Phạm Văn Tuấn - Nước Nhật trên đường Minh Trị Phục hưng

  • Bởi Admin
    28/08/2013
    1 phản hồi

    Phạm Văn Tuấn

    Khi chế độ Tướng Quân của giòng họ Tokugawa bị sụp đổ vào năm 1868, các nhà lãnh đạo mới của nước Nhật chỉ là những chính khách non trẻ, chưa từng có kinh nghiệm gì về cách quản trị đất nước. Tuy nhiên, họ lại là những người có đầu óc thực tế, đã áp dụng thử từng phần các cách tổ chức chính trị của Tây Phương vào xã hội Nhật Bản.

    Các năm đầu của công trình cải cách đã đòi hỏi rất nhiều ngân quỹ dùng cho những chương trình như thành lập lục quân và hải quân tân tiến, thuê mướn các chuyên viên nước ngoài, gửi các sinh viên đi du học, đặt nền móng cho một chính sách giáo dục quốc gia phổ thông, xây dựng các kỹ nghệ và hầm mỏ mới, đặt các cơ sở truyền thông mới và làm phát triển hòn đảo Hokkaiko…

    Về đối ngoại, chính phủ mới phải lo đối phó với các món nợ cũ của chính quyền Tokugawa, còn về đối nội, việc bồi thường cho các lãnh chúa cũ, cho các võ sĩ Samurai bất mãn và sự tốn kém trong việc dẹp cuộc nổi loạn của miền Satsuma vào năm 1877…, tất cả đã làm cho ngân quỹ quốc gia khô cạn. Vào thời kỳ đó, Nhật Bản cũng khó lòng xin được các trợ giúp tài chính và kỹ thuật của các nước ngoài vì dù sao, các món tiền cho vay đều kèm theo lãi xuất rất cao và Nhật Bản thời đó còn là một quốc gia nghèo, chưa có đủ uy tín cần thiết để mượn được tiền. Người Nhật cũng hiểu rõ bản chất “đáng sợ” của các món tiền vay mượn từ các nhà tài phiệt đế quốc. Nhật Bản chỉ còn cách là trông vào chính mình để phục hưng kinh tế.

    Một sự việc đã xẩy ra có lợi cho Nhật Bản vào các năm trong thập niên 1860. Thời bấy giờ tại châu Âu có bệnh dịch tầm và nhờ vậy, đã có nhu cầu rất lớn về tơ tầm và trứng tầm, và các miền sản xuất tơ tầm tại miền trung Nhật Bản đã đáp ứng được nhu cầu đó. Các nhà kinh doanh tơ tầm này lại áp dụng nền cơ khí mới vào phương pháp se sợi, cuốn tơ… nhờ thế họ đã sản xuất được những sợi tơ tầm đều hơn, có chất lượng hơn hẳn các nước khác tại châu Á. Nhờ các cải tiến kỹ thuật áp dụng vào kỹ nghệ, Nhật Bản đã giành được thị trường tơ lụa tại Phương Tây và lụa Nhật Bản đã là nguồn xuất cảng lớn nhất cho tới thế kỷ 20. Nhờ tơ lụa, Nhật Bản đã cân bằng mậu dịch với Tây Phương trong khi đó, đã dần dần cải tiến nền kinh tế trong nước.

    Tại quốc nội Nhật Bản, tình trạng tài chính của các năm trong thập niên 1870 cũng rất bi đát. Đồng tiền đang trên đà lạm phát nguy hiểm. Tiền xuống giá đã làm lợi cho các nhà nông là những người phải đóng thuế cố định. Do đồng tiền nhỏ đi và nhờ sản phẩm, các nhà nông Nhật đã có dư vốn để đầu tư vào nông nghiệp. Thêm vào đó là sự cải tiến các phương tiện giao thông, việc bãi bỏ các hàng rào phong kiến ngăn cản việc thương mại và sự du nhập các kỹ thuật mới về nông nghiệp… tất cả đã khiến cho nông sản gia tăng rất nhiều trong vài thập niên. Tuy nhiên, sự lạm phát lại làm giảm rất mau nguồn lợi tức của chính phủ do thuế má, khiến cho việc quản trị chính quyền bị lung lay. Các biện pháp tài chính mạnh vì vậy cần phải được áp dụng.

    Bộ Trưởng Tài Chính thời bấy giờ là Matsukata Masayoshi, là một trong các nhà lãnh đạo trẻ của miền Satsuma, đã giữ chức vụ trong gần hai thập niên. Matsukata đã áp dụng một chính sách hạn chế khắc khổ. Ông đã cắt giảm các ngân khoản, bán bớt các xí nghiệp của chính phủ và các nhà máy không có tính chiến lược cho tư nhân. Dĩ nhiên các chính sách kinh tế của Matsukata đã bắt người dân Nhật phải chịu đựng nhiều thiếu thốn và thời bấy giờ, chính phủ cũng đủ mạnh để dẹp tan các chống đối.

    Một ảnh hưởng do chính sách kể trên là các tài nguyên kỹ nghệ non yểu của nước Nhật lại rơi vào tay một số người có tiền. Những người này đã mua của chính phủ các nhà máy với số vốn rẻ hơn là số tiền mà chính phủ đã bỏ ra để thiết lập. Nhờ xuất vốn thấp, cộng với cách quản trị tư vừa uyển chuyển, vừa cương quyết, các xí nghiệp tư nhân Nhật Bản đã xây dựng được đủ kỹ năng và kinh nghiệm để vượt qua các khó khăn ban đầu trong phương pháp kỹ nghệ hóa. Một thành công cụ thể là ngành tơ sợi trong các năm giữa thập niên 1880. Kế đó là sự thành công của các ngành kỹ nghệ khác.

    Vào cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã thành công trong việc kỹ nghệ hóa, tuy nhiên các cải cách của Matsukata lại khiến cho các lợi lộc tài chính của sự phát triển tập trung vào tay của một nhóm nhỏ tư nhân, hay các tay tài phiệt (zaibatsu).


    Shogun Tokugawa Ieyasu

    Các nhà kỹ nghệ và doanh nhân mới của thời Minh Trị không phải là con cháu của những nhà thương mại của thời kỳ Tokugawa, vì những người đó đã cố bám víu lấy nền kỹ nghệ cổ truyền hay các phương pháp làm thương mại lỗi thời. Một trường hợp ngoại lệ là gia đình Mitsui, thiết lập từ thế kỷ 17, đã trở nên một thành phần quan trọng nhất trong nền kinh tế mới. Các doanh gia mới phần lớn có nguồn gốc bình thường, song lại là những người mạo hiểm có tài, biết nắm lấy các cơ hội vàng son của một thời kỳ thay đổi nhanh chóng. Shibusawa Eiichi thuộc một gia đình nông dân miền Edo biết làm thương mại, trở nên giàu có và đạt được giai cấp Samurai vào năm gần tàn của chế độ Tướng Quân. Eiichi rời chính quyền mới vào đầu thập niên 1870 để trở nên một nhân vật hàng đầu trong ngành kỹ nghệ tơ sợi, ngành ngân hàng và trong một số các ngành chuyên môn khác.

    Các doanh gia thành công khác phần lớn cũng thuộc giai cấp Samurai, có học thức, có liên quan chặt chẽ với các bạn bè trong chính quyền, và một số cũng đã có kinh nghiệm kinh doanh cho các lãnh chúa, nhờ vậy họ đã là những người dấn thân đầu tiên vào thương trường. Đây là trường hợp của ông Iwasaki Yataro thuộc miền Tosa. Ông này khởi đầu bằng xưởng đóng tầu và đã xây dựng nên Hãng Mitsubitshi, là đại công ty chỉ đứng thứ nhì sau Hãng Mitsui.

    Như vậy tới giữa thập niên 1880, Nhật Bản đã thành công trong việc chuyển tiếp từ một chế độ phong kiến sang thành một quốc gia tân tiến. Trong nước đã có một nền chính trị ổn định với nền kinh tế đủ mạnh để cạnh tranh với các nước ngoài, chẳng hạn như về ngành tơ sợi. Đối ngoại, Nhật Bản đủ mạnh để không bị các quốc gia khác lấn át.

    Không phải là dễ dàng khi cắt nghĩa sự thành công của tiến trình phục hưng thời Minh Trị. Có nhiều nguyên do bổ túc cho nhau và có những đặc thù về dân tộc, về địa lý, về văn hóa… tất cả đã khiến cho sự phục hưng đất nước được tiến hành mau chóng.

    Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, ở xa các quốc gia khác, không bị các cuộc ngoại xâm nên dân tộc Nhật sống biệt lập và thuần chủng. Họ không có các nhóm dân thiểu số quan trọng và sau hơn hai thế kỷ sống dưới chế độ Tướng Quân áp chế, cô lập và bế quan, người Nhật không có các chia rẽ tôn giáo, một điều tai hại cho việc đoàn kết quốc gia tại các nước đang phát triển. Hơn nữa, người Nhật vốn có một tinh thần quốc gia rất cao, không một người dân nào lại có ý tưởng muốn nhờ vả một lực lượng nước ngoài để chống lại đồng bào của mình.

    Tinh thần quốc gia của người Nhật đã xuất hiện rất sớm, có lẽ từ thời vay mượn nền văn minh Trung Hoa. Vào thế kỷ thứ 7, Nhật Bản còn là một xứ sở nhỏ, lạc hậu so với nước Trung Hoa rất lớn, lại có một nền văn minh rất cao. Do mặc cảm thấp kém, người Nhật đã học hỏi Trung Hoa nhưng họ đã không dập đúng theo khuôn mẫu đi mượn mà biến cải, sao cho thích hợp với xứ sở của họ. Do không bị ngoại xâm, Nhật Bản hoàn toàn có hòa bình và trật tự xã hội, nhờ thế người Nhật đã làm phát triển được một nền kinh tế quốc gia tự cường, một nền học vấn khá cao so với các nước khác thời bấy giờ, cũng như đạt được các tiêu chuẩn cao về tính hữu hiệu chính trị. Do nền nông nghiệp, người Nhật đã có từ lâu tinh thần tập thể, biết phối hợp và cộng tác với nhau trong các việc công ích, biết sống hài hòa với nhau, không có các hành động hung dữ mỗi khi xẩy ra các biến cố lớn như trong hai thập niên 1860 và 1870. Giống như các dân tộc khác tại miền Đông và miền Đông Nam châu Á, người Nhật chăm chỉ làm việc và ham chuộng giáo dục. Họ lại có khiếu thẩm mỹ đặc biệt, biết yêu thiên nhiên và đưa thiên nhiên vào trong cuộc sống.

    Qua đầu thế kỷ 19, các giai tầng xã hội của Nhật Bản cùng gặp các trắc trở. Các giới lãnh chúa, quý tộc, võ sĩ Samurai dần dần trở nên mắc nợ nhiều hơn, và chủ nợ là giới thương nhân trước khia bị coi là thấp hèn. Giới nông dân cũng trở nên giàu có nhờ sản xuất. Hai giới này đã được hưởng quyền tự trị tại làng xã và thành thị, vì thế đã trở nên các doanh gia có thế lực. Sự không ổn định về các giai tầng xã hội đã dẫn đến đòi hỏi phải thay đổi và những người tạo nên cuộc thay đổi chính là các hiệp sĩ Samurai đầy tham vọng, có tinh thần quốc gia, không chịu khuất phục trước sự đô hộ của người nước ngoài.

    Vào thời bấy giờ, các nhà lãnh đạo Nhật đã không đi tìm các tư tưởng ngoại lai của Phương Tây như chế độ dân chủ, chế độ cộng hòa… vì chính các nhà lãnh đạo cũng chẳng hiểu rõ tường tận về những lý thuyết này. Họ đã khôn ngoan quay về với sự “phục hưng” một nền quân chủ đã có từ lâu đời và là biểu tượng của dân tộc, một điều rất dễ hiểu và rất hấp dẫn đối với mọi người dân Nhật.


    Thiên hoàng Minh Trị

    Sự thành công của thời kỳ Minh Trị Phục Hưng còn do tính thực dụng của các nhà lãnh đạo trẻ, họ đã tiến chậm chạp, bỏ ngay những khởi đầu sai lầm, thử nghiệm các điều học hỏi mới và coi kỹ xem các cải cách có thích hợp với xã hội và dân tộc của họ không. Họ đã không tuân theo một giáo điều nào, một ý thức hệ ngoại lai nào, lại không chịu một áp lực nào của ngoại bang. Các nhà lãnh đạo trẻ đã có hoàn toàn tự do, làm việc theo một trình tự hợp lý, tập trung trước tiên vào các công tác căn bản, và để về sau các công việc khó khăn hơn và không cần thiết lúc bấy giờ. Họ đã thiết lập nền trật tự xã hội và luật pháp, làm phát triển giao thông, đặt cơ sở cho nền giáo dục tiểu học trước khi nghĩ tới bậc đại học, nuôi dưỡng phát triển nông nghiệp để người dân có đủ lúa gạo, nâng đỡ các kỹ nghệ đơn giản trước khi bước vào giai đoạn kỹ nghệ hóa đất nước.

    Các nhà lãnh đạo trẻ Nhật Bản đã ước muốn làm ổn định đất nước trước khi mong muốn Nhật Bản đóng một vai trò quốc tế và vì thế, Nhật Bản đã đạt được phương pháp tổ chức một xã hội tân tiến, có được một nền kinh tế phát triển. Thời kỳ “Minh Trị Phục Hưng” đáng được coi là một bước đường lịch sử xuất sắc và độc đáo của Nhật Bản.

    Phạm Văn Tuấn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Trích dẫn:
    Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, ở xa các quốc gia khác, không bị các cuộc ngoại xâm nên dân tộc Nhật sống biệt lập và thuần chủng. Họ không có các nhóm dân thiểu số quan trọng và sau hơn hai thế kỷ sống dưới chế độ Tướng Quân áp chế, cô lập và bế quan, người Nhật không có các chia rẽ tôn giáo, một điều tai hại cho việc đoàn kết quốc gia tại các nước đang phát triển. Hơn nữa, người Nhật vốn có một tinh thần quốc gia rất cao, không một người dân nào lại có ý tưởng muốn nhờ vả một lực lượng nước ngoài để chống lại đồng bào của mình.

    Nghĩ cũng lạ! Nhật Bản xa cách mọi nước khác thì theo suy nghĩ thông thường, dân Nhật đâu cần nhiều tính đòan kết nhỉ. Và tình thế địa lý như vậy rất dễ gây chia rẽ vì không có mối nguy trực tiếp rình rập (thật ra họ cũng có thời kỳ sứ quân và được Shogun dẹp yên). Nhưng thực tế cho thấy khác hẳn!

    Còn VN ba bề, tứ phía bị bao quanh bởi các nước gần xa hiếu chiến (Tàu, Miên, Thái, Pháp, ...), luôn ở thế nguy hiếm tìềm tàng, nhưng người VN lại chia rẽ thấy rõ (thật ra khi bị tấn công thật sự thì người VN mới nắm tay nhau để chống trả!). Nhưng tại sao không biết đoàn kết gây sức mạnh để không những ngăn ngừa bị tấn công mà còn tạo nền tảng cho xây dựng và phát triển? Thực tế thật là trái hẳn với suy nghĩ, lý luận thông thường.