Nguyễn Hưng Quốc - Bệnh vô cảm và bệnh sợ hãi

  • Bởi Diên Vỹ
    28/08/2013
    8 phản hồi

    Trong bài phỏng vấn do Trà Mi thực hiện, Nguyễn Phương Uyên, cô gái 21 tuổi được nhiều người xem như một “biểu tượng” của lòng can đảm và của tuổi trẻ, nêu lên một ý nguyện, đồng thời cũng là một tham vọng của em: “Tôi không muốn mắc phải căn bệnh rất khó trị ở các thanh niên cùng tuổi tôi. Tôi muốn làm một bài thuốc để thanh niên Việt Nam nhìn thấy mà làm hết mình, ‘cháy’ hết mình, không còn bị vô cảm và sợ hãi vốn đã bị tiêm nhiễm ngay từ bé.”

    Tôi không biết hiệu quả của “bài thuốc” ấy thế nào. Nhưng tôi nghĩ Phương Uyên đã bắt đúng căn bệnh kép không phải chỉ của giới trẻ mà còn của người Việt Nam nói chung lâu nay: bệnh vô cảm và bệnh sợ hãi.

    Bệnh sợ hãi, thật ra, là một bệnh lâu đời. Chế độ phong kiến, ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng xây dựng quyền lực trên hai nền tảng chính: sự sùng bái và sự sợ hãi. Sự sùng bái được xây dựng trên hai nền tảng chính: tư tưởng thần quyền (nòng cốt là tư tưởng thiên mệnh) và các nghi lễ đầy tính đẳng cấp trong xã hội. Sự sợ hãi được tạo thành và được duy trì chủ yếu bằng một biện pháp chính: khủng bố. Trong các tội trạng, tội nặng nhất là tội phản nghịch. Hình phạt dành cho tội này thường là tử hình, có khi không phải tử hình một cá nhân mà còn tử hình nguyên cả một dòng họ (tru di tam tộc). Tử hình không phải chỉ nhắm đến việc giết chết tội nhân. Mà còn nhắm đến việc giết chết mọi ý đồ phản nghịch của những người còn sống bằng cách khiến họ phải sợ hãi. Do đó, người ta bày ra đủ thứ kiểu giết người, từ kiểu chặt đầu, treo cổ đến kiểu cho voi giày, ngựa xé, ném vào vạc dầu sôi, tùng xẻo, v.v.. Bởi vậy, chuyện ngày xưa dân chúng thường xuyên sống trong sợ hãi là điều dễ hiểu.

    Sau này, chế độ cộng sản tiếp tục duy trì sự sợ hãi ấy bằng các trại cải tạo và nhà tù, hơn nữa, bằng chế độ lý lịch: Con cháu những người bị xem là phản động trở thành một thứ con ghẻ, thường xuyên bị nghi kị và kỳ thị, có thời gian, lại là thời gian khá dài, còn không được nhận vào đại học. Bây giờ, do sự phát triển của kinh tế thị trường, chế độ lý lịch ấy đã giảm đi nhiều. Tuy nhiên, hệ thống nhà tù thì vẫn dày đặc. Mà không cần nhà tù, chỉ cần sự hiện diện của công an, mọi người đã khiếp sợ.

    Tất cả những sự khủng bố và đe dọa ấy khiến mọi người nếu không run sợ thì ít nhất cũng thu mình lại, né tránh mọi đụng chạm đến công an hoặc rộng hơn, đến chính trị, từ đó, làm nảy sinh ra một thứ bệnh khác: bệnh vô cảm.

    Nếu sợ hãi là một căn bệnh lâu đời, vô cảm lại là một căn bệnh rất mới. Trước, hầu như không ai nói người Việt vô cảm bao giờ. Thậm chí, ngược lại, hầu như ai cũng cho người Việt sống bằng tình cảm nhiều hơn lý trí. Với tư cách cá nhân, người ta quan tâm đến nhau; láng giềng quan tâm đến nhau; cả làng quan tâm đến nhau. Chuyện một người biến thành chuyện của cả tập thể. Sự quan tâm lớn đến độ lấn át cả sự riêng tư của từng cá nhân một.

    Vậy mà, những năm gần đây, hầu như bất cứ người nào để ý đến xã hội Việt Nam một chút, cũng đều nhận thấy ngay một hiện tượng: người ta đối xử với nhau thật vô cảm.

    Ngoài đường, nhìn người khác bị cướp giật, hầu như mọi người đều dửng dưng; thấy có ai đó bị tai nạn nằm giãy đành đạch, phần lớn vẫn đứng trố mắt nhìn. Trồng trọt hay buôn bán thực phẩm, biết việc sử dụng nhiều hóa chất có thể gây nhiễm độc hay bệnh hoạn cho xã hội, người ta vẫn mặc kệ. Làm các dịch vụ du lịch, biết việc chụp giật hay lừa đảo có thể gây ấn tượng xấu cho cả đất nước, khiến du khách ngoại quốc khinh bỉ và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa, người ta vẫn bất chấp.

    Chưa hết.

    Hiện tượng con cái đánh đập hoặc đuổi bố mẹ già ra khỏi nhà càng lúc càng phổ biến. Chỉ giận hờn hay cãi cọ nhau một chút là học sinh, có khi là nữ sinh, đã đánh nhau một cách tàn nhẫn. Để cướp một chiếc nhẫn, thay vì trấn lột, người ta nghĩ ra một biện pháp cực nhanh: chặt đứt nguyên cả cánh tay. Ăn trộm một con chó cũng bị cả làng xúm vào đánh chết.

    Dù sao, ở trên cũng là những chuyện… nhỏ.

    Lớn hơn là những chuyện liên quan đến số phận của cả đất nước. Việt Nam bị ô nhiễm trầm trọng ư? Người ta nhún vai: “Cái nước mình nó thế, biết làm sao được!” Nạn tham nhũng hoành hành, các công ty quốc doanh thi nhau phá sản để lại những núi nợ nần không những cho thế hệ hiện tại mà cả các thế hệ sau này nữa ư? Người ta cũng nhún vai: “Cái nước mình nó thế, biết làm sao được!”

    Quan trọng nhất là chuyện chủ quyền. Hầu như ai cũng biết Trung Quốc đang toan tính cướp biển và cướp đảo Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng đến mạng sống của nhiều ngư dân Việt Nam, chi phối tình hình chính trị nội bộ của Việt Nam. Ai cũng biết vậy. Nhưng phần lớn đều nhún vai: “Làm gì được?”. Rồi thôi.

    Người Việt vẫn thường tự hào về truyền thống yêu nước, bất khuất và anh dũng của mình. Nhưng thời gian gần đây, nhìn đâu cũng thấy những cái nhún vai bất cần, kiểu sống chết mặc bay như thế.

    Tại sao?

    Lý do, thật ra, khá đơn giản. Một phần vì sợ, như đã nói ở trên. Phần khác, vì đó là chính sách của nhà cầm quyền. Dưới mọi hình thức tuyên truyền, nhà cầm quyền chỉ muốn mọi người vô cảm. Bày tỏ sự quan tâm của mình đối với chủ quyền của đất nước dưới hình thức biểu tình thì bị đạp vào mặt hay bắt thảy vào các nhà tù; dưới hình thức bài viết trên các blog thì bị vu cho tội… trốn thuế.

    Trước, mọi nhà độc tài đều duy trì chế độ của mình trên sự sợ hãi của người dân; sau này, ngoài sự sợ hãi, người ta sử dụng một biện pháp nữa: làm cho mọi người trở thành vô cảm.

    Tôi không biết hiệu quả của bài thuốc trị sự vô cảm và sự sợ hãi của Phương Uyên như thế nào. Nhưng ít nhất, nhìn ánh mắt, dáng dứng và những câu phát biểu của em trước tòa, cả tòa sơ thẩm lẫn tòa phúc thẩm, và đặc biệt, nhìn cả trăm người từ khắp nơi đến tham dự phiên tòa phúc thẩm của em, tôi nghĩ, ít nhất cũng có nhiều người đã vượt qua được hai căn bệnh hiểm nghèo ấy.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Tôi không có thích góp ý vào vì không cần biết tôi nói về đề tài gì thì vẫn thường gặp " Bác Hồ kính yêu đã nói/ dạy ....." xong rồi ghép đoạn " hợp thời" theo sau, rồi bảo là " ai có ý kiến khác là phản động". Xong!
    Riết rồi tôi bị dị ứng luôn.
    Trích từ Kinh thánh thì cũng thường thấy nói sách kinh nào, trang mấy, hàng thứ mấy, chứ có nhiều người thích "chơi cha", " chận họng" hoài như vậy thì dĩ nhiên là hết ý.

    Không hiểu ông Quốc nghĩ sao chứ tôi tra cụm từ "Rớt nước mắt" thấy được khoảng 1 triệu rưởi kết quả. Dân Việt cũng vào loạt mau nước mắt đấy chứ, đâu có phải là vô cảm.

    Không phải vô cảm, mà cũng chả phải là sợ hãi.

    Nhưng tại sao lại có biểu hiện vô cảm và sợ hãi ?

    Đó là do cái tính 'khôn ngoan', cái óc duy lợi rất 'cực đoan' :)

    Duy lợi nên dại gì dính vào chuyện 'phản động', chưa thấy cơm cháo gì cả mà lỡ ra bị bắt nhốt, ở tù, thì sẽ ảnh hưởng tai hại đến chuyện học hành, công ăn việc làm, ... Đấy là do khôn ngoan chứ không có sợ hãi đâu; hễ chuyện gì có mòi ngon cơm, kiếm được cơm ngon, thì đây sẽ chơi mạnh tay, tới bến ngay :)

    Duy lợi nên ngu gì ăn cơm nhà mà đi vác tù và hàng tổng, tốn thời giờ, công sức mà chẳng được cái lợi lộc gì cụ thể, sát đĩa cơm sườn. Ối xời, chuyện đời ai người nấy lo. Cùng lắm là đảng và nhà nước lo.

    Mà này, có đánh nhau, lật nhau, chiến tranh chiến tre gì đấy thì đảng và nhà nước cứ lo trước nhá. Xong rồi đây sẽ chui ra xây dựng cuộc sống mới cho có nhiều phúc, nhiều lợi hơn.

    Chả phải là sợ hãi đứa nào, mà cũng chẳng hề vô cảm đâu !
    Chỉ là khôn ngoan triệt để đấy thôi :)

    Không phải là vô cảm hay sợ hãi, mà là người ta không thích dây dưa với bọn cùi phản động mạo danh Dân Chủ, cùng các âm mưu biến nước ta thành biển máu như Libya, Ai Cập bằng các trò hoa sen hoa nhài.
    Không thích, khinh.. thì người ta không muốn dây, thế thôi.

    ab viết:
    Vài nhận xét và câu hỏi:

    - Sợ hãi là do yếu tố bên ngoài tác động đến nội tâm vì chúng gây tác hại hay có khả năng cao gây hại đến người (hay hại đến những gì của người ấy như thân nhân, tài sản).

    - Vô cảm là nội tâm không bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài mà nếu bình thường thì một người sẽ phản ứng trong suy nghĩ và ngay cả qua hành động để làm thay đổi yếu tố đó theo chiều hướng nhân bản, đạo đức, lương tâm tốt.

    * Vậy thì liệu vô cảm (vốn là một mức độ khác khởi sinh từ sợ hãi) có khả năng thay thế (hay bao trùm) sự sợ hãi? Nghĩa là phải chăng người vô cảm cao độ thì không còn sợ hãi nữa?

    Xin đừng cười vội và cho rằng câu hỏi ấy ngớ ngẩn. Nhưng thử hỏi có cách nào giải thích xã hội VN ngày càng băng họai vì những họat động bất chánh (tham nhũng, hối lội, cướp bóc, hãm hiếp, gíết người, ...)? Có phải người ta không còn biết sợ hãi nên dám làm thế ở mức đại trà? (dĩ nhiên là do vô cảm mới làm những việc ấy rất tự nhiên không ngần ngại)

    Nói chung là vậy và trừ những họat động đụng chạm đến chính trị và nhà cầm quyền. Có thể nào đến một lúc nào đó người ta không còn sợ hãi đến cả lãnh vực chính trị, nhất là khi nhà cầm quyền suy yếu không thể kiểm sóat đám đông một cách hiệu quả? Phản kháng "chính trị" theo kiểu ấy, nếu có, là để giải tỏa những uất ức, đè nén cao độ và lâu dài. Và sẽ không từ suy nghĩ chín chắn mà là sự bùng nổ bản năng do tự nhiên cũng như do thói quen.

    - Sợ hãi là bản tánh của con người, độ cao hay thấp là do nhiều yếu tố tác động (bẩm sinh, môi trường, thời gian, lặp lại, mức nghiêm trọng của mối đe dọa, ...). Nhưng cần suy nghĩ, phân lọai xem sự sợ hãi là "bệnh" hay là "thói quen"? Phân lọai khác nhau thì cách chữa trị hay xóa bỏ cũng có thể rất khác nhau.

    Cũng thế sự vô cảm là "bệnh" hay là "thói quen"?

    Vô cảm ở đây có nghĩa là không có sự cảm thông chứ không phải là không còn cảm giác.

    Sợ hãi và vô cảm là 2 " đặc tính " của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc.
    Có 2 loại sợ hãi. Một, do bản năng tự bảo vệ để tồn tại. Hai, do kiềm chế của luật pháp, của xã hội và của bạo lực. Cả 2 loại sợ hãi này được chỉ huy bởi lòng tự trọng của mỗi một cá nhân! Lòng tự trọng có hay không là do giáo dục (của gia đình, xã hội, trường học). Cũng từ đó có thể xúc động hay vô cảm, không biết xúc động.

    Nỗi sợ hãi của đa số người dân Việt Nam là tự bảo vệ để tồn tại trước bạo lực do chính quyền gây ra, và vài nguyên nhân khác.
    Sự không sợ hãi của những người trong hệ thống cầm quyền Việt Nam là do luật pháp không được thi hành nghiêm chỉnh, được thả lỏng có mục đích để tạo ra phe cánh bè đảng che chở nhau. Vì thế mới có câu " còn đảng còn mình ". Đảng sẽ bảo vệ anh, dù anh có làm bậy tới đâu đi nữa.

    Sợ và không sợ ở VN phát triển không đúng hướng, quá đà, đưa đến vô cảm cho tất cả những người sợ và những người không sợ.
    Để có thể trị được sự phát triển quá đà, ngược chiều này, hệ thống nhà nước VN phải thay đổi toàn diện. Từ thi hành luật pháp đến giáo dục. Người dân Việt Nam có thể tác động đến việc thi hành luật pháp cũng như giáo dục bằng nhiều cách khác nhau.
    Cháu Uyên và rất nhiều các bạn khác (trẻ, già) đã bước được một bước dài trong tư duy, đã tác động đến nhiều người khác. Tôi hy vọng vào một tác động dây chuyền tích cực làm thay đổi tư duy của người dân Việt, từ đó sẽ thoát ra được nỗi sợ hãi và không sợ không chính đáng.
    Một đất nước, một xã hội cần có một đa số dân chúng không biết sợ khi làm những điều tốt, đúng đắn cũng như những người trong hệ thống nhà nước cần phải biết sợ khi làm những điều xằng bậy.
    Có như vậy đất nước đó mới phát triển, đi lên.

    Nguyễn Jung

    Xã hội Việt Nam hiện nay anh muốn làm việc tốt cũng không được.Cùng một cơ quan,người xấu sẽ tìm cách loại trừ người tốt để dễ bề thực hiện tiêu cực; người ta gọi những người đồng hội đồng thuyền là "hợp gu". Do phải đối diện thường xuyên với nhiều sự kiện đau thương, tàn ác nên tâm lý con người trở nên sơ cứng khi gặp những sự khổ đau của đồng loại. Con người với phản ứng tự nhiên là co cụm lại để tự vệ lấy chính mình. Một linh mục Công Giáo đi qua thấy một em bé bị tai nạn dừng xe lại giúp đỡ. Vừa ẵm cháu nhỏ lên, người thân của em bé trong nhà chạy ra không cần tìm hiểu sự việc, dùng hung khí đánh linh mục chết tại chỗ. Một người dân bình thường đi biểu tình chống trung cộng chiếm đảo,bị công an sách nhiễu, về nhà lối xóm chê dại; Chuyện chẳng liên quan gì đến mình mà tự mua lấy rắc rối. Hồi nhỏ con đi chơi ở xóm bị bạn bè bắt nạt mếu máo về nhà, Cha mẹ bảo sao không đánh bỏ mẹ chúng nó đi mà lại về nhà khóc. Lớn lên ra ngoài xã hội xảy ra chuyện gì, không cần tìm hiểu đúng sai cha mẹ và anh em trong nhà tìm mọi cách để bênh vực ... Thiết nghĩ nguyên nhân chính của căn bệnh vô cảm và sợ hãi là sự ích kỷ, khôn vặt, vun vén cá nhân đã ăn sâu vào máu huyết từ bao đời nay rồi.

    Vài nhận xét và câu hỏi:

    - Sợ hãi là do yếu tố bên ngoài tác động đến nội tâm vì chúng gây tác hại hay có khả năng cao gây hại đến người (hay hại đến những gì của người ấy như thân nhân, tài sản).

    - Vô cảm là nội tâm không bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài mà nếu bình thường thì một người sẽ phản ứng trong suy nghĩ và ngay cả qua hành động để làm thay đổi yếu tố đó theo chiều hướng nhân bản, đạo đức, lương tâm tốt.

    * Vậy thì liệu vô cảm (vốn là một mức độ khác khởi sinh từ sợ hãi) có khả năng thay thế (hay bao trùm) sự sợ hãi? Nghĩa là phải chăng người vô cảm cao độ thì không còn sợ hãi nữa?

    Xin đừng cười vội và cho rằng câu hỏi ấy ngớ ngẩn. Nhưng thử hỏi có cách nào giải thích xã hội VN ngày càng băng họai vì những họat động bất chánh (tham nhũng, hối lội, cướp bóc, hãm hiếp, gíết người, ...)? Có phải người ta không còn biết sợ hãi nên dám làm thế ở mức đại trà? (dĩ nhiên là do vô cảm mới làm những việc ấy rất tự nhiên không ngần ngại)

    Nói chung là vậy và trừ những họat động đụng chạm đến chính trị và nhà cầm quyền. Có thể nào đến một lúc nào đó người ta không còn sợ hãi đến cả lãnh vực chính trị, nhất là khi nhà cầm quyền suy yếu không thể kiểm sóat đám đông một cách hiệu quả? Phản kháng "chính trị" theo kiểu ấy, nếu có, là để giải tỏa những uất ức, đè nén cao độ và lâu dài. Và sẽ không từ suy nghĩ chín chắn mà là sự bùng nổ bản năng do tự nhiên cũng như do thói quen.

    - Sợ hãi là bản tánh của con người, độ cao hay thấp là do nhiều yếu tố tác động (bẩm sinh, môi trường, thời gian, lặp lại, mức nghiêm trọng của mối đe dọa, ...). Nhưng cần suy nghĩ, phân lọai xem sự sợ hãi là "bệnh" hay là "thói quen"? Phân lọai khác nhau thì cách chữa trị hay xóa bỏ cũng có thể rất khác nhau.

    Cũng thế sự vô cảm là "bệnh" hay là "thói quen"?