Nguyễn Quốc Vĩ - Nhân đọc bài “Món quà mật mã” của anh Đinh Từ Thức

  • Bởi Nguyen Quoc Vi
    30/07/2013
    9 phản hồi

    Nguyễn Quốc Vĩ

    Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I - Hoa Kỳ và Việt Nam 1940 - 1950
    Hồ sơ giải mật

    Thư của người dịch

    Tôi vừa dịch vừa đánh vật với tài liệu 270 trang “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” (Pentagone Paper Part I) suốt mấy tháng với sự giúp sức của ông Google và đã hoàn tất, khiêm tốn nhưng đủ cho tôi trả lời cho tôi về một giai đoạn của lịch sử đau thương của Dân Tộc. Suốt mấy mươi năm, sinh ra chiến tranh đã có, lớn lên vác súng đánh nhau như bao thế hệ khác mà vẫn không thể hiểu tại sao cho tường tận. “Tại sao lại có Việt Nam Quốc Gia, Việt Nam Cộng Sản và họ đã đánh nhau suốt hơn hai mươi năm, hàng triệu người chết, hàng chục ngàn gia đình ly tán?” một câu hỏi mà suốt mấy mươi năm với tôi vẫn chưa bao giờ có một lời giải thỏa đáng, dù là bé tí. Hai mươi bảy ngàn trang tài liệu được viết trong khoảng từ tháng 7-1967 đến tháng 2/1969 nghĩa là lúc chiến tranh ở miền Nam với sự tham dự của người Mỹ đang diễn ra sôi động… “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” chỉ là phần đầu.

    Kết luận mà tôi rút ra cho tôi là đau khổ của Dân Tộc Việt Nam từ Thế Chiến II là do chủ nghĩa Thực Dân ăn sâu vào trong đầu dân Pháp sau hơn 80 năm đô hộ và bóc lột Việt Nam, vào thời điểm đó, kẻ thực dân đại diện là De Gaulle. Dù ông này là anh hùng của dân Pháp cũng không ngăn tôi gọi ông ta là tên thực dân đầu têu đã làm cho dân tộc tôi đau khổ bao nhiêu năm và sẽ còn tiếp tục đau khổ vì đưa đẩy của lịch sử đã tròng lên đầu các lãnh đạo hiện nay chiếc vòng Kim Cô chưa sao thoát đươc. Một kết luận nữa cho riêng tôi là, ít nhất những qua gì ghi lại trong “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” ông Hồ Chí Minh rất xứng đáng được coi là một lãnh tụ tuy cộng sản nhưng cực kỳ dân tộc chủ nghĩa, dành mọi tâm trí, thủ đoạn và ưu tiên cho Độc Lập của Việt Nam. Chỉ rất tiếc và rất đau, chính vì sự ngoan cố của Thực Dân chỉ muốn tiếp tục vai trò chủ nhân ông của Đất Nước cộng thêm với thế chính trị của Mỹ sau Thế Chiến là ưu tiêng cho đồng minh của mình dù đồng minh ấy là thứ chủ nghĩa thực dân mà chính Mỹ cũng không muốn. Không ít hơn tám lần Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã liên lạc với Tổng Thống Mỹ Roosevelt và sau đó là Truman sẳn sàng hợp tác toàn diện với Mỹ và chỉ mong một điều mà Dân Tộc ta đã qua bao nhiêu lần vùng dậy mà không đạt được: Độc Lập. Mười ba liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị chém đầu, hai vì Vua yêu nước bị đi đày … nỗi đau dân tộc quá lớn, khát khao Độc Lập quá lớn. Ông Hồ Chí Minh, với kinh nghiệm sống, đã sống và chứng nghiệm thực tiển cuộc sống ở các quốc gia hàng đầu của Tư Bản lẫn Cộng Sản chắc chắn đã thấy Cộng Sản không thể nào thích hợp cho Việt Nam. Mọi bước đi chính trị của ông đều theo hướng đó: Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp hay ít nhất là được hưởng chế độ giám hộ (ủy trị) do Mỹ chịu trách nhiệm như trường hợp của Phi Luật Tân. Nhưng than ôi, thực dân nào chịu nhả thuộc địa béo bở của mình, Mỹ lấn cấn thế đồng minh với Pháp, ưu tiên ngăn làn sóng đỏ ở Âu Châu đành cho cuộc đời đưa đẩy theo bước chân của Pháp … Vừa lúc Trung Hoa Cộng Sản đánh bại Trung Hoa Quốc Gia năm 1949, ông Hồ đành phải ngã vào vòng tay của người anh em cộng sản Tầu và Liên sô, chủ yếu là Tầu Mao để nhận vũ khí đạn dược và các phương tiện chiến tranh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng chấm dứt chế độ Thực Dân ở Đông dương và kích động cuộc khởi nghĩa vũ trang chống thực dân Pháp ở Algerie … Vì nhận nên phải mang nợ, mang nợ nên phải “nghe lời”, nghe lời rồi rập khuông từ chính sách đến quần áo, điệu nhảy, lời hát; nghe lời nên đã sinh ra 6 đợt Cải Cách Ruộng Đất Kinh Hoàng mà dư chấn đầu tiên là cả triệu người bỏ quê hương mồ mã tổ tiên để đi vào Nam. Rồi đến khi “hêt nghe lời”, mười năm biên giới chiến chinh làm bài tập xương máu để trả bài học cho “người anh” cộng sản.

    Phải chi, “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” cũng đã nhiều lần “phải chi”, ngay sau khi Thế Chiến II chấm dứt, người Pháp chấp nhận đề nghị của Hồ Chí Minh là Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp như người Anh đã trả Độc Lập cho Ấn Độ và giữ họ trong Khối Thịnh Vượng Chung, thì có lẽ, nếu có chiến tranh xảy ra là một thứ chiến tranh giữa quốc gia với quốc gia (Tầu Cộng với Đồng Minh hay Liên Hiệp Pháp trong đó có Việt Nam). Người Mỹ đã biết rất rõ Hồ Chí Minh và Việt Minh là ai và họ cũng đã tính nếu Việt Nam thành cộng sản thì cũng là thứ Cộng Sản yêu nước dân tộc chủ nghĩa độc lập với đàn anh Tầu Cộng tương tự như Tito của Nam Tư cộng sản đối với đàn anh Liên sô … Và họ sẳn sàng chấp nhận như thế vì cái mà họ muốn là ngăn chận làn sóng cộng sản từ Tầu tràn xuống phía Nam. Ngày nay họ vẫn tiếp tục chính sách ngăn chận, lần này không phải cộng sản mà Tầu là chính …

    Không trách được vì sao nên cớ sự (Ông Hồ ngã về khối Cộng Sản), vì cớ sự khởi đầu là do Thực Dân không muốn cho ta Độc Lập, nhưng rồi cũng vỡ đầu bêu trán ở Điện Biên Phủ chạy đi, nhưng để lại cái thế Quốc, Cộng làm dân tôi thêm hai mươi năm nội chiến từng ngày chịu bao nhiêu là đau khổ mất mát …

    Qua “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” tôi còn được thấy thêm phe người Việt “quốc gia” với cái muốn thật to nhưng cái tài không lớn. Cái này người Mỹ nói chứ không phải tôi.

    Khi bỏ công dịch, tôi mong ba chuyện:

    Một, cho tôi cái nhìn khách quan qua các chứng cớ lịch sử mà “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” là một “thứ thiệt” không chịu mấy màn che của hỉ nộ ái ố, của kẻ mù rờ chân voi.

    Hai, để đồng bào tôi thấy sự thực là dân tộc ta, nhược tiểu yếu kém về mọi phương diện trừ tình yêu Tổ Quốc vĩ đại, phải chịu thân phận con chốt cho các cường quốc trong bàn cờ chia chác tài nguyên, thị trường.

    Ba, lãnh đạo Việt Nam đọc để thấy chuyện đời là một màn chơi với những quy luật và thế trận của nó, tiếp tục lấy Tổ Quốc làm trọng vì đó là cái tinh túy nhất của những người làm và đi theo cách mạng chỉ mưu cầu cho độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc. Họ cần phải thấy “không ai mãi mãi là bạn, không ai mãi mãi là thù”, phải thấy nước nào cũng xem quyền lợi của nước họ là tối thượng mà bỏ qua trong trong tâm trí mấy chữ “anh em” và càng cảnh giác hơn nữa với những danh từ hoa mỹ.

    Sau khi dịch và hiểu “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I”, tôi sẳn sàng gọi ông Hồ Chí Minh là Bác với tất cả kính trọng và thương mến, ít nhất là trong khung thời gian mà “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” 1940-1950 đã đề cập đến.

    “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần II” nói về chiến tranh Việt Pháp 1950-54 là cố gắng sắp đến của tôi

    Ghi chú thêm: trong tài liệu chữ “nationalist” được dùng rất nhiều nhưng chưa có nghĩa QUỐC GIA trong nghĩa Quốc Gia đánh nhau với Cộng Sản như trong chiến tranh ở Miền Nam sau này. Như phong trào Việt Minh là “quốc gia” gồm cả phe Cộng Sản lẫn quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt v.v… chữ quốc “nationalist” ở đây được hiểu là “dân tộc chủ nghĩa”. Cho nên xin quí vị độc giả lưu ý chỗ này.

    Paris, tháng Mười, đầu Thu 2011

    Nguyễn Quốc Vĩ, một người tầm thường, hưu trí, với một tình yêu Tổ Quốc Việt Nam mãnh liệt, đang đi tìm sự thật cho mình về chiến tranh Việt Nam.

    Xem chi tiết “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I - Hoa Kỳ và Việt Nam 1940 - 1950”
    http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnnn3nqnvn31n343tq83a3q3m3237nvn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    Những phân tích của Nguyễn Thiện và A Sử rất đúng. Bây giờ mà còn tin ông Hồ là người theo chủ nghĩa dân tộc là quá ngây thơ mặc dù có không ít tài liệu nói về điều đó. Ông Hồ là người cộng sản thuần tuý từ khi ông theo cho đến khi chết. Sau 1945, lúc ông trở thành chủ tịch nước VNDC đến lúc chết không lúc nào ông không tôn sùng chủ nghiã cộng sản và luôn giáo huấn các thuộc cấp và nhân dân tin theo cộng sản. Ngay sau khi giành độc lập 1945, đảng cộng sản của ông đã tiến hành thanh trừng những người yêu nước nhưng không theo con đường của họ như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Trạch (những người theo cộng sản đệ tứ, Phạm Quỳnh (một học giả nổi tiếng, v.v... Vì lòng tin mù quáng vào cộng sản mà chính quyền do ông đứng đầu đã gây ra nhiều tội ác dã man và những sai lầm to lớn đối với dân tộc như "cuộc cách mạng long trời lở đất" làm làm chết 172.008 người và liên luỵ đến hàng triệu người dân vô tội trong các năm 1953-1956, gọi là cải cách ruộng đất. Các vụ án đánh "Nhân văn Giai phẩm" và chống "xét lại chống đảng" đã triệt tiêu bao nhiêu nhân tài tinh hoa của đất nước đều diễn ra dưới thời ông làm lãnh tụ. Cuộc nội chiến kéo dài hơn 20 năm làm chết hàng triệu người, để lại nhiều di chứng và hậu hoạ đến tận ngày nay cũng là do đàng cộng sản của ông. Những gì tốt đẹp về ông hoặc do ông tự viết lên để ca tụng mình (Những mẫu chuyện về đời hoạt động của bác Hồ - Trần Dân Tiên) hoặc do tay chân bộ hạ ông nhào nặn nên nhằm thần thánh hoá ông để mê hoặc dân chúng. Những sai lầm đều bị bưng bít hoặc đổ cho người khác. Rất nhiều điều về ông Hồ vẫn chưa được bạch hoá hoặc đã bị làm sai lệch, nhưng kết luận cuối cùng ông là một người ông sản và sẵn sàng làm bất cứ việc gì cho chủ nghĩa cộng sản chứ không phải là vì đất nước và dân tộc Việt Nam.

    Bác Vĩ ơi,

    Pentagon Papers là tập tài liệu soạn bởi các (36) chuyên viên phân tích (analysts)quân sự và dân sự vào khoảng giửa năm 1967. Đây là tài liệu quan trọng về chiến tranh Việt Nam cũa người Mỹ, nhìn dưới quan điểm của họ, hửu ích nhưng cũng có nhiều giói hạn:
    1) Vì tính cách tối mật, họ chỉ làm việc trên các văn kiện có sẳn trong thư khố Văn phòng bộ trưởng Bộ quốc phòng(McNamara) mà không hề có tham khảo, phỏng vấn... các nguồn nào khác (Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội, Các Lực Lượng Vũ Trang, các cơ quan Liên bang...) để không ai biết, kể cả Tổng Thống Mỹ.
    2) Do đó Pentagon Papers tựu trung là kết quả cũa công việc đọc và phân tách các tài liệu có sẳn trong điều kiện giới hạn do một nhóm chuyên viên viết ra một cách chủ quan theo sự hiểu biết(hay không hiểu biết) và định kiến cũa họ.

    Đọc Pentagon Papers (PP)để hiểu thêm về chiến tranh VN là cần nhưng không đủ vì PP không phải là tất cả!

    Ông Vĩ đã vất vả với Google Translate rốt cuộc chỉ để biện minh cho ông HCM, một thành viên rất trung thành cũa Đệ tam quốc tế với tham vọng cộng sản hóa toàn cầu, một đàn em ngoan ngoản của Stalin và Mao Trạch Đông, và là một Pol Pot cũa VN, tưởng không cần thiết đâu!

    Nguyễn Thiện viết:

    Thưa bạn đọc Trần Hữu Cách, có link này viết khá rõ về The Pentagon Papers: http://en.wikipedia.org/wiki/Pentagon_Papers. Trong tựa đề của cuốn tài liệu này, chữ Pentagon không có e, và chữ Papers thì có s. (Trong tiếng Anh, không có chữ pentagone mà chỉ có chữ pentagon).

    người dịch: Nguyễn Quốc Vĩ viết:
    Tôi vừa dịch vừa đánh vật với tài liệu 270 trang “Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I” (Pentagone Paper Part I) suốt mấy tháng với sự giúp sức của ông Google và đã hoàn tất, khiêm tốn nhưng đủ cho tôi trả lời cho tôi về một giai đoạn của lịch sử đau thương của Dân Tộc

    Cụ Cách chỉ cho mọi cụ khác cùng thấy cụ Vĩ diết, vịt tiếng Anh Num bờ oan, như đạn trích ngay phần mở đầu của bài.

    Xin lỗi các bạn đọc vì bài phản hồi của tôi có thiếu sót việc dẫn link. Nay tôi bổ túc lại link cho chính xác. Link của báo mạng Tiền Vệ đăng về những tác giả VN không thông thạo tiếng Anh, nhưng dịch ẩu ở đây: http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=14654 .

    Đọc các bài chủ đề Chuyện Dịch Thuật trên trang Tiền Vệ, tôi thấy ngượng thay cho các tác giả ấy, các nhà xuất bản và nhà phát hành sách. Các tác giả dịch ẩu và phát hành sách chỉ vì chút tiền bạc và sự khoe khoang chút tài năng, mà dám coi thường đọc giả. Nhà xuất bản và phát hành thì thiếu người có khả năng tiếng Anh để đánh giá các tác phẩm, nên cứ in bừa để rồi mất cả tiếng tăm.

    Các sách và truyện dịch in trước 30/4/1975 ở Miền Nam VN hầu như không bị mắc các lỗi dịch thuật này nên ngày nay vẫn còn có giá trị và được tái xuất bản (nguồn http://www.baomoi.com/Sach-van-hoc-mien-Nam-truoc-1975-Can-duoc-nhin-nhan-thoa-dang-hon/152/9574605.epi và ở đây http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3080%3Asach-min-nam-trc-1975-c-tai-bn&catid=63%3Avn-hc-vit-nam&Itemid=106&lang=en (Sách ở miền Nam trước 1975 được tái bản- Huỳnh Như Phương). Phải chăng các dịch giả thời ấy khác với thời "con người mới xã hội chủ nghĩa mới", và họ có tài năng thật sự, có lương tâm lúc làm việc, và lòng tự trọng cao nên không dám dịch ẩu; và, các nhà xuất bản và phát hành sách ở Miền Nam thời ấy biết chút giá trị văn hóa và đạo đức, và muốn giữ uy tín nên chỉ cho xuất bản các cuốn sách dịch thuật của các dịch giả có tài năng và các cuốn sách hay có giá trị cho bạn đọc.

    Đáng ra, vì lòng tôn trọng bạn đọc, và lòng tự trọng, các tác giả ( mà trang Tiền Vệ nêu tên) nên tự hiểu khả năng của mình, mà không nên dịch, in và phát hành các cuốn sách truyện ấy. Nay chuyện đã bể ra rồi thì cũng nên viết vài lời xin lỗi đọc giả và nêu ra các lỗi lầm của sách, rồi nhờ người khác dịch cuốn sách ấy, và thông báo cho bạn đọc nào lỡ mua sách dịch thuật ẩu, đến đổi lại để có bản dịch chính xác hơn, hoặc lấy tiền lại, và đồng thời, các nhà dịch thuật ẩu nên tự thu hồi những cuốn sách dịch ẩu, cân ký và tái chế để sử dụng giấy vào việc khác(recycle). Mục đích là để tránh phổ biến những gì hay, không chính xác làm hại đến bạn đọc và đánh mất lòng tin của họ.

    Thưa bạn đọc Trần Hữu Cách, có link này viết khá rõ về The Pentagon Papers: http://en.wikipedia.org/wiki/Pentagon_Papers. Trong tựa đề của cuốn tài liệu này, chữ Pentagon không có e, và chữ Papers thì có s. (Trong tiếng Anh, không có chữ pentagone mà chỉ có chữ pentagon).

    Lịch sử Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam vẫn cứ lập đi lập lại, đối nội cũng như đối ngoại. Ngày xưa ông Hồ đã cầu cạnh, xin xỏ Mỹ khi đã quyết tâm theo cộng sản. Bây giờ hậu duệ của ông lại đem quân bài cũ ra xào lại. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang qua Mỹ cầu cạnh, sau khi đi Trung Hoa.

    Lịch sử Việt Nam sẽ được đảng cộng sản Việt Nam viết: Việt Nam không có độc lập là tại..... Mỹ.

    Nguyễn Jung

    @bác Nguyễn Thiện:

    Ông Nguyễn Quốc Vĩ dùng Google Translate để dịch Pentagone Paper ấy chứ! (Để ý Pentagone chứ không phải Pentagon, Paper chứ không phải Papers.)

    Thưa ông Nguyễn Quốc Vĩ, qua bài viết này của ông, ông đã tự tố cáo với bạn đọc Dân Luận rằng ông chưa từng đọc tiểu sử của ông Hồ Chí Minh. Tôi nghĩ nếu ông đã từng đọc tiểu sử của ông HCM, thì chắc ông đã không có những nhận định như trên.

    Ông hãy đọc tiểu sử của ông HCM, trong giai đoạn từ 1922 đến 1956, và xem ông HCM ở đâu? làm gì? nhận tiền của ai để hoạt động? Ông có thể xem qua phần tiểu sử của ông HCM ở đây:

    Ông HCM là một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp. Nguồn ở đây : . Ông cũng là người thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930. Ông HCM là ông tổ của đảng CSVN, thờ Mác Lê-Nin từ trước năm 1945 và trong các tác phẩm bài viết của ông HCM, ông ta cũng thừa nhận như thế, vậy thì tại làm sao mà ông Vĩ nói là ông HCM theo khuynh hướng dân tộc?

    Thậm chí, ở tuổi 75, ông HCM còn viết di chúc nói: "Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi "Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Xin ông Vĩ chỉ cho bạn đọc Dân Luận biết:Ở tác phẩm nào? ở trang mấy của tác phấm ấy mà ông HCM viết rằng ông ta theo khuynh hướng dân tộc? Ông Vĩ không nên áp đặt những gì mà ông HCM không hề nói, vì như thế là tội lắm.

    Ông dùng Google để dịch The Pentagon Papers qua tiếng Việt thì "thôi rồi Lượm ơi"; hèn chi, trong bài viết của ông, ông đã viết thiếu chữ "the", và bản dịch của ông, trong vnthuquan.net, cũng viết thiếu chữ "the". Một lầm lỗi mà ông lập đi lập lại tới hai lần thì đó không phải là sự sơ ý. Thưa ông, đây là một lỗi rất sơ đẳng trong tiếng Anh (và cả tiếng Pháp), nhưng qua đó, chứng tỏ trình độ văn phạm Anh ngữ của ông ở bậc sơ cấp và thiếu căn bản.

    Vậy mà ông dịch The Pentagon Papers qua tiếng Việt thì chắc chắn bản dịch ấy sẽ sai be bét ở nhiều chỗ chỉ vì ông không hiểu tiếng Anh. Nếu ông dịch để hiểu thì không ai dám nói gì hết. Nhưng ông đi phổ biến bản dịch của ông trên internet, thì ông quả thật là một người rất gan dạ, thưa ông. Cũng may cho ông là ông chưa in tác phẩm dịch thuật ấy của ông ra giấy, chứ không thì sẽ chịu hậu quả như các "dịch giả" mà trang Tiền Vệ đăng ở đây:

    Tóm lại, muốn có ý kiến chính xác và có giá trị về đề tài gì hoặc về người nào, thì ông hãy đọc lại nguồn gốc và lịch sử của đề tài ấy hoặc người ấy...rồi hãy đưa ra nhận định.

    Kính

    Đến mãi tận bây giờ mà vẫn có những nhận định cho rằng ông Hồ Chí Minh là người yêu nước thuần túy (nghĩa là lòng yêu nước đó không đặt trên nền tảng ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít) thì quả thật...tôi cũng hết biết luôn.

    Có quá nhiều chứng cứ (và ông Hồ cùng bộ sậu Mác-xít của ông tại VN vẫn vô số lần khẳng định trong quá khứ lẫn hiện tại) để khẳng định ông Hồ là một người Mác-xít thuần thành. Sự chìa tay (với lòng bàn tay ngửa) ra với người Mỹ, chỉ là một chiến thuật nhỏ lẻ trong một chiến lược Mác-xít dài hạn.

    Kể cả khi ông nhiều lần lặp lại "chiến thuật" ấy, cũng không thể ghi nhận như một ý thức "NiMarx" ở ông Hồ.

    Vài năm trở lại đây, có một số nhà nghiên cứu sử đã (vô tình hay cố ý) cùng lúc ở nhiều nơi đưa ra giả thiết này. Phải chăng, có một ý đồ nào đó trong các lập luận kiểu trên?

    Trần Dân Tiên viết:
    “Ông chú ý nhất đến chế độ xã hội của nước Nga. Ở đây mọi người ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ. Chính phủ thì giúp đỡ khuyến khích nhân dân học tập. Ở đâu cũng thấy trường học. Các nhà máy đều có lớp học, ở đây con em thợ thuyền có thể học nghề... để trở nên kỹ sư... Đây là một chế độ rất hay.
    Trong nông trường tập thể, mọi người làm chung và chia sản phẩm theo công làm của mỗi người. Có một số nông trường tập thể rất giàu mà người ta gọi là nông trường triệu phú. Những nông trường này có trường học sơ cấp và trung cấp, thư viện, nhà chiếu bóng, sân vận động, nhà thương, phòng nghiên cứu nông nghiệp, nơi chữa máy móc... v.v. Những nông trường này đã biến thành những thành phố nhỏ. Những người đau ốm được săn sóc không mất tiền. Đây cũng là một điều ông Nguyễn hết sức phục... Vì ông Nguyễn rất yêu trẻ con nên ông nghiên cứu kỹ vấn đề nhi đồng ở Liên Xô.
    Lúc mới đẻ, mỗi đứa trẻ được giúp tiền may quần áo, được uống sữa lọc trong chín tháng không mất tiền. Mỗi tuần thầy thuốc đến thăm nhiều lần... Những đứa trẻ ngoài chín tháng có thể gửi ở những vườn trẻ, có thầy thuốc chăm sóc... Có thể gửi trẻ vào vườn cho đến tám tuổi. Đến tám tuổi, trẻ em bắt đầu đi học. Học sinh mỗi buổi sáng được một bữa ăn uống không mất tiền. Ngoài trường học thì có đội thiếu nhi chăm sóc các em... Nói tóm lại, cái gì tốt nhất đều để dành cho trẻ em. Nếu nước Nga chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người thì nước Nga đã là thiên đường của trẻ con...”

    Không biết bác hưu trí Nguyễn Quốc Vĩ có nhận ra đoạn trích trên đây là của ai, ca ngợi cái gì, viết vào lúc nào không? Quanh co lẩn tránh sự thật đến bao giờ. Có người đổ lỗi cho Truman giờ lại có người đổ lỗi cho De Gaulle, người Việt Nam quả là... tài tình. Lại còn mơ mộng Việt Nam có cơ hội trở thành "cộng sản dân tộc" giống Nam Tư thì càng tài tình, nếu vậy chắc bây giờ cũng nát bét ra rồi.

    Dù bác "khoe" là dịch lời người Mỹ nhưng các nhận định của bác sau khi "rút ra kết luận" có rất nhiều điều đáng bàn.

    1. Khát khao độc lập: Lúc đó không chỉ có mỗi Việt Nam khát khao độc lập. Có gần trăm dân tộc thuộc địa khác trên thế giới và họ đã giành được độc lập không cần theo cách của Việt Nam.

    2. Thực dân Pháp trở lại: Hoàn toàn không còn thực dân Pháp vì chế độ thực dân đã bị chính người dân Pháp căm ghét và khai tử. Họ biểu tình ủng hộ độc lập cho các dân tộc thuộc địa, đòi đưa con em trở về vì chính họ đã nếm đủ đau thương sau thế chiến II. Nền đệ tứ Cộng hòa Pháp được thành lập theo khuynh hướng dung hòa. Tiếp đến là nghị quyết giải thực của hội Quốc Liên (Liên Hiệp Quốc), chế độ thực dân hoàn toàn không còn tồn tại trên thế giới. De Gaulle cũng rút lui khỏi chính trường cuối năm 1945 mười mấy năm sau mới tham gia trở lại, ông ta không có vai trò "thực dân đầu sỏ" trong vụ Pháp trở lại Việt Nam.

    3. Mỹ ủng hộ Pháp: Thế chiến II chấm dứt, như mọi nước, tại Pháp có 3 khuynh hướng chủ đạo: Phe Quốc gia cực hữu (De Gaulle), phe Cộng Sản cực tả (Maurice Thorez) và phe Xã hội trung dung (Ramadier). Phe Cộng Sản và phe Quốc gia đều đang có công trạng và uy tín lớn nhưng lại đều khát khao đưa lá cờ đại Pháp tung bay trở lại trên các xứ thuộc địa. De Gaulle rút lui, Maurice Thorez là kẻ lớn tiếng muốn tái thực dân nhất. Người Mỹ đưa ra kế hoạch Marshall tài trợ Pháp tái thiết sau chiến tranh, kết quả là kéo được Pháp ra khỏi quỹ đạo Cộng Sản Liên Xô và dập luôn được tư tưởng thực dân còn sót của phe Quốc gia Pháp cực hữu. Người Pháp trở lại Việt Nam sau này thuộc phe Xã Hội trung dung thiên tả, đã trao trả độc lập cho Việt Nam và muốn thiết lập một khối Liên Hiệp Pháp để "Pháp Việt đề huề" (theo đúng con đường của cụ Phan Chu Trinh) vì bản thân họ còn nhiều quyền lợi đã đầu tư gây dựng hàng trăm năm tại Đông Dương không thể bỗng dưng để lọt vào tay quân Anh, Tưởng hay Cộng Sản. Nhưng họ không có tham vọng (và cũng không thể) tái lập nền thực dân như trước vì Mỹ và hội Quốc Liên không cho phép điều đó.

    4. Cụ Hồ bắt tay với phe muốn tái thiết chế độ thực dân: Tướng Lerlerc là người của De Gaulle. Bản hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 mở đường cho đội quân của tướng Lerlerc trở lại Hà Nội mà không gặp bất cứ sự phản kháng nào của nhân dân Việt Nam để chứng tỏ người Việt Nam không bao giờ chấp nhận chuyện tái lập thuộc địa theo ý muốn của phe diều hâu Pháp. Nhưng cụ Hồ lại coi Lerlerc, Sainteny là bạn. Người Pháp không cần bản hiệp định này để trở lại Hà Nội vì họ đã thỏa thuận thay thế quân Tưởng giải giáp Nhật tại hiệp ước Trùng Khánh tháng 2/1946. Chỉ có thể giải thích sự nhiệt tình này của cụ Hồ là vì cụ cần mượn tay người Pháp để làm một việc gì đó.

    5. Lãnh tụ Việt Minh nên rút lui khỏi chính trường. Chính quyền mới của Pháp đã trao trả độc lập cho Việt Nam. Mỹ đã ủng hộ Việt Nam, nhưng là ủng hộ các lực lượng không Cộng Sản. Vậy vì đại cục, các lãnh tụ Việt Minh nên dừng tham vọng đưa Việt Nam trở thành tiền đồn XHCN, dẹp bỏ sự ích kỷ của phe nhóm để nhường chỗ cho các lực lượng khác đã thiết lập được mối quan hệ với Mỹ. Việt Nam có cơ hội để trở thành một Nhật Bản thứ hai là điều không hề khó tin.

    Nhưng không, khi người Cộng Sản ký kết hiệp định với phe diều hâu Pháp bất chấp sự phản đối của nhân dân thì họ gọi Pháp là bạn. Còn khi phe ôn hòa Pháp dưới ảnh hưởng của Mỹ ký hiệp định long trọng thông báo với toàn thế giới trao trả độc lập cho Việt Nam thì họ lại bảo đó là giả, trò lừa của kẻ thù.
    Khi họ viết thư cho Truman thì họ gọi nước Mỹ là bạn. Nhưng khi nước Mỹ không chơi với họ mà chơi với các phe phái khác của Việt Nam thì họ lập tức chửi Mỹ là đế quốc hung hãn, sen đầm quốc tế và lập tức chuẩn bị chiến tranh.