Nguyễn Gia Kiểng - Một thể chế dân chủ xã hội cho Việt Nam?

  • Bởi Admin
    26/08/2013
    9 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    “…Vậy vấn đề căn bản nhất vẫn là làm thể nào để sản xuất thật nhiều của cải, sau đó mới có vấn đề phân phối đồng đều. Sai lầm cơ bản của các chế độ dân chủ xã hội là nghĩ đến phân phối trước khi lo lắng cho sản xuất…”

    LTS Thông Luận: Gần đây một số trí thức có uy tín trong nước trong khi thảo luận về vấn đề dân chủ hóa đất nước đã đề cập đến thể chế dân chủ xã hội như một giải pháp chấp nhận được cho Việt Nam, có người còn cho rằng đó là giải pháp tối ưu. Cuộc thảo luận về thể chế dân chủ xã hội càng sôi nổi sau khi ông Lê Hiếu Đằng kêu gọi các đảng viên cộng sản bất mãn bỏ ĐCSVN để thành lập Đảng Dân Chủ Xã Hội. Chúng tôi đăng lại sau đây quan điểm của ông Nguyễn Gia Kiểng về chủ đề này. Ông Kiểng phát biểu trong một bài phỏng vấn ngắn dành cho ký giả Đinh Quang Anh Thái của đài Little Saigon Radio và báo Việt Tide. Cuộc phỏng vấn này diễn ra vào tháng 11-2005, ba tháng sau một hội nghị của các chuyên gia và trí thức Việt Nam mùa hè 2005 tại Đà Nẵng trong đó giải pháp dân chủ xã hội được một số người đưa ra và được một phần dư luận tán thành. Cũng xin lưu ý độc giả là những con số về thất nghiêp tại Châu Âu mà ông Kiểng đưa ra năm 2005 cũng vẫn rất gần với thực tế hiện nay.

    Phạm Đỉnh

    * * *

    Đinh Quang Anh Thái: Thời gian gần đây, một số trí thức Việt Nam trong hệ thống đảng và nhà nước cộng sản như tiến sĩ Phan Đình Diệu và tiến sĩ Lê Đăng Doanh, hay đối lập như Hà Sĩ Phu nhận định rằng, một thể chế dân chủ xã hội có thể phù hợp với Việt Nam hơn là thể chế dân chủ kiểu Mỹ. Ông nghĩ sao về suy nghĩ đó ?

    Nguyễn Gia Kiểng: Trước hết cần hiểu rõ ý nghĩa của các từ ngữ.

    Dân chủ kiểu Mỹ thì ai cũng hiểu vì rất giản dị, đó là một thể chế đặt nền tảng trên chủ nghĩa cá nhân tự do; các quyền căn bản của người dân được qui định trong hiến pháp và luật pháp và được triệt để tôn trọng, kinh tế vận hành theo qui luật thị trường.

    Trái lại, khái niệm dân chủ xã hội phức tạp hơn nhiều và mỗi người sử dụng nó theo một nghĩa riêng, nhiều khi như là một thỏa hiệp giữa dân chủ và cái gọi là "chủ nghĩa xã hội". Thực ra khái niệm dân chủ xã hội có lịch sử, nội dung lý thuyết và cũng có sự thể hiện thực sự của nó tại Tây Âu.

    Cần hiểu rằng cho tới đầu thế kỷ 20 các cụm từ "cộng sản", "xã hội", "dân chủ xã hội" được coi như đồng nghĩa. Trong suốt thế kỷ 19 phong trào cộng sản mạnh nhất tại Đức, và đảng cộng sản Đức mang tên là "Đảng Dân Chủ Xã Hội". Đảng cộng sản Nga của Lênin cũng có tên là "Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội", chỉ đổi tên thành "Đảng Cộng Sản Liên Xô" vài năm sau khi đã cầm quyền. Cụm từ "dân chủ xã hội" lần đầu tiên mang một ý nghĩa đặc biệt năm 1875 khi đại hội của Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức họp tại Gotha, phản bác một số nhận định trong duy vật lịch sử của Marx, thí dụ như sự bần cùng hóa tất yếu của giai cấp công nhân, sự tập trung các phương tiện sản xuất vào tay một số chủ nhân ngày càng ít. Lúc đó kinh tế châu Âu phát triển mạnh và thực tế phủ nhận những tiên đoán của Marx, đời sống công nhân không cơ cực thêm mà còn được cải thiện một cách ngoạn mục, số nhà tư bản không ít đi mà tăng lên một cách đột ngột, v.v. Từ những nhận định đó, cương lĩnh Gotha cho rằng có thể tiến tới xã hội cộng sản, được hiểu theo nghĩa một xã hội lý tưởng trong đó không còn phân biệt giữa chủ nhân và công nhân và mọi người làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu, mà không cần phải dùng tới bạo lực và chuyên chính vô sản. Nói chung đó là một con đường khác, ôn hòa hơn, để tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Karl Marx đã rất tức giận với cương lĩnh này và đã viết cả một cuốn sách với tựa đề là "Phản bác cương lĩnh Gotha".

    Nhưng đây là những tranh luận lý thuyết. Trên thực tế chế độ dân chủ xã hội đã được thực hiện trên một qui mô lớn do các nước tư bản Tây Âu sau Thế Chiến 2 trong mục đích không phải là tiến tới chủ nghĩa cộng sản mà, trái lại, là để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Cho tới nay các nước Tây Âu nói chung vẫn còn là những chế độ dân chủ xã hội.

    ĐQAT: Ông từng du học rồi sau đó sống nhiều năm tại Paris, theo ông thì thể chế dân chủ xã hội có những ưu và khuyết điểm nào đối với xã hội và đời sống của dân chúng Pháp ?

    NGK: Ưu điểm của chế độ dân chủ xã hội là những bảo đảm an sinh rất lớn đối với người dân, sức khỏe hoàn toàn được bảo đảm, giáo dục miễn phí ở mọi cấp, học bổng dồi dào, một học sinh giỏi chắc chắn có một tương lai tươi sáng. Trợ cấp thất nghiệp khá cao và được duy trì trong thời gian dài ; số giờ làm việc ít, số ngày nghỉ có trả lương cao ; bất cứ ai cũng được cấp một lợi tức tối thiểu để sống. Lương hưu cao, bảo đảm những năm cuối đời an vui. Tóm lại con người được săn sóc và kính trọng.

    Khuyết điểm của nó trước hết là cái giá phải trả cho những ưu điểm vừa kể và đồng thời là những tật bệnh tất nhiên phải có của một chính sách duy ý chí. Câu hỏi đầu tiên vẫn là "tiền đâu?". Một nhà nước dù tốt bụng đến đâu cũng chỉ có thể cho những gì mà nó có. Vậy vấn đề căn bản nhất vẫn là làm thể nào để sản xuất thật nhiều của cải, sau đó mới có vấn đề phân phối đồng đều. Sai lầm cơ bản của các chế độ dân chủ xã hội là nghĩ đến phân phối trước khi lo lắng cho sản xuất.

    Một cách cụ thể, nhà nước ban phát nhiều tất nhiên cũng phải là một nhà nước to lớn kềnh càng đưa tới tham nhũng. Các chế độ dân chủ xã hội Tây Âu, đặc biệt là tại Pháp thể hiện bằng một khối lượng công chức đồ sộ, một khu vực kinh tế quốc doanh lớn với hiệu quả thấp, và nhất là những luật lệ rất gò bó đối với các công ty. Sa thải một công nhân là cả một thủ tục dài và tốn kém. Chính vì thế mà kinh tế Tây Âu đang trì trệ, các xí nghiệp không có lời nên không phát triển được và không thể tuyển dụng thêm công nhân. Hậu quả thấy rõ: hai nước dân chủ xã hội lớn tại châu Âu là Pháp và Đức đều có tỷ lệ thất nghiệp trên 10%, trong giới trẻ chưa có kinh nghiệm tỷ lệ thất nghiệp là gần 40%.

    Chưa kể là những chính sách tốt đẹp nhất trên nguyên tắc mà duy ý chí cũng chắc chắn có mặt trái của nó. Lấy một thí dụ cụ thể về một điểm mà nước Pháp rất tự hào là giáo dục. Pháp có một số trường rất danh tiếng với các giáo sư thượng hạng, đầy đủ phương tiện học hỏi, lại hoàn toàn miễn phí. Sinh viên tốt nghiệp được bảo đảm một chỗ đứng vinh quang trong xã hội và dĩ nhiên một lợi tức thoải mái. Điều kiện duy nhất để được nhận vào các trường này là học giỏi để thi đậu trong những cuộc thi tuyển khó khăn. Thật là lý tưởng. Nhưng nếu nhìn vào thành phần sinh viên các trường này thì ta thấy hầu như tất cả đều là con cái của giới trí thức thượng lưu. Kết quả là những người nghèo đóng thuế để tài trợ cho con cái những người giàu.

    ĐQAT: Nói như ông, vậy thì dân chủ của Mỹ tốt hơn ?

    NGK: Đúng thế. Chế độ dân chủ xã hội của Tây Âu được hình thành sau thế chiến 2 để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Nó có những yếu tố mị dân nhằm tranh thủ hậu thuẫn quần chúng chống lại tuyên truyền cộng sản, để cắt cỏ dưới chân các đảng cộng sản lúc nào cũng sẵn sàng khai thác những bất mãn của quần chúng. Hoa Kỳ trái lại không có mối nguy cộng sản và do đó chỉ có một ưu tư duy nhất là làm thế nào để tổ chức xã hội một cách hiệu quả nhất. Mô hình Mỹ vì vậy chắc chắn là hợp lý hơn mô hình Tây Âu. Thực tế chứng tỏ xã hội Mỹ năng động hơn xã hội châu Âu.

    ĐQAT: Liệu có một thể chế nào dung hòa được giữa dân chủ xã hội và dân chủ kiểu Mỹ ?

    NGK: Thế nào là dung hòa ? Và tại sao phải dung hòa ? Mọi xã hội đều phải có chung ba ưu tư lớn: một là bảo đảm các quyền tự do của con người, nói cách khác là xây dựng và củng cố dân chủ ; hai là tổ chức một cách hiệu quả để mỗi ngày một giàu mạnh hơn ; ba là thực hiện liên đới xã hội để một mặt giúp những người thiếu may mắn gượng dậy và vươn lên, một khác bảo đảm hòa bình trong xã hội. Tùy theo hoàn cảnh của từng nước mà trong mỗi giai đoạn ưu tư nào phải được dành một trọng lượng đặc biệt quan trọng.

    Một cách ngắn gọn, tổ chức chính trị có mục đích phục vụ con người và con người có hai loại quyền: những quyền không bị (freedom from) và những quyền được có (freedom to). Con người phải không bị cấm cản chọn lựa nghề nghiệp và nếp sống, phát biểu ý kiến của mình, thành lập hoặc tham gia các tổ chức, bầu cử và ứng cử tự do, đó là những quyền không bị. Mặt khác con người cũng phải được quyền có công ăn việc làm, có lợi tức, có lương thực đầy đủ và môi trường lành sạch, được săn sóc khi đau yếu, có phương tiện để học hỏi và tiến lên, nói chung là có cuộc sống lành mạnh và xứng đáng. Các quyền không bị là những quyền phải có ngay tức khắc và không điều kiện ; các quyền được có tùy ở khả năng của mỗi quốc gia, ở mỗi giai đoạn. Nói chung, mọi quốc gia và mọi chính quyền đều phải theo đuổi những mục tiêu giống nhau, nhưng không có những kiểu mẫu làm sẵn và do đó không có vấn đề dung hòa giữa các mô hình này.

    ĐQAT: Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chủ trương thể chế nào cho Việt Nam, sau khi chế độ toàn trị hiện nay không còn cầm quyền nữa ?

    NGK: Như tôi vừa nói ở trên, những quyền không bị là những quyền có thể và phải được thực hiện tức khắc và không điều kiện. Những quyền này định nghĩa một thể chế dân chủ. Vậy vấn đề trước hết là thiết lập dân chủ đa nguyên, toàn diện và tức khắc. Trên điểm này không thể có một nhân nhượng nào.

    Vấn đề liên đới xã hội đang đặt ra cho nước ta ở mức độ thấp nhất: mức độ cứu trợ. Một tỷ lệ lớn đồng bào ta thiếu lương thực và săn sóc sức khỏe. Một số lượng rất đông đảo thanh thiếu niên không thể đi học vì học phí quá đắt. Phải thiết lập một hệ thống y tế công cộng và một hệ thống giáo dục miễn phí có phẩm chất. Đó là những điều chúng ta có thể làm được một cách nhanh chóng. Hiện nay mức độ tăng trưởng của chúng ta là 7,5%, mặc dù chúng ta bị cai trị một cách vô lý và bị nạn tham nhũng đục khoét. Nếu có dân chủ, có luật pháp đúng đắn và đẩy lùi được tham nhũng chúng ta có mọi khả năng để duy trì một mức độ tăng trưởng 15% trong nhiều năm và có thể dùng một phần đáng kể của thành quả này để thực hiện những đòi hỏi cấp bách của liên đới xã hội.

    Về lâu về dài, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên quan niệm, như đã trình bày trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 của chúng tôi, liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu, không kém phát triển kinh tế, nhưng được thể hiện qua thuế. Nhà nước thu thuế và dùng thuế để thực hiện liên đới xã hội. Nếu nhu cầu cao thì mức thuế sẽ cao hơn, và ngược lại. Nhưng chúng tôi dứt khoát không chủ trương thực hiện liên đới xã hội bằng những luật lệ gò bó cho các xí nghiệp như mô hình dân chủ xã hội Tây Âu. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng ngay cả nếu chúng ta có đạt mức thuế tương đối cao thì Việt Nam vẫn còn rất hấp dẫn với đầu tư nước ngoài trong nhiều thập niên. Các công ty sợ tham nhũng và thủ tục nặng nề hơn là sợ mức thuế 35% thay vì 30%.

    Mặt khác, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cũng chủ trương thực hiện liên đới xã hội chủ yếu qua các tổ chức của xã hội dân sự, nghĩa là các hội thiện nguyện và các giáo hội, hơn là qua các công chức và công ty quốc doanh như các nước Tây Âu. Kinh tế phải được vận hành đúng qui luật thị trường. Nếu nói đó là dân chủ kiểu Mỹ thì cũng không sao. Không có gì hổ nhục khi học hỏi những kinh nghiệm đã thành công. Sự hổ nhục là thua kém.

    Nguyễn Gia Kiểng

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    TRUNG TRUONG viết:
    VỀ MỘT MÔ HÌNH DÂN CHỦ XÃ HỘI.

    ....

    Sự phân loại như vậy cho thấy rằng việc có một định nghĩa chung, được mọi người cùng thừa nhận, về dân chủ không phải là điều đơn giản. Việc chọn lưạ mô hình chính trị thích hợp lại càng phức tạp trăm lần.
    Mục đích của bài viết, do đó, chỉ là cung cấp chút ít thông tin và gợi mở sự tìm tòi, ngoài ra không gì khác hơn.

    TRƯƠNG Đ. TRUNG.

    ....

    Đúng thế, bài survey/review này thì thông thái hơn, vì tác giả có biết và có nói rõ giới hạn của đề tài, thế thì người đọc dễ thông cảm hơn. Và tác giả thì khôn khéo trượt tuyết, không đề cập đến ý kiến, chủ trương của chính mình.

    Ngược lại, có những người thích nói những câu motherhood statements, gọi đó là "dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21", nhưng khi nói chuyện chính sách chủ trương cụ thể thì lại đầy mơ hồ, mâu thuẫn, câu này đá câu kia, vậy thì gọi đó là gì?

    Suy nghĩ lại, ngài Nguyễn gia Kiểng trước kia có học về tài chính, tại sao nay lại nói năng lú lẫn thế nhỉ? Old-age senility hay chính trị đã làm ông ấy senile rồi?

    VỀ MỘT MÔ HÌNH DÂN CHỦ XÃ HỘI.

    Nhân trong thời gian gần đây có luồng dư luận đề cập đến vấn đề Dân Chủ Xã Hội, người viết xin được ghi lại sau đây, rất sơ lược, về trường hợp của Thuỵ Điển, một quốc gia vẫn thường được xem là đại biểu của chế độ Dân Chủ Xã Hội ở Bắc Âu, để góp phần gợi mở việc tìm hiểu sâu hơn về hình thái chính trị rất đáng chú ý này.

    Bị chìm khuất do sự đối đầu khốc liệt giữa hai khối Tư Bản-Cộng Sản, hình thái của chế độ Dân Chủ Xã (DCXH) hội tồn tại trong suốt gần một thế kỷ qua ở vài ba quốc gia nhỏ thuộc vùng Scandinavia dường như ít được người Việt Nam, ngay cả giới trí thức, chú ý đến.
    Trong ba quốc gia theo chế độ DCXH vùng Scandinavia đó: Norway (Na-Uy), Denmark (Đan Mạch) và Thuỵ Điển (Thuỵ Điển), Thuỵ Điển được xem là đại biểu. Dư luận thế giới từ trước đến nay vẫn xem Thuỵ Điển là mẫu mực của chế độ Dân Chủ Xã Hội, nơi mà thành tựu kinh tế đã kết hợp hài hoà với tự do và bình đẳng xã hội. Trong hơn 70 năm qua, tuy chỉ là một quốc gia nhỏ với dân số chưa đến 9 triệu người, Thuỵ Điển luôn được xếp trong số những nước có vị trí cao nhất trên thế giới trong tất cả các bảng xếp hạng (World indices) về kinh tế (World Bank GDP per Capita), về an sinh, (Human Development Index), về nhân quyền (Freedom House Index), về bình đẳng (Gini Index), về mức trong sạch của chính quyền (Transparency International Corruption Perceptions Index), về tỉ lệ tội phạm (Crime Index for Countries), v.v...Thuỵ Điển và chế độ Dân Chủ Xã Hội, như vậy, thiết nghĩ đáng được tìm hiểu qua cho biết.
    Một cách tổng quát, Dân Chủ Xã Hội (DCXH) (Social Democracy) là trào lưu phát khởi hồi cuối thế kỷ 19, đại diện cho quyền lợi chính trị của giai cấp thợ thuyền đang lên vào lúc đó. Phần đông giai cấp này, ở các nước công nghiệp hoá Âu Châu, lúc đầu chịu ảnh hưởng của học thuyết Marxism, nhưng dần dà về sau đã rời bỏ chủ trương đấu tranh giai cấp và giành chính quyền bằng cách mạng bạo lực của học thuyết đó, chuyển qua chủ trương hợp tác giai cấp và giành chính quyền bằng số lượng lá phiếu đông đảo của giai cấp mình. Hai điểm chính yếu trong quan điểm của những người có khuynh hướng DCXH, cũng là điểm khiến họ khác biệt với người Cộng sản, là sự thừa nhận quyền tư hữu và nền kinh tế thị trường. Khác với những lời chỉ trích vẫn thường gán chế độ của Thuỵ Điển nói riêng ,và các chế độ DCXH nói chung, là xã hội chủ nghĩa (socialist countries) với ám chỉ rằng trong chế độ đó nhà nước-núp dưới danh nghĩa xã hội- quản lý hết mọi sự, nền kinh tế của Thuỵ Điển về thực chất là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trong đó phần lớn các phương tiện sản xuất đều thuộc về tư nhân (private ownership of the means of productions), động lực chính của nền kinh tế vẫn là cơ cấu thị trường; chính phủ hay nhà nước chỉ đóng vai trò trọng tài xã hội, và điều tiết nền kinh tế (regualtion), chứ không là công cụ chuyên chính của một giai cấp và không hoàn toàn chỉ huy nền kinh tế (planned economy) như trong chế độ cộng sản kiểu Stalinist.
    Do thừa nhận sự khác biệt và tồn tại của mọi giai cấp, nhà nước của Thuỵ Điển, tuy chịu ảnh hưởng mạnh của giai cấp công nhân, không là công cụ của giai cấp này để trấn ấp giới chủ nhân và các thành phần khác trong xã hội. Nhà nước Thuỵ Điển, cũng như nhà nước của các nước theo chế độ DCXH, được hình thành trên cơ sở đa đảng, thực hiện vai trò trọng tài để hoá giải những đối kháng về quyền lợi của các giai cấp và thành phần trong xã hội, giúp tạo cơ hội và điều kiện để các bên thương lượng, đạt được những thoả hiệp nhằm phục vụ sự tồn tại và lợi ích chung cho cộng đồng quốc gia. Một thí dụ thể hiện rõ nét về vai trò vừa nói của nhà nước Thuỵ Điển là việc thực hiện chế độ mặc cả tiền lương thống nhất và đồng đều cho công nhân trong từng lãnh vực công nghiệp, trên phạm vi toàn quốc (centralized wage bargaining and wage solidarity). Trong chế độ đó công nhân, hầu hết thuộc về các công đoàn tư, thông qua các đại diện công đoàn được bầu ra, cùng ngồi lại với phiá chủ nhân để thương lượng về bảng tiền lương trong ngành công nghiệp của mình. Mục đích của những thương lượng đó là nhằm đạt đến một hệ thống thang lương công bằng, thống nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế của từng thời kỳ, và đôi bên chủ-thợ đều cùng có lợi. Ở đây việc đạt được mục đích không phải là do vai trò quan trọng của nhà nước mà là do ý thức dân chủ xã hội của mọi thành viên trong hai giai cấp chính yếu: chủ nhân và công nhân.
    Điều khiến cho chế độ của Thuỵ Điển trở nên tiêu biểu cho hệ thống DCXH là vai trò Nhà nước Phúc lợi (welfare state) và tỉ trọng lớn của chi tiêu công cộng (public sector) trong tổng GDP của quốc gia (đến gần 50%). Khu vực công, tức nhà nước, thu hút đến 20% tổng lượng lao động . Tuy là một bộ máy khổng lồ, nhà nước Thuỵ Điển không làm công việc vạch kế hoạch kinh tế, nhưng chỉ tập trung thực hiện các chương trình phúc lợi phổ cập cho hầu hết mọi công dân, từ lúc sinh ra cho đến lúc lià đời, với mức độ hết sức rộng rãi. Chẳng hạn như trợ cấp thất nghiệp ở Thuỵ Điển là đến 85% của mức lương và với thời hạn thụ hưởng tới 60 tuần lễ, so với ở Mỹ là 60% mức lương với thời hạn chỉ 26 tuần! Ở Denmark, một quốc gia theo chế độ DCXH khác, thì mức trợ cấp thất nghiệp và thời hạn còn cao hơn nhiều: 80% mức lương và 260 tuần! Thai phụ ở Thuỵ Điển được nghỉ phép 9 tháng với mức trợ cấp bằng 75% tiển lương; trong khi ở Mỹ chỉ được nghỉ 12 tuần không lương. Người về hưu ở Thuỵ Điển được hưởng tiền hưu bằng 61.5% tiền lương của mình; trong khi đó chính phủ Liên Bang Mỹ chỉ trả cho người về hưu bằng 38.7% mức lương!
    Nhìn chung thì Thuỵ Điển để ra đến 29% GDP cho chi tiêu phúc lợi; trong khi Mỹ chỉ bỏ ra chừng 16% cho những chi tiêu đó. Điều đáng lưu ý ở đây là mức đánh thuế lợi tức ở Thuỵ Điển lại cao hơn ở Mỹ rất nhiều. Nói cách khác vấn đề chính yếu ở đây không phải là mức chi tiêu nhiều hay ít của mỗi chính quyền cho các chương trình phúc lợi xã hội, mà là ở phương cách tổ chức để tài trợ cho các chương trình đó. Ở Mỹ, chính quyền can thiệp ít và để cho cơ cấu thị trường chi phối các lãnh vực phúc lợi của công dân: giữ trẻ, nghỉ hộ sản, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế, tiền về hưu, v.v...Trong khi đó ở Thuỵ Điển và các nước DCXH khác, chính quyền can thiệp sâu hơn, thông qua mức đánh thuế cao, vào các lãnh vực đó của công dân. Sự khác biệt đó giữa hai quốc gia Mỹ-Thuỵ Điển, trong vai trò của nhà nước đối với vấn đề phúc lợi xã hội, có nguồn gốc trong sự khác nhau về quan điểm đối với vai trò của thị trường và với mối tương quan cá nhân-xã hội.
    Vắn tắt thì người Mỹ đề cao vai trò của thị trường, đồng nhất thị trường với chế độ tư bản. Người Mỹ cũng đồng thời đề cao, có vẻ hơi quá mức, quyền tự do cá nhân. Trong khi đó người Thuỵ Điển cho rằng thị trường chỉ có vai trò giới hạn, họ ngay cả còn cho rằng có sự khác nhau giữa thị trường với chế độ tư bản. Họ viết: " The market economy is a system of distribution where goods and services change owners with money as the medium of exchange. Capitalism is a power system with a return on capital as the dominant norm." ( Kinh tế thị trường là một hệ thống phân phối trong đó hàng hoá và dịch vụ sang tay thông qua phương tiện trung gian trao đổi là tiền tệ. Còn chủ nghĩa tư bản là một hệ thống quyền lực theo đó việc thu lợi nhuận từ vốn bỏ ra là chuẩn mực thống soái.) Sự phân biệt như vậy dẫn đến hệ quả là người Thuỵ Điển, trong khi xử dụng cơ cấu kinh tế thị trường, không quên lưu tâm đến việc hạn chế mặt tiêu cực của người anh em song sinh của nó là chủ nghĩa tư bản. Nói cách khác, người Thuỵ Điển đã chọn một giải pháp dung hoà giữa hai khuynh hướng đối nghịch: Marxist và Capitalist, để giải đáp cho bài toán kinh tế-chính trị của đất nước mình.
    Giải pháp đó phần nào cũng bắt nguồn từ quan điểm về mối tương quan cá nhân-xã hội. Trong khi người Mỹ đề cao một cách thái quá quyền của cá nhân, từ đó hạ thấp, hay tìm cách giới hạn đến mức tối thiểu quyền lực của nhà nước, thì người Thuỵ Điển lại nghĩ khác. Họ cho rằng cần phải có một sự cân bằng giữa cá nhân và xã hội, vì đó là một quan hệ hỗ tương, vì con người là một " social creature" (tạo vật xã hội), phát triển và lớn lên trong sự hợp tác với người khác. Cũng từ đó họ cho rằng lợi ích chung, hay lợi ích cộng đồng, đòi hỏi sự đoàn kết giữa các cá nhân với nhau mà không loại trừ sự phát triển và thành công của cá nhân. Người Thuỵ Điển, nhất là những đảng viên của đảng DCXH, khẳng định lý tưởng của họ là một nền dân chủ cho toàn xã hội xét như một tổng thể, không có sự phân biệt giai cấp, phái tính hay chủng tộc. Quan điểm như vậy, người Thuỵ Điển nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà nước đối với xã hội, đối với việc điều hoà quyền lợi của các giai cấp, tái phân phối lợi tức thông qua chính sách thuế và phúc lợi , và nhất là trong việc giảm thiểu sự bất bình đẳng kinh tế giữa các công dân tạo ra do cơ cấu thị trường. Về mặt giảm sự bất bình đẳng kinh tế (inequality), chỉ số Gini co-efficient Index cho thấy rằng Thuỵ Điển đã tỏ ra tốt hơn so với Mỹ và với nhiều quốc gia khác trên thế giới: Mỹ là 45, còn Thuỵ Điển là 23. (Chỉ số Gini tính từ 1 đến 100, chỉ số càng nhỏ thì mức bất bình đằng càng thấp và ngược lại). Mức bất bình đẳng của Mỹ là 45 gần ngang với Trung Quốc, Nga và nhiều nước kém phát triển khác, và cao nhất trong khối OECD) .

    Về mặt lịch sử, Thụy Điển vốn là một vương quốc, bước vào giai đoạn công nghiệp hoá chậm so với các quốc gia Âu Châu khác, bắt đầu từ những năm 1880s, nhưng đã tiến rất nhanh. Chỉ trong khoảng từ 1870-1914 lượng sản phẩm chế tạo tăng hơn 20 lần và lực lượng lao động công nghiệp tăng gấp 4 lần; trong khi đó lượng nông dân giảm từ 3/4 cuống còn 1/2 và từ đó giảm nhanh hơn. Cùng với sự công nghiệp hoá nhanh là sự phát triển của giai cấp công nhân; có thể nói giai cấp này phát triển mạnh ,nhanh, và có tổ chức nhất ở Âu Châu vào thời đó. Song song theo đó là sự thay đổi chính trị, chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang quân chủ lập hiến với chế độ nghị viện (parliamentary system) vào cuối thập niên 1910s.
    Trên phương diện chính trị, Thuỵ Điển được ông Arend Lijhart, một nhà chính trị học nỗi tiếng, xem là tiêu biểu của nền "Consensual Democracy" (Dân chủ Đồng thuận) trong đó các định chế chính trị đề cao sự bao dung, thương lượng và thoả hiệp (inclusiveness, bargain, and compromise) .Thuỵ Điển chủ trương rằng việc cai trị của nhà nước đặt trên nguyên tắc chỉa sẻ quyền lực (governing requires sharing power), và xem chính quyền liên hiệp như là một chuẩn mực sinh hoạt chính trị bình thường, ở đó ngay cả một chính đảng mạnh nhất, chiếm được đa số trong nghị trường vẫn phải nhận được sự ủng hộ của các chính đảng, các lực lượng khác trong xã hội, để thực thi chính sách của mình. Sự đồng thuận thể hiện ngay trong quá trình vạch chính sách, trong đó mọi đảng phái, mọi tổ chức xã hội đại diện các khuynh hướng khác nhau được mời gọi tham gia, đóng góp ý kiến vào trong mọi giai đoạn của quá trình hình thành các đạo luật và chính sách của quốc gia, từ dự thảo cho đến lúc ban hành và giai đoạn thử thách trên thực tế.
    Để thực hiện sự tham gia chính trị rộng rãi vừa nói, Thuỵ Điển áp dụng nguyên tắc tuyển cử đại diện tỉ lệ ( proportional representation electoral rules), theo đó các chính đảng chiếm số ghế tỉ lệ với số phiếu dành cho mình. (Nguyên tắc tuyển cử khác là nguyên tắc đa số (Plurality): ứng viên có phiếu bầu nhiều nhất chiếm ghế). Ở Thuỵ Điển, những đảng phái nhỏ, dù chỉ thu được một lượng cử tri khiêm tốn và chỉ đại diện cho quan điểm của một thiểu số, nếu chiếm được tối thiểu (threshold) là 4% tổng số số phiếu hợp lệ toàn quốc vẫn chiếm được một số ghế tương xứng trong quốc hội (Riksdag). Số ghế trong quốc hội như vậy được phân bổ cho các chính đảng tuỳ theo tỉ lệ phiếu bầu cho mỗi đảng. Công dân Thuỵ Điển, khi đi bầu, có thể chọn bầu chung cho một đảng, hay bầu đích danh cho từng ứng viên của mỗi đảng.
    Chính đảng mạnh nhất và có lịch sử lâu dài nhất của Thuỵ Điển là đảng Dân Chủ Xã Hội (The Swedish Social Democratic Party, SAP), lập ra năm 1889. Trong những thập niên đầu, đảng này tỏ ra có khuynh hướng Marxist, và không gây được ảnh hưởng chính trị lớn. Mải đến cuối thập niên 1910s SAP xa rời dần quan điểm Marxist-Leninist, và bắt đầu có ảnh hưởng mạnh hơn, rồi về sau kể từ sau 1945 cho đến 1976, suốt một thời gia khá dài, SAP trở nên chính đảng thường xuyên có đa số đáng kể ở quốc hội, là đảng nòng cốt trong các liên minh thành lập chính phủ. Vắn tắt thì SAP không phải là một đảng cách mạng Marxist, mà chỉ là một chính đảng nghị trường. Đến đầu thập niên 1970s, do ảnh hưởng cuả cuộc khủng hoảng dầu hoả thế giới, Thuỵ Điển hứng chịu mức độ lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp cao, các chính sách phúc lợi nhà nước của SAP tỏ ra bất lợi cho xã hội, uy tín của Đảng sa sút, mất sự ủng hộ của cử tri và cuối cùng bị loại trong cuộc tuyển cử năm 1976. Mải đến năm 1982 SAP, với những chủ trương mới về phúc lợi nhà nước, mới phục hồi được vai trò thống lãnh trước kia của mình. Sự thăng trầm của SAP là kinh nghiệm đáng chú ý về tính uyển chuyển và năng động của một chính đảng nghị trường trong chế độ dân chủ, đồng thời cũng là thước đo tình hình sinh hoạt chính trị của Thụy Điển, cả về đối nội lẫn tương quan với bên ngoài.
    Sau cùng, sự thành công của Thuỵ Điển với chế độ DCXH, bắt nguồn sâu ở các đặc điểm văn hoá của dân tộc Thuỵ Điển. Nhiều tác giả cho rằng văn hoá chính trị (political culture) của nước này là một hỗn hợp đầy mâu thuẩn, trong đó chủ nghĩa cá nhân và sự tôn trọng nhà nước (individualism and statism) đã không những không loại trừ mà còn bổ sung cho nhau. Trước khi công nghiệp ra đời và phát triển mạnh, nông dân chiếm tuyệt đại đa số. Nhưng khác với nông dân nhiều quốc gia khác, như Nga chẳng hạn, đa số nông dân Thụy Điển trong quá khứ, do đất rộng, người ít, không hề bị nạn nông nô và là những nông dân độc lập. Điều kiện đó khiến nông dân Thuỵ Điển dễ có truyền thống thiên về cá nhân chủ nghĩa. Người Thuỵ Điển hiện đại, do đó xem chủ nghĩa cá nhân, dân chủ và tự do là những giá trị bẩm sinh của con người. Nhưng đồng thời họ cũng đề cao quan hệ xã hội và tin rằng nhà nước là cơ cấu cần thiết để duy trì quan hệ đó như môi trường giúp bảo vệ và phát triển cho cá nhân. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa người Thụy Điển và người Mỹ; phần đông người Mỹ luôn nhìn nhà nước với ánh mắt hoài nghi và tìm cách hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào đời sống công dân. Đặc điểm khác là người Thuỵ Điển trọng sự bình đẳng; chẳng hạn họ thấy khó chấp nhận trước mức lương chênh lệch quá xa giữa người làm công ăn lương với nhau. Nhiều thăm dò cho thấy rằng người Thuỵ Điển chỉ chấp nhận mức chênh lệch gấp hai lần rưỡi giữa mức lương cao nhất và mức thấp nhất; trong khi đó người Mỹ và nhiều người Âu Châu khác sẳn sàng chấp nhận mức chênh lệch gấp 5, 7 lần như vậy, và xem mức chênh lệch lớn của lương bỗng là điều bình thường.
    Ngoài ra, người Thụy Điển trọng óc thực dụng và sự đồng thuận. Đặc điểm văn hoá này khiến người Thuỵ Điển ít có khuynh hướng cuồng tín ý thức hệ, tỏ ra cởi mở, bao dung và sẳn sàng thỏa hiệp cho mục tiêu chung. Giới quan sát quốc tế cũng nhận ra rằng người Thụy Điển đối xử với nhau với mức tin cậy rất cao, có người gọi Thuỵ Điển là một " high-trust society" trong đó công dân tin tưởng lẫn nhau và tin tưởng vào nhà nước của mình; không tìm cách, chẳng hạn khai man lợi tức để hưởng phúc lợi hoặc trốn thuế. Đặc điểm nữa là người Thuỵ Điển rất quảng giao, có khuynh hướng giao tiếp mạnh. Một người Thuỵ Điển trung bình tham gia ít nhất là vài ba hội đoàn xã hội, nhất là vào các tổ chức thiện nguyện (Voluntary organizations). Số liệu cho thấy là mạng lưới thiện nguyện ở Thụy Điển là lớn và rộng khắp nhất so với nhiều quốc gia Tây Phương khác. Sự tin cậy giữa các thành viên trong cộng đồng dân tộc dành cho nhau và mối quan hệ xã hội rộng rãi của các công dân là điều mà các nhà chính trị học ngày nay xem là Social Captial (Vốn liếng xã hội); một yếu tố văn hoá nòng cốt giúp định hình những nét đặc trưng và tạo ra sức sống cho nền dân chủ của một quốc gia. Sự thất bại, hoặc trì trệ của nền dân chủ tại nhiều quốc gia Á-Phi và Mỹ Latin chính là do sự thiếu vắng yếu tố quan trọng này.
    Tóm lại, đúng là có vài mô hình Dân Chủ Xã Hội trên thế giới, và một trong số đó là Thuỵ Điển, một quốc gia tuy dân số ít, nhưng đã trở nên thịnh vượng trong suốt một thời gian dài, đáng cho người Việt chúng ta tìm hiểu và suy ngẫm hầu rút ra cho mình những bài học bổ ích trong sự nghiệp kiến thiết đất nước. Điều dễ nhận ra trước nhất là dường như thế hệ những nhà lãnh đạo VN của những thập niên 1930s-40s đã không hề chú ý gì đến mô hình DCXH của các quốc gia Scandinavian, mà chỉ vội vàng vồ vập lấy chủ nghĩa Marxism-Leninism như là kinh thánh cho mình. Quá vội vàng đến độ họ không kịp nhìn ra khắp thế giới, để nhận ra rằng ngay những dân tộc ở gần cái nôi của chủ nghĩa ấy như người Thuỵ Điển, và nhiều dân tộc Âu Châu khác, cũng đã không đánh giá họ thuyết Marxism cao như người Việt chúng ta, đã không dễ dàng để cho học thuyết ấy mê hoặc đến độ trở nên mù quáng và cuồng tín. Thuỵ Điển, và nhiều quốc gia khác, đã không cần phải truất hữu giai cấp hữu sản bằng bạo lực, nông dân không cần phải đấu tố địa chủ, cũng không cần phải lập nền chuyên chính vô sản, và cũng không cần phải công hữu tư liệu sản xuất, nhưng vẫn bảo vệ được quyền lợi của giai cấp công nông và nâng cao mức sống của họ, vẫn có công nghiệp phát triễn cao, vẫn thực thi được công bằng xã hội, và đưa đất nước đi lên. Họ đã đạt được những thành tựu như vậy mà vẫn giữ được sự đoàn kết dân tộc và duy trì được truyền thống riêng.
    Trình bày như trên không có nghĩa rằng Thuỵ Điển là một mô hình tuyệt hảo. Trái lại khi tìm hiểu về Thụy Điển nói riêng và các nước vùng Scandinavian nói chung, thiển nghĩ chúng ta cũng nên đặt mô hình ấy vào trong bức tranh chung của thế giới để tiện xác định được vị trí của nó giữa nhiều hình thái chính trị khác nhau, đồng thời nhận ra được tính cách tương đối của mô hình. Hiện nay mô hình DCXH của Thuỵ Điển, và của các nước vùng Scandinavian, được một số nhà chính trị học xếp vào nhóm các quốc gia phát triển và là xã hội tốt (good societies), căn cứ vào ít nhất 4 yếu tố: An toàn (safety), Vật chất đầy đủ (Physical needs), Giáo dục tốt (well-informed), và hưởng đầy đủ các Nhân quyền và Dân quyền căn bản (rights). Viết tắt của bốn yếu tố đó theo Anh ngữ là SPIR. Nhóm các quốc gia phát triển và xã hội tốt này lại được phân ra ba nhóm nhỏ. Thụy Điển và các nước Scandinavian thuộc về nhóm DCXH. Nhóm thứ hai được gọi là nhóm Extreme Market Domocracy gồm Mỹ, Canada và Ireland. Nhóm thứ ba là nhóm Christian Democracy gồm Áo, Bỉ, Hoà Lan và Đức. Sự phân loại như vậy cho thấy rằng việc có một định nghĩa chung, được mọi người cùng thừa nhận, về dân chủ không phải là điều đơn giản. Việc chọn lưạ mô hình chính trị thích hợp lại càng phức tạp trăm lần.
    Mục đích của bài viết, do đó, chỉ là cung cấp chút ít thông tin và gợi mở sự tìm tòi, ngoài ra không gì khác hơn.

    TRƯƠNG Đ. TRUNG.

    Eric Einhorn and John Logue, " Lesson from Scandinavia", Political Science Quarterly (Spring 2010), Vol. 125, No. 1, p.9.
    http://www.socialdemokraterna.se/upload/Internationellt/Other%20Languages/TheSwedishSocialDemocraticParty.pdf.
    http://www.socialdemokraterna.se/upload/Internationellt/Other%20Languages/TheSwedishSocialDemocraticParty.pdf.
    https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2172rank.html
    Arend Lijhard, Pattern of Democracy.
    http://www.val.se/pdf/electionsinsweden_webb.pdf
    Bo Rothstein, Social Capital in the Social Democratic State.
    Alan Draper and Ansil Ramsay, The Good Society.

    Bác visiteur định nghĩa "Liên đới xã hội", thì tớ hiểu đó là định nghĩa của bác, tớ thông cảm được. Nhưng ngài lãnh đạo Nguyễn gia Kiểng, tuyên bố này kia mà chẳng định nghĩa cái gì cả, làm sao tớ biết ông ấy nói cái gì? Bác có chắc ông ấy có cùng định nghĩa như bác không? Bác có chắc các công ty chấp nhận cụ thể mức thuế 30 hay 35% không, cùng với các liên đới xã hội theo bác định nghĩa? Bác có ví dụ cụ thể công ty nào ở nước nào chịu như vậy? Rồi chính phủ có bù/trợ cấp bao nhiêu tiền để có "Liên đới xã hội" như bác định nghĩa?

    Tớ mới hỏi, phê bình vài câu mà có người đùng đùng nổi cọc lên rồi, không phải tớ nói là bác đâu. Thế mới là "dân chủ" kiểu tập hợp đa nguyên; flipflop từ đầu này qua đầu kia thế mà coi đó là lý luận lãnh đạo. Hô khẩu hiệu thì có, chủ trương cụ thể thì ba phải. Việt tân còn lẳng lặng gửi người về, tập hợp đa nguyên thì sao?

    Visiteur viết:
    Bác Nguyễn Phú Trọng,

    Liên đới xã hội bằng những luật lệ gò bó cho các xí nghiệp có thể liệt kê ra vài ví dụ như khi một công ty muốn được hưởng một số quyền lợi của chính phủ thì công ty này phải tuân theo một số điều kiện như thu nhận nhân công nhân địa phương theo tỷ lệ ấn định, cam kết không đóng cửa công ty trong vòng bao nhiêu năm, bồi thường công nhân khi đóng cửa công ty, trả lương không thể dưới mức lương tối thiểu, ...
    Bù lại các công ty này được hưởng một số quyền lợi như ưu đãi thuế và thuê mặt bằng giá rẻ trong vòng ba năm

    Ở Đức dường như không ấn định mức lương tối thiểu. Đó có thể là một trong những lý do tỷ lệ thất nghiệp ở Đức thấp vì lương thấp

    Nguyễn Phú Trọng viết:
    >>> Về lâu về dài, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên quan niệm, như đã trình bày trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 của chúng tôi, liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu, không kém phát triển kinh tế, nhưng được thể hiện qua thuế. Nhà nước thu thuế và dùng thuế để thực hiện liên đới xã hội. Nếu nhu cầu cao thì mức thuế sẽ cao hơn, và ngược lại. Nhưng chúng tôi dứt khoát không chủ trương thực hiện liên đới xã hội bằng những luật lệ gò bó cho các xí nghiệp như mô hình dân chủ xã hội Tây Âu. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng ngay cả nếu chúng ta có đạt mức thuế tương đối cao thì Việt Nam vẫn còn rất hấp dẫn với đầu tư nước ngoài trong nhiều thập niên. Các công ty sợ tham nhũng và thủ tục nặng nề hơn là sợ mức thuế 35% thay vì 30%.

    Trong chỉ một đoạn như trên, tay Nguyễn Gia Kiểng này tỏ ra:

    (1) lộn xộn giữa dân chủ như là một thể chế chính trị và (versus) chính sách/chủ trương về xã hội, kinh tế và cả thuế má nữa.

    (2) khi thì tỏ ra "liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu", "nhưng được thể hiện qua thuế", "mức thuế 35% thay vì 30% ...", khi thì muốn "không kém phát triển kinh tế," ....

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nếu ngài đánh thuế cao theo kiểu dùng tiền người khác, OPM (Other People's Money) - chữ của Alan Phan - thì bọn kinh doanh đầu tư nó chạy sang nước khác, khi đó ngài lấy thu nhập ở đâu mà chi ? Hay ngài cho in tiền thả dàn theo kiểu "dân chủ xã hội" Tây Âu (Hy lạp, Spain, Pháp ...) mà ngài đang phê phán?

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng có tật thường phát biểu nhiều và không có trọng tâm; nhưng khi nói vô chính sách cụ thể và nhìn kỹ lại thì là đó nói nước đôi, câu trước đá câu sau, câu này móc câu kia một cách vô tư. Tựu trung lại thì có vẻ sặc mùi "liên đới xã hội", đánh thuế vô tư, dùng OPM (theo chữ của Alan Phan), nhưng lại muốn theo "tổ chức xã hội" kiểu Mỹ. Lối nói này có lợi chính trị là lật đi lật lại như thế nào cũng được, nhưng cơ sở của nó là ba phải.

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nói theo kiểu Mỹ, please take a stand!

    Alan Phan thì rõ ràng theo phe bảo thủ kiểu Mỹ, người ta có thể trách ổng về chính sách cánh hữu (right wing) pro-business, nhưng không thể trách ổng về khía cạnh minh bạch. Còn ngài Nguyễn Gia Kiểng thì chẳng biết ngài đang về cánh nào, nhảy lung tung không chủ trương rõ ràng kiểu lý thuyết gia.

    Lần nào 'cụ' Kiểng cũng đưọc chăm sóc chu đáo, rất chu đáo! Hồi năm 2005 trong cùng thời gian với cuộc phỏng vấn này, giới ''cực đoan'' cờ vàng đã luôn chăm sóc mỗi bài viết của ông Nguyễn Gia Kiểng với những lời lẽ mạt sát hơn nhiều.
    Bây giờ cộng thêm với đám dư luận viên núp ẩn với những giọng điệu ''phân tích'' và ''chuyên gia'' thì rõ là quá hổn loạn hơn nhiều (hay nếu lạc quan tếu thì thấy ngay có phần nào tiến bộ hơn nhiều trong cách ''chăm sóc''.
    Ông Nguyễn Phú Trọng nói theo kiểu Mỹ:
    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nói theo kiểu Mỹ, please take a stand!
    Quá buồn cười vì nếu thật sự làm việc theo kiểu Mỹ/phươg Tây thì có lẽ nên tìm hiểu trước tiên dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 của THDCĐN để coi và hiểu rõ những lập trường minh bạch (hay không) của tổ chức này.
    Qua lời văn của đồng chí NPT ta thấy ngay nó rất có mùi ''nhân sĩ'' sặc Việt Nam. VÀ có lẽ ông NPT vẫn chưa phân biệt được một bài văn viết và một cuộc phỏng vấn dựa trên những lời phát biểu...Luận điệu ''đánh thuê cao'' là làm bỏ chạy những nhà tư sản cho thấy ông này không quan tâm gì tới tư tưởng liên đới xã hội hay có một ý thức về tầm nhìn của những nhà kinh doanh lớn.
    Khổ thân cho những bạn đọc ''lính mới'' đang tìm hiểu về những nhà dân chủ có uy tín lãnh đạo!

    DanGong viết:
    Cụ Kiểng nếu không biết thì đừng nên nói bậy. Chỉ làm mất giá trị của những lý luận của mình. Bác nào quen nhờ nhắn giùm. Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức vào tháng 7 năm 2013 là 6,8%, y hệt như tỷ lệ này vào tháng 7 năm 2012. Trong quãng thời gian này tỷ lệ thất nghiệp chênh lệch khoáng 1% tuỳ theo mùa. Thấp nhất là mùa thu với tỷ lệ 6,5%, mùa đông thì vì thời tiết lạnh xấu, dân làm việc trong ngành xây dựng thường bị cho thất nghiệp nên tỷ lệ tăng lên, cao nhất là 7,4%.

    Bạn Dangong, cụ Nguyễn Gia Kiểng không lầm đâu. Vì bài phỏng vấn này diễn ra vào tháng 11/2005. Các con số thất nghiệp mà bạn đưa ra là của năm 2012 và 2013.

    Visiteur viết:

    Ở Đức dường như không ấn định mức lương tối thiểu. Đó có thể là một trong những lý do tỷ lệ thất nghiệp ở Đức thấp vì lương thấp

    Bảng mức lương tối thiểu ở Đức, tháng 5.2013.

    https://www.destatis.de/DE/ZahlenFakten/GesamtwirtschaftUmwelt/VerdiensteArbeitskosten/Mindestloehne/Tabellen/MindestlohnDeutschland.html.

    Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức, nếu có giảm so với các năm trước là do nhiều nguyên nhân. Một trong các nguyên nhân là: Số người thất nghiệp đến tuổi về hưu thì sẽ chuyển qua sở hưu trí, lãnh lương hưu, hoặc lãnh trợ cấp xã hội, chứ không lãnh trợ cấp thất nghiệp. Họ sẽ không nằm trong danh sách những người tìm việc làm của sở lao động.

    Nguyễn Jung

    Cụ Kiểng nếu không biết thì đừng nên nói bậy. Chỉ làm mất giá trị của những lý luận của mình. Bác nào quen nhờ nhắn giùm. Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức vào tháng 7 năm 2013 là 6,8%, y hệt như tỷ lệ này vào tháng 7 năm 2012. Trong quãng thời gian này tỷ lệ thất nghiệp chênh lệch khoáng 1% tuỳ theo mùa. Thấp nhất là mùa thu với tỷ lệ 6,5%, mùa đông thì vì thời tiết lạnh xấu, dân làm việc trong ngành xây dựng thường bị cho thất nghiệp nên tỷ lệ tăng lên, cao nhất là 7,4%.

    Bác Nguyễn Phú Trọng,

    Liên đới xã hội bằng những luật lệ gò bó cho các xí nghiệp có thể liệt kê ra vài ví dụ như khi một công ty muốn được hưởng một số quyền lợi của chính phủ thì công ty này phải tuân theo một số điều kiện như thu nhận nhân công nhân địa phương theo tỷ lệ ấn định, cam kết không đóng cửa công ty trong vòng bao nhiêu năm, bồi thường công nhân khi đóng cửa công ty, trả lương không thể dưới mức lương tối thiểu, ...
    Bù lại các công ty này được hưởng một số quyền lợi như ưu đãi thuế và thuê mặt bằng giá rẻ trong vòng ba năm

    Ở Đức dường như không ấn định mức lương tối thiểu. Đó có thể là một trong những lý do tỷ lệ thất nghiệp ở Đức thấp vì lương thấp

    Nguyễn Phú Trọng viết:
    >>> Về lâu về dài, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên quan niệm, như đã trình bày trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 của chúng tôi, liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu, không kém phát triển kinh tế, nhưng được thể hiện qua thuế. Nhà nước thu thuế và dùng thuế để thực hiện liên đới xã hội. Nếu nhu cầu cao thì mức thuế sẽ cao hơn, và ngược lại. Nhưng chúng tôi dứt khoát không chủ trương thực hiện liên đới xã hội bằng những luật lệ gò bó cho các xí nghiệp như mô hình dân chủ xã hội Tây Âu. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng ngay cả nếu chúng ta có đạt mức thuế tương đối cao thì Việt Nam vẫn còn rất hấp dẫn với đầu tư nước ngoài trong nhiều thập niên. Các công ty sợ tham nhũng và thủ tục nặng nề hơn là sợ mức thuế 35% thay vì 30%.

    Trong chỉ một đoạn như trên, tay Nguyễn Gia Kiểng này tỏ ra:

    (1) lộn xộn giữa dân chủ như là một thể chế chính trị và (versus) chính sách/chủ trương về xã hội, kinh tế và cả thuế má nữa.

    (2) khi thì tỏ ra "liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu", "nhưng được thể hiện qua thuế", "mức thuế 35% thay vì 30% ...", khi thì muốn "không kém phát triển kinh tế," ....

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nếu ngài đánh thuế cao theo kiểu dùng tiền người khác, OPM (Other People's Money) - chữ của Alan Phan - thì bọn kinh doanh đầu tư nó chạy sang nước khác, khi đó ngài lấy thu nhập ở đâu mà chi ? Hay ngài cho in tiền thả dàn theo kiểu "dân chủ xã hội" Tây Âu (Hy lạp, Spain, Pháp ...) mà ngài đang phê phán?

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng có tật thường phát biểu nhiều và không có trọng tâm; nhưng khi nói vô chính sách cụ thể và nhìn kỹ lại thì là đó nói nước đôi, câu trước đá câu sau, câu này móc câu kia một cách vô tư. Tựu trung lại thì có vẻ sặc mùi "liên đới xã hội", đánh thuế vô tư, dùng OPM (theo chữ của Alan Phan), nhưng lại muốn theo "tổ chức xã hội" kiểu Mỹ. Lối nói này có lợi chính trị là lật đi lật lại như thế nào cũng được, nhưng cơ sở của nó là ba phải.

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nói theo kiểu Mỹ, please take a stand!

    Alan Phan thì rõ ràng theo phe bảo thủ kiểu Mỹ, người ta có thể trách ổng về chính sách cánh hữu (right wing) pro-business, nhưng không thể trách ổng về khía cạnh minh bạch. Còn ngài Nguyễn Gia Kiểng thì chẳng biết ngài đang về cánh nào, nhảy lung tung không chủ trương rõ ràng kiểu lý thuyết gia.

    >>> Về lâu về dài, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên quan niệm, như đã trình bày trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 của chúng tôi, liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu, không kém phát triển kinh tế, nhưng được thể hiện qua thuế. Nhà nước thu thuế và dùng thuế để thực hiện liên đới xã hội. Nếu nhu cầu cao thì mức thuế sẽ cao hơn, và ngược lại. Nhưng chúng tôi dứt khoát không chủ trương thực hiện liên đới xã hội bằng những luật lệ gò bó cho các xí nghiệp như mô hình dân chủ xã hội Tây Âu. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng ngay cả nếu chúng ta có đạt mức thuế tương đối cao thì Việt Nam vẫn còn rất hấp dẫn với đầu tư nước ngoài trong nhiều thập niên. Các công ty sợ tham nhũng và thủ tục nặng nề hơn là sợ mức thuế 35% thay vì 30%.

    Trong chỉ một đoạn như trên, tay Nguyễn Gia Kiểng này tỏ ra:

    (1) lộn xộn giữa dân chủ như là một thể chế chính trị và (versus) chính sách/chủ trương về xã hội, kinh tế và cả thuế má nữa.

    (2) khi thì tỏ ra "liên đới xã hội là ưu tư hàng đầu", "nhưng được thể hiện qua thuế", "mức thuế 35% thay vì 30% ...", khi thì muốn "không kém phát triển kinh tế," ....

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nếu ngài đánh thuế cao theo kiểu dùng tiền người khác, OPM (Other People's Money) - chữ của Alan Phan - thì bọn kinh doanh đầu tư nó chạy sang nước khác, khi đó ngài lấy thu nhập ở đâu mà chi ? Hay ngài cho in tiền thả dàn theo kiểu "dân chủ xã hội" Tây Âu (Hy lạp, Spain, Pháp ...) mà ngài đang phê phán?

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng có tật thường phát biểu nhiều và không có trọng tâm; nhưng khi nói vô chính sách cụ thể và nhìn kỹ lại thì là đó nói nước đôi, câu trước đá câu sau, câu này móc câu kia một cách vô tư. Tựu trung lại thì có vẻ sặc mùi "liên đới xã hội", đánh thuế vô tư, dùng OPM (theo chữ của Alan Phan), nhưng lại muốn theo "tổ chức xã hội" kiểu Mỹ. Lối nói này có lợi chính trị là lật đi lật lại như thế nào cũng được, nhưng cơ sở của nó là ba phải.

    Ngài Nguyễn Gia Kiểng ơi, nói theo kiểu Mỹ, please take a stand!

    Alan Phan thì rõ ràng theo phe bảo thủ kiểu Mỹ, người ta có thể trách ổng về chính sách cánh hữu (right wing) pro-business, nhưng không thể trách ổng về khía cạnh minh bạch. Còn ngài Nguyễn Gia Kiểng thì chẳng biết ngài đang về cánh nào, nhảy lung tung không chủ trương rõ ràng kiểu lý thuyết gia.