xích và áp chế, giũ bỏ mọi bất công và ngang trái cản trở sự phát triển bình thường của một dân tộc theo xu thế thời đại.

    Dù còn người này người khác nhưng cần nhấn mạnh, chủ thể của cuộc Cách mạng tháng 8 là toàn thể dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái…trong đó nòng cốt là nông dân vốn chiếm hơn 80% dân số. Cách mạng tháng 8 thành công gắn liền với sự ra đời của nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Và, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nhà nước này là bảo đảm NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG. Có thể nói, người nông dân tham gia cách mạng không biết nhiều về học thuyết Mác Lê nin. Thậm chí, họ chẳng cần biết. Họ đứng lên, đi theo cách mạng với niềm tin son sắt là nhà nước Công Nông do Đảng lãnh đạo sẽ bảo đảm cho họ người cày có ruộng, tiền đề của no ấm, hạnh phúc và còn giúp họ thực hiện được nhiều giấc mơ cao đẹp khác.

    68 năm đã trôi qua (Thường thì người đời chỉ cần ngũ thập đã tri thiên mệnh được), nông dân vẫn một lòng một dạ theo Đảng. Mấy mươi năm đất nước binh đao, sự hy sinh vô bờ bến của dân tộc phần nhiều nông dân chịu. Trong hoà bình, trong xây dựng kinh tế, thử hỏi đất nước về đâu nếu không có nông dân. Khi lạm phát phi mã, chính nông dân và sản phẩm của nông dân là cứu cánh, là bệ đỡ để các nhà hoạch định chính sách trổ tài lèo lái nền kinh tế. Dù các chính sách kinh tế thường là thay đổi năm một, khi thì thắt chặt, khi thì nới lỏng nhưng có điểm chung là nông dân chịu thiệt nhiều nhất. Vài ba năm lại có một cơn lốc khi thì chứng khoán, khi thì bất động sản... Lạ thay, nông dân thường không đính đến những thứ này thế nhưng cũng không tránh được sự vùi dập của nó.

    Công bằng mà nói, 68 năm thuỷ chung theo Đảng, cuộc sống của người nông dân Việt Nam đã được cải thiện nhiều. Xét tổng thể, cái ăn, cái mặc đã đủ đầy hơn; phương tiện sinh hoạt, đi lại; tư liệu sản xuất đã được cải biến nhiều; chăm sóc sức khoẻ, y tế giáo dục…ngày càng tiến bộ. Nhưng sẽ công bằng hơn khi nói, trong mọi biến chuyển kinh tế, chính trị, xã hội 68 năm sau cách mạng tháng 8, nếu ta xét theo phương pháp so sánh chuyển động tương đối (cũng mới chỉ dám so sánh trong đất nước này thôi, hoàn toàn chưa dám so sánh với nước khác, khu vực khác) thì thấy rõ một nghịch lý là chuyển động của nông dân về hướng phồn vinh, hạnh phúc là chậm nhất. Nghịch lý ở chỗ nông dân là giai tầng cống hiến và hy sinh nhiều nhất nhưng lại được thụ hưởng ít nhất thành quả do phát triển mang lại. Điều nguy hiểm đã đến lúc cảnh báo là khoảng cách giữa nông dân và các giai tầng khác không những chậm được thu hẹp mà có biểu hiện gia tăng nhanh chóng. Vì sao lại như vậy khi Đảng hết sức quan tâm, chăm lo đầu tư, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân? Hàng loạt các nghị quyết trong mấy chục năm qua đã được Đảng dày công xây dựng và lãnh đạo thực hiện những mong Tam Nông phát triển đúng với vị thế của nó trong tổng thể đường lối phát triển đất nước. Tất cả các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đều được viết rất hay với nhiều ngôn từ sang trọng. Các chính sách, cơ chế quản lý nhằm cụ thể hoá đường lối của Đảng lại cũng được thiết kế hoàn hảo theo đúng đường lối được Đảng đề ra. Chỉ có điều các nghị quyết, chính sách và cơ chế quản lý khi đi vào cuộc sống đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Cụ thể, có loại thì phát huy tác dụng và mang lại hiệu quả ngay nhưng một thời gian sau thì mất hết công năng vì tự nó đã mất động lực phát triển; có loại thì không đi vào cuộc sống được vì không phù hợp thực tiễn và có loại lại phản tác dụng, vừa lãng phí công của của xã hội, vừa gây ách tắc trong SXKD vì nó không phù hợp với sự vận động khách quan của quá trình sản xuất nông nghiệp (Sản xuất – trao đổi – phân phối – tiêu dùng). Thế thì, đã đến lúc cần truy đến nguồn gốc, nền tảng mà dựa trên đó các nghị quyết, chính sách quản lý Tam Nông được ban hành. Âu cũng là phương pháp tiếp cận khoa học và cần thiết.

    Câu chuyện nổi bật, minh chứng một cách rõ ràng những thất bại, yếu kém trong quản lý nông nghiệp, nông thôn và nông dân là ĐƯỢC MÙA RỚT GIÁ. Không phải chỉ đối với một, một số mà tất cả các sản phẩm nông nghiệp đều như thế; không phải chỉ trên phạm vi vùng miền mà là cả nước; không phải hiện tượng đơn lẻ mà hễ cứ được mùa là biết chắc rớt giá. Hãy hình dung, người nông dân chân lấm tay bùn; quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, suốt ngày đối mặt với giá phân bón, giá thuốc trừ sâu… tăng vô tội vạ, không thể kiểm soát và vượt xa mọi toan tính của họ (chưa kể là phải chống chọi với bão giá để lo toan cuộc sống thường ngày cho gia đình). Nhờ năm mưa thuận gió hoà, hạt lúa, củ khoai cho năng suất khá và đến lượt họ lại vật lộn với những thách thức khác. Đó có thể là sản phẩm ngoại lấn át sản phẩm nội thậm chí làm giả sản phẩm nội, khiển cho nông sản của mình điêu đứng, không có lối ra; đó có thể là nông dân không am tường dự báo, hoặc dự báo sai, hoặc trình độ thấp nên hiểu sai dự báo nên sản xuất thừa nông sản, hoặc sản xuất các loại nông sản có giá trị thấp; đó cũng có thể là nông dân thì chân thật, không đủ trí trá và giảo hoạt để đối phó với đội ngũ thương lái mà đằng sau là trùng trùng, điệp điệp nhóm lợi ích. Các lái buôn hoạt động chỉ vì lợi nhuận, tha hồ ép giá nông dân. Cả đống lúa như vậy không bán cho họ thì có mà …cho vịt ăn hoặc đổ đi. Nhà xưởng thì không có, hợp tác xã thì hoạt động rất không hiệu quả, sản xuất thì manh mún, chẳng ra tự cung, tự cấp cũng chẳng ra sản xuất hàng hoá…Thế là, người nông dân, đứng trên mảnh ruộng của mình, ngậm đắng nuốt cay chấp nhận bán lúa như cho để rồi nhẩm tính lại mới hay, mỗi ngày công bình quân chỉ mang về thu nhập vẻn vẹn 1500 – 2000 đồng, vừa vặn để trả cho 1 số điện hay 1 điếu thuốc lá hạng thường!.

    Để hỗ trợ nông dân, Chính phủ đã có chính sách là phải làm sao để người nông dân có lãi khoảng 30%. Nên nhớ, mức lợi nhuận trên dưới 30% là rất có ý nghĩa, kể cả đối với các nhà tư bản vì lúc này họ đã hăng máu lên (theo học thuyết Mác Lê nin). Vậy nhưng, quy định thì đã lâu nhưng người dân thì…không muốn nói đến quy định này nữa. Vì Chính phủ nói phải làm sao thì không biết phải làm răng (sẽ phân tích sau), còn đo đếm 30 % theo cách của Chính phủ thì đúng là đánh đố nông dân. Khi các cơ quan tham mưu cho Chính phủ dự tính giá thành 1 kg thóc, gồm phân bón là từng này, thuốc trừ sâu là từng kia…thì nông dân không thể mua được ở mức giá đó. Đơn giản là vì Chính phủ chưa thật sự hiểu nông dân. Khi thuốc trừ sâu và phân bón được bán ở đâu đó với mức giá mà Chính phủ tính toán thì tại địa phương người ta đã bán cao hơn nhiều; và kể cả khi bán đúng mức giá đó đi nữa thì không phải người nông dân nào cũng có tiền mua với mức giá thuận lợi nhất cho họ. Nông dân thường phải mua phân bón, thuốc trừ sâu…trước hoặc mua sau thời điểm được cho là có mức giá tốt nhất. Nông dân không sẵn tiền mặt, phải đi vay ngân hàng, phải cầm cố tài sản thậm chí phải bán lúa non mới có tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu…Vậy là 30 % lợi nhuận nghe rất hấp dẫn nhung nông dân thì chẳng thấy đâu.

    Mỗi khi nông dân được mùa thì mặc dù nắm trong tay hệ thống chính quyền từ trên xuống dưới cùng với dày đặc các ban ngành, các viện nghiên cứu nhưng phải đến gần khi thu hoạch Chính phủ mới biết. Biện pháp thường thấy là ứng tiền trước, không tính lãi cho các đơn vị kinh doanh, xuất khẩu lương thực mua tạm trữ vài trăm đến vài triệu tấn. Có thể coi đây là biện pháp dễ nhất trong tất cả các biện pháp. Đáng tiếc, Chính phủ thường đi chậm một bước so với đội ngũ thương lái. Bởi khi Chính phủ quyết định mua lúa tạm trữ (với mong muốn tăng cầu để cân bằng với cung tăng, nhằm trợ giá cho nông dân) cũng là lúc hầu hết nông dân không còn lúa để bán. Mặc dù họ biết thể nào cũng có chính sách mua tạm trữ nhưng với bản tính an phận, lại gặp thương lái vốn hiểu rõ hoàn cảnh của từng gia đình đã nhanh chân với vô số ràng buộc không tên vừa thương lượng, thuyết phục vừa ép giá và mua hết sản lượng của nông dân ngay cả trước khi thu hoạch. Vậy thì mua tạm trữ là mua của ai ? Xin thưa, các công ty kinh doanh, xuất khẩu lương thực được ứng tiền ngân sách không chịu lãi suất (tức là tiền của dân) mua lại của chính các thương lái. Vậy là, mặc dù bỏ ra nguồn lực rất lớn cốt để nông dân được hưởng nhưng thực tế phần lớn trong số đó không đến tay nông dân mà lại vào túi các thương lái và sau các thương lái là các công ty kinh doanh, xuất khẩu lương thực. Điều kỳ lạ là một chính sách không hiệu quả nếu không muốn nói là đã bị các nhóm lợi ích (thương lái, các công ty kinh doanh, xuất khẩu lương thực) thao túng này cứ lặp đi, lặp lại mãi chưa biết bao giờ mới xoá bỏ.

    Trước Đổi mới, Đảng đã nhận ra nhiều sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước, đã duy ý chí trong thời gian dài; không nhận thức và vận dụng đúng các quy luật kinh tế; không đáp ứng các đòi hỏi khách quan của quy luật giá trị…Và nay, sau hơn ¼ thế kỷ đổi mới chúng ta có vẻ như đã hiểu thế nào là quy luật giá trị nhưng nói thật, vẫn không đáp ứng các đòi hỏi khách quan của nó. Chúng ta vẫn thích dùng mệnh lệnh hành chính can thiệp thị trường. Vẫn biết thị trường của chúng ta là thị trường định hướng XHCN, nhưng làm sao để bàn tay vô hình kết hợp nhịp nhàng với bàn tay có hình hoàn toàn là điều không đơn giản, đòi hỏi sự nhận thức cao siêu về kinh tế thị trường, đòi hỏi sự trải nghiệm, thậm chí cả sự trả giá của chính đội ngũ vận hành. Đặc biệt là phải có sự công khai, minh bạch và cơ chế phản biện hiệu quả ngay từ khâu hoạch định chính sách nhằm giảm thiểu sự thao túng của các nhóm lợi ích cũng như bảo đảm tính thực tiễn, tính khả thi của chính sách. Người nông dân sản xuất mớ rau, bán được 3 ngàn, nhưng chỉ sau đó 1 – 2 tiếng đồng hồ, qua vài khâu trung gian, khi đến tay người tiêu dùng (cũng ở loanh quanh đấy), mớ rau đã được bán tới 9 ngàn đồng, tăng 200% so với mức giá của nông dân. Rõ ràng đã có sự không ngang giá trong khâu lưu thông. Hay nói cách khác là không tuân thủ quy luật giá trị. Lẽ ra chúng ta phải tác động vào khâu lưu thông (tất nhiên là không phải bằng biện pháp cấm đoán, ngăn sông, cấm chợ…) bằng cách lập các DN công ích nhằm bảo đảm về cơ bản hàng hoá được trao đổi ngang giá. Nhưng chúng ta đã không làm, mặc kệ thị trường. Nên nhớ, trong bất kỳ nền kinh tế thị trường nào thì bổn phận của Nhà nước là phải thực hiện những nhiệm vụ không DN nào muốn làm hoặc những nhiệm vụ mà nếu nhiều DN cùng làm thì sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả chung của nền kinh tế (Những ngành nghề có tính độc quyền tự nhiên). Và cũng nên nhớ thêm, trên thế giới này, không đất nước nào có thể phát triển để nhân dân ấm no, hạnh phúc mà không tuân thủ nghiêm ngặt những đòi hỏi khách quan của quy luật giá trị.

    Một vấn đề khác liên quan đến được mùa rớt giá đó chính là cách thức tổ chức sản xuất nông nghiệp manh mún, lạc hậu ở Việt Nam. Hãy nhìn sang Thái lan để biết, so sánh và rút ra các bài học cho mình. Trong khi chúng ta cứ mãi tranh luận, rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân hay tập thể hay thuộc sở hữu tư nhân; và trong khi chúng ta còn tranh cãi về quyền sử dụng và quyền sở hữu trong chuyển nhượng đất đai thì ngoài kia, cuộc sống đã phả vào gáy nhiều câu chuyện nóng hổi không thể giải quyết được. Đó là đòi hỏi của quá trình tích tụ ruộng đất, tiến lên làm ăn lớn. Hiện, một vài địa phương đã thực hiện dồn điển đổi thửa, đã có thành công bước đầu để hình thành những cánh đồng mẫu lớn. Nhưng xin đừng coi các địa phương đó như những điển hình trong tích tụ ruộng đất. Bởi vì chừng nào không dứt khoán vấn đề sở hữu thì dồn điền đổi thửa nói trên vẫn chỉ là cách làm cảm tính, và tất yếu sẽ đến một ngày trao đổi không ngang giá. Rồi tranh chấp đất đai và những hệ luỵ trong thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng, rồi việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất…Toàn những thách thức nghiêm trọng mà nếu không tháo gỡ kịp thời thì hệ quả sẽ rất khủng khiếp.

    68 năm đã trôi qua từ cuộc cách mạng mùa thu lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người Cộng sản và nhân dân Việt Nam trong đó rất nhiều người là nông dân, chủ thể của cuộc Cách mạng hẳn không thể ngờ mục tiêu người cày có ruộng vẫn còn nhiều bất cập; càng không thể ngờ thân phận người nông dân vẫn khó khăn và thiệt thòi đến vậy. Dù họ vẫn thuỷ chung, một lòng, một dạ theo Đảng nhưng chẵng lẽ mãi thế này sao ? Chẵng lẽ cuộc Cách mạng long trời lở đất ngày nào lại lỗi hẹn trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; bảo đảm tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái cho nông dân sao ? Trong khi chính nông dân là lực lượng nòng cốt đóng góp quyết định vào thành quả đất nước suốt 68 năm qua. Nông dân vẫn có thể chờ. Nhưng nếu phải chờ đến …kiếp sau thì buồn và xa xót quá.

    Nhật Lệ
    Tác giả gửi Quê Choa
    Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi