LS Ngô Ngọc Trai - Lợi ích nhóm và doanh nghiệp nhà nước

  • Bởi Khách
    04/08/2013
    2 phản hồi

    LS Ngô Ngọc Trai, gửi đến BBC từ Việt Nam

    Sự việc tổng giám đốc ngân hàng Vietcombank được bổ nhiệm làm phó thống đốc ngân hàng nhà nước cho thấy sự gần gũi tương đồng về trình độ, năng lực và nhận thức giữa cán bộ chính phủ và lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước.

    Khi lãnh đạo doanh nghiệp trở thành cán bộ chính phủ tham gia vào hoạt động chính trị, bằng cách đó những người này có điều kiện ngăn chặn việc phát hiện xử lý các sai phạm trong quá trình điều hành doanh nghiệp.

    Đặc biệt khi các chủ thể nắm quyền về kinh tế và chính trị tương hợp cả về trách nhiệm lẫn quyền lợi thì xu hướng sẽ là liên kết tạo thành lợi ích nhóm.

    Thẩm quyền Quốc hội

    Nhiều người mặc định điều hiển nhiên chính phủ có chức năng quản lý điều hành nền kinh tế và thực tế chính phủ đã nắm giữ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như một công cụ hùng mạnh để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội.

    Nhưng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động dưới quyền chính phủ lại xảy ra nhiều sai phạm và hiệu quả kinh doanh thấp, theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư các doanh nghiệp nhà nước chiếm 79% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 70% nguồn vốn ODA, nhưng chỉ đóng góp 37,38% GDP.

    Tại sao các đơn vị này chiếm phần lớn nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội mà hiệu quả đem lại ít? Điều này có liên đới gì tới việc chính phủ chứ không phải cơ quan nào khác có quyền nắm giữ các đơn vị này? Xét rộng hơn, nền kinh tế Việt Nam thuộc loại yếu kém hàng thấp nhất thế giới, điều này có liên đới gì tới việc chính phủ có thẩm quyền quản lý điều hành nền kinh tế?

    Khác với nhiều nước, ở Việt Nam có đặc thù mảng phần kinh tế nhà nước trong tổng nền kinh tế quốc dân rất lớn, đây là tham số đặc biệt quan trọng khi lập phương trình giải các bài toán kinh tế xã hội.

    Mặt khác, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định thẩm quyền của Quốc hội là quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước, quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách nhà nước.

    Vậy lâu nay Quốc hội có nắm được tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước không? Quốc hội có khả năng tác động tới quỹ đạo tăng giảm tài sản của nó không?

    Nếu Quốc hội không có khả năng quyết định đối với tài chính doanh nghiệp nhà nước thì làm sao quốc hội có thể quyết định chính sách về tài chính tiền tệ quốc gia, quyết định về sử dụng và phân bổ ngân sách nhà nước?

    Rối mù và thua lỗ

    Lâu nay kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước do lãnh đạo đơn vị và cơ quan quản lý trực tiếp là chính phủ quyết định. Các đơn vị này kinh doanh dàn trải, đầu tư chéo lẫn nhau, mở rộng thành phần sở hữu, lập ra nhiều công ty con dẫn đến có rất nhiều kế hoạch sản xuất kinh doanh trong một đơn vị, tạo ra sự rối rắm bùng nhùng rất khó kiểm soát quản lý, tạo môi trường tốt cho tham nhũng thất thoát.


    Cựu lãnh đạo Vinashin ra tòa

    Tại sao chính phủ lại buông lỏng quản lý để xảy ra tình trạng trên, có hay không động cơ vụ lợi trong việc buông lỏng này, có hay không sự cấu kết của lợi ích nhóm?

    Sự rối rắm được tạo ra làm nản lòng những ai mong muốn có sự rõ ràng minh bạch trong quản lý sử dụng tài sản nhà nước. Nó cũng là lý do tốt để chậm trễ trong kiểm đếm báo cáo và tách rời kế hoạch sử dụng tài sản nhà nước của các đơn vị này với chính sách tài chính tiền tệ chung của đất nước.

    Trách nhiệm của Quốc hội trước nhân dân như thế nào trong các vấn đề đó?

    Không biết hoàn thành từ bao giờ nhưng tháng 7 năm 2013 cơ quan kiểm toán nhà nước mới công bố kết quả hoạt động kiểm toán năm 2012 cho năm kinh doanh 2011, như thế độ trễ của việc nắm bắt thông tin xác thực từ 1 đến 2 năm. Phải mất ngần ấy thời gian Quốc hội mới nắm được thực chất tình hình tài chính của các doanh nghiệp, vậy khi chưa có số liệu rõ ràng thì quốc hội làm như thế nào trong việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia?

    Phải chăng chính sách ban hành vẫn đảm bảo chất lượng khi sử dụng số liệu không đủ độ tin cậy? Hoặc có thể ban hành các chính sách tài chính mà không cần tính đến số tài sản do các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ?

    Vô tình hay cố ý?

    Khi sai phạm xảy ra nhiều người đổ lỗi cho việc chưa hoàn thiện về thể chế quản lý kinh tế, thiếu quy định pháp lý điều chỉnh, nhưng phải chăng là có sự cố tình chậm trễ trong việc ban hành ra các văn bản pháp lý điều chỉnh vấn đề này?

    Hàng loạt tập đoàn kinh tế được thành lập từ các năm 2005, 2006 nhưng đến tháng 11 năm 2009 chính phủ mới ban hành nghị định về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước. Tại sao lại chậm trễ như vậy trong khi trong cùng thời gian đó chính phủ ban hành ra hàng trăm nghị định khác?

    Trong việc quản lý tài sản nhà nước do các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ, sau cả chục năm thực hiện, đến tháng 7 năm 2013 chính phủ mới ban hành nghị định về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

    Sau khi để xảy ra quá nhiều hệ quả xấu, bây giờ chính phủ mới cho ra hàng loạt quy định cấm: Cấm doanh nghiệp góp vốn hoặc đầu tư vào lĩnh vực bất động sản (trừ những trường hợp doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chính là bất động sản), không được góp vốn mua cổ phần tại ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư mạo hiểm…

    Khi doanh nghiệp bắt đầu làm những việc mà bây giờ chính phủ cấm thì quan điểm của chính phủ như thế nào? Tầm nhìn viễn kiến và khả năng dự liệu ra làm sao mà để trong có vài năm đã cho thấy chính sách sai trái dẫn đến thua lỗ thất thoát tài sản quốc gia không biết bao nhiêu mà kể? Các cán bộ chính phủ không có năng lực lãnh đạo hay do vấn đề lợi ích nhóm trong vấn đề này?

    Quốc hội cần nắm tập đoàn

    Sau quá nhiều sai phạm thất thoát, hiện tại chính phủ cũng đang lấy ý kiến và đệ trình quốc hội dự thảo Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Dự thảo này cơ bản chỉ là ghi nhận những thực tế nhiều năm qua về cung cách và thẩm quyền quản lý, nội dung quy định nhiều quyền hạn cho chính phủ, vai trò của quốc hội mờ nhạt không rõ ràng.

    Thực tiễn hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi một phương cách quản lý mới mang tính đột phá, theo đó Quốc hội cần thu hồi và nắm giữ thẩm quyền đối với doanh nghiệp nhà nước.

    Các ủy ban như Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội hoàn toàn có khả năng nắm các tập đoàn thông qua việc thẩm định và phê duyệt mục tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và quyết định bổ nhiệm nhân sự chủ chốt của doanh nghiệp.

    Như thế sẽ giải quyết được mối mâu thuẫn tồn tại nhiều năm qua là trong khi Hiến pháp quy định Quốc hội có quyền quyết định về chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, quyết định sử dụng và phân bổ ngân sách nhà nước, nhưng thực tế chính phủ lại có ảnh hưởng quá lớn đến các hoạt động đó thông qua việc nắm giữ các doanh nghiệp nhà nước.

    Thổi phồng vai trò chính phủ

    Lâu nay nhiều người quá coi trọng vai trò của chính phủ trong quản lý, điều hành kinh tế nên không thấy ai đặt ra câu hỏi nếu chính phủ không quản lý điều hành thì sao, liệu nền kinh tế và đời sống xã hội có sụp đổ không? Vấn đề này cũng cần được gợi mở xem xét một cách nghiêm túc.

    Qua tìm hiểu thì thấy Hiến pháp nước Mỹ không quy định chính phủ được quản lý điều hành nền kinh tế (thực ra trong toàn bộ bản hiến pháp được dịch sang tiếng Việt không có hai từ “quản lý” và “điều hành”) nhưng nền kinh tế Mỹ vẫn đứng đầu thế giới. Có thể nguyên nhân do khác biệt ngôn ngữ nhưng hiến pháp Việt Nam năm 1946 cũng không có hai từ “quản lý”, “điều hành” tức cũng không quy định chính phủ có thẩm quyền quản lý điều hành kinh tế.

    Hiến pháp nước Nhật Bản không có nội dung quy định chính phủ được quản lý điều hành kinh tế nhưng nền kinh tế Nhật đứng thứ 3 thế giới.

    Trong các nền kinh tế thị trường, các quốc gia thường để cho thị trường tự vận hành điều chỉnh theo các nguyên lý thị trường tự do, chính phủ rất hạn chế can thiệp vào đó. Nhiều phân tích nghiên cứu đã chỉ ra khi chính phủ càng quản lý chặt, điều tiết càng nhiều, càng thiếu tôn trọng thị trường tự do thì nền kinh tế càng yếu kém.

    Ở Việt Nam do hệ quả từ nền kinh tế bao cấp nên hiện nay tâm lý vẫn quá coi trọng vai trò quản lý kinh tế của chính phủ, pháp luật trao cho chính phủ toàn quyền quản lý điều hành nền kinh tế. Do tâm lý đó nên khi kinh tế phát triển không như ý muốn, nhiều người vẫn không nhìn ra nguyên nhân chính ở chính phủ.

    Nền kinh tế Việt Nam muốn phát triển hơn thì cần tiệm cận với lề luật quốc tế trong điều hành kinh tế, tiết giảm bớt vai trò của chính phủ trong quản lý điều hành kinh tế. Việc Quốc hội thay chính phủ nắm các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng phù hợp với xu hướng đó.

    Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả, Trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Vai trò của nhà nước trong sự phát triển kinh tế là rất quan trọng, tỉ trọng cao của phần kinh tế do nhà nước trực tiếp quản lý hay chi phối là điều bình thường; đặc biệt là đối với các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển tiếp tiền công nghiệp hoá. Lịch sử phát triển của các quốc gia Tây Phương trước đây (Anh, Pháp, Đức, Ý,v.v...), của Nhật, cũng như của các con rồng Á Châu sau này là bằng chứng của điều vừa nói.Mỹ tuy nhìn bề ngoài có khác, nhưng trên thực tế,trước khi độc lập, sự cai trị của đế quốc Anh đã phần nào thực thi sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Và ngay cả khi độc lập rồi, việc hình thành Federal Reserve, có vai trò như một ngân hàng quốc gia trung ương, cũng là biểu hiện của sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế.

    Sự can thiệp của nhà nước thường nhiều và tỉ trọng quốc doanh thường lớn trong giai đoạn đầu, nhưng càng về sau khi nền kinh tế càng phát triển, mức độ công nghiệp hoá gia tăng,thị trường càng đi vào ổn định thì sự can thiệp của nhà nước và tỉ trọng quốc doanh càng giảm.

    Nói vậy, nghĩa là sự can thiệp của chính quyền hay tỉ trọng quốc doanh cao không phải là điều gì bất bình thường. Vấn đề quan trọng là hiệu năng của phần quốc doanh trong sự phát triển của nền kinh tế. Hiệu năng đó cao hay thấp, tất nhiên, phụ thuộc vào năng lực của bộ máy nhà nước liên quan.

    Có ít nhất là 3 yếu tố chính của năng lực (capacity) nhà nước:Viễn kiến (vision) của giới lãnh đạo, sự trung lập (autonơmy) của nhà nước (nghĩa là không bị khuynh loát bởi bất kỳ một thành phần xã hội hay giai cấp nào), và một hệ thống công chức thừa hành tốt (gơod bureaucratic system).

    Nhà nước VN hiện nay đều kém cả 3 yếu tố vừa nêu. Giới lãnh đạo, do bị ràng buộc của ý thức hệ, đã hoàn toàn không có một chút viễn kiến nào về phát triển kinh tế. Họ đã mở màn, ngay sau 1975, bằng việc lặp lại khẩu hiệu, do Liên Xô mớm cho, là "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng", không hề tự hỏi lấy vốn đâu để phát triển công nghiệp nặng, và rồi công nghiệp nặng đó gồm những gì và ai sẽ tiêu thụ nó, v.v...

    Về tính trung lập của nhà nước thì tất nhiên do chủ trương chuyên chính vô sản, và do ảo tưởng thiên đường xã hội chủ nghĩa, nhà nước VN không có thái độ trung lập đứng trước các thành phần khác nhau trong xã hội và trong nền kinh tế. Đó là một nhà nước thiên vị, nhân danh giai cấp chỉ để, về thực chất, phục vụ cho giới cầm quyền.

    Về yếu tố thứ ba thì,do hậu quả của chế độ thực dân,và do chính sách đấu tranh giai cấp mù quáng, VN đã không có được một hệ thống công chức tốt với đội ngũ viên chức và nhân viên thừa hành giỏi, có trình độ học vấn cao và am tường chuyên môn. Thực dân Pháp chỉ đào tạo một đội ngũ viên chức đủ để phục vụ nhu cầu cai trị thuộc điạ, không đáp ứng được nhu cầu phát triển. Nhưng rồi sau năm 1954 ngay cả đội ngũ thô sơ ấy ở Miền Bắc cũng đã bị chính sách kỳ thị giai cấp phá nát.Sau năm 1975, đội ngũ công chức-chuyên viên của Miền Nam lại được chính sách " hoà giải sáng suốt của Đảng" đập cho tan tành. Trong khi đó, đội ngũ công chức- chuyên viên mới do đảng CS đào tạo lại quá yếu kém. Do chủ trương " hồng hơn chuyên" và do chính sách cai trị bằng khủng bố, nhà nước VNCS đã chỉ đào tạo được một đội ngũ công chức-chuyên viên rất giỏi vâng phục,rất tận tuỵ trong chiến tranh, nhưng lại rất tồi về chuyên môn, hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu phát triển lớn lao của một đất nước thống nhất trong thời bình.

    Sự thiếu một đội ngũ công chức-chuyên viên giỏi lại càng biểu lộ rõ hơn trong quá trình thực hiện chính sách " Đổi Mới". Quá trình đó thực hiện chủ yếu dựa trên chút ít cơ sở phôi thai của kinh tế thị trường của Miền Nam trước 1975; Miền Bắc, do hậu quả của hợp tác hoá nông nghiêp và "kinh doanh xã hội chủ nghĩa" nóng vội, và do bị cô lập với kinh tế thế giới, đã hoàn toàn không có một chút cơ sở nào của kinh tế thị trường, số lượng doanh nhân hầu như bằng không. Vì vậy quá trình " Đổi Mới", và ngay cả sáng kiến " Đổi Mới" nữa, thực hiện được, phần lớn là nhờ vào sức lôi kéo của đầu tàu Miền Nam, cả về nhân sự lẫn nền móng.

    Tóm lại, tỉ trọng quốc doanh cao không phải là điều bất thường đối với nền kinh tế của một quốc gia đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp tiền công nghiệp hoá. Nhiều nước đã thực hiện một tỉ trọng quốc doanh như vậy trong giai đoạn đầu phát triển (Nhật, Đài Loan, Nam Hàn, Singapore, v.v...). Sự thất bại của quốc doanh VN có gốc rễ của nó trong chính hệ thống chính trị hiện hành. Người nào đó đã dùng một cụm từ rất đúng là " Lỗi hệ thống".

    CÃI CỐI

    Nền kinh tế Việt Nam muốn phát triển hơn thì cần tiệm cận với lề luật quốc tế trong điều hành kinh tế, tiết giảm bớt vai trò của chính phủ trong quản lý điều hành kinh tế. Việc Quốc hội thay chính phủ nắm các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng phù hợp với xu hướng đó.

    --------------------

    Quốc hội thay chính phủ e rằng kết quả không khác bao nhiêu.

    Quốc hội hay chính phủ ở VN gần như là một vì tất cả bộ trưởng, thủ tướng đều là đại biểu quốc hộin và là đại biểu quan trọng.

    Kế đến Quốc hội và chính phủ ở VN đều theo chỉ đạo của trung ương đảng CS.