Trương Trung - Tổng thống chế hay Nghị viện chế?

  • Bởi Diên Vỹ
    08/07/2013
    11 phản hồi

    Phản hồi bài viết <a href="https://danluan.org/tin-tuc/20130705/nguyen-gia-kieng-phan-xa-tong-thong...ễn Gia Kiểng - Phản xạ Tổng thống</a>

    08.07.2013

    Sự phân biệt giữa hai hình thức thức tổ chức quyền lực chính trị nêu trên có lẽ không xa lạ với những người Việt lớn tuổi, nhưng chắc là không mấy quen thuộc với một số không ít các bạn trẻ hiện nay ở trong Nước. Ở đây chỉ xin làm một tóm lược những điểm căn bản nhất của hai hình thức tổ chức rất phổ biến đó, nhằm góp phần gợi mở để các bạn trẻ ấy tự tìm hiểu thêm.

    Có nhiều sự khác biệt quan trọng giữa Tổng Thống Chế (TTC)( Presidential system) và Nghị Viện Chế (NVC, hay còn gọi là Đại Nghị Chế)(Parliamentary system), nhưng tiêu chuẩn chính yếu để phân biệt là mức độ phân chia giữa hai quyền, hay hai ngành, LẬP PHÁP và HÀNH PHÁP (Executive and Legislative branches): Trong TTC hai ngành Lập pháp và Hành pháp hoàn toàn biệt lập và độc lập với nhau; Quốc Hội, hay Nghị viện, nắm quyền lập pháp, làm ra luật (laws); Tổng Thống, người được cử tri trực tiếp bầu, nắm quyền hành pháp, tức là thi hành và áp dụng luật. Còn trong NVC thì hai quyền này tập trung vào trong tay Quốc Hội hay Nghị viện, là cơ quan bầu chọn ra vị Thủ Tướng, người nắm quyền hành pháp.

    Trong TTC, mọi dự luật (bills) là do quốc hội soạn thảo, biểu quyết, xong rồi chuyển qua cho TT để ký thành luật (laws). TT có quyền phủ quyết (veto), nghiã là không chấp nhận , trả dự luật về lại cho quốc hội. Quốc hội có thể vô hiệu hoá quyền phủ quyết đó của TT bằng cách tái biểu quyết dự luật với đa số 2/3 để dự luật trở thành luật. Ngoài quyền phủ quyết, TT có quyền đề nghị dự luật và gởi qua cho quốc hội thảo luận, biểu quyết. TT cũng có thể xử dụng quyền hành pháp của mình để ban hành, trong phạm vi hiến định, các chỉ thị (directives), điều lệ (regulations), hay luật hành chánh (administrative laws) để điều hành guồng máy chính quyền của mình. Quyền thẩm định một đạo luật, chỉ thị, điều lệ hay luật hành chánh có phù hợp với hiến pháp hay không thuộc về Tối Cao Pháp viện, toà án cao nhất, đứng đầu ngành tư pháp, độc lập hoàn toàn với hai ngành kia.

    Nói rằng trong NVC hai quyền Lập pháp và Hành pháp tập trung vào tay quốc hội, hay nghị viện là vì người đứng đầu ngành hành pháp trong chế độ đó, thường là thủ tướng, là một thành viên của quốc hội, được chính đảng, hoặc liên minh chính đảng, chiếm đa số trong quốc hội đó chọn bầu ra. Vị thủ tướng này sẽ thành lập chính phủ (cabinet) gồm các bộ trưởng chọn trong chính đảng hay liên minh của mình. Vì thuộc về và do quốc hội bầu chọn, vị thủ tưởng của NVC chỉ chịu trách nhiệm trước quốc hội, có thể bị quốc hội bãi nhiệm bằng phiếu bất tín nhiệm, nhưng cũng có thể được quốc hội lưu nhiệm bao lâu đảng hay liên minh của ông vẫn còn chiếm đa số. Nghiã là vị thủ tướng trong NVC, trong nhiều trường hợp có thể giữ được ghế của mình khá lâu, không bị ràng buộc về nhiệm kỳ như tổng thống trong TTC.
    Ngoài khác biệt căn bản trên, các biến dạng về sau này của TTC chỉ đặt trọng tâm trên mức độ phân chia quyền hành pháp, mà không hề thay đổi nét chính yếu của TTC là sự phân quyền rõ rệt giữa hành pháp và lập pháp.

    Nhân đây cũng xin lưu ý đến sự phân biệt giữa Phân quyền và Tản quyền. Phân quyền (separation of power) là sự phân chia quyền lực chính trị theo chiều ngang thành 3 ngành chính: Lập pháp (làm luật); Hành pháp ( thi hành và áp dụng luật); và Tư pháp ( phân xử hay tài phán). John Locke, một người Anh, khoảng cuối thế kỷ 17 đã viết trong quyển Two Treatises of Government về nguyên tắc phân quyền. Mục đích chính của sự phân quyền là để tránh sự độc quyền, nhất là độc quyền của chế độ quân chủ. Về sau trong việc lập quốc, người Mỹ đã hiện thực hoá chủ trương phân quyền đó của John Locke, đưa vào trong hiến pháp của mình.

    Còn tản quyền là sự phân chia quyền lực theo chiều dọc, từ trung ương ra các địa phương (decentralization). Việc tản quyền có khác nhau tuỳ theo quốc gia thuộc quy chế liên bang hay hay đơn nhất. Nếu là quốc gia theo chế độ liên bang (federation) thì sự phân chia quyền thường bao gồm cả phân quyền hàng ngang, tuy ở quy mô nhỏ hơn. Nghĩa là mỗi ở mỗi tiểu bang vẫn chia ra lập pháp (quốc hội), hành pháp ( thống đốc), và tư pháp. Trong khi đó thì ở quốc gia theo quy chế đơn nhất (unitary country), sự tản quyền, một cách căn bản chỉ là sự phân chia quyền lực hành chánh từ trên xuống, từ trung ương ra địa phương, không bao hàm sự phân quyền ra ba ngành như trong quy chế liên bang. Ngoại lệ ở đây là có những quốc gia, tuy theo quy chế đơn nhất, lại có những vùng tự trị ( autonomic regions). Những vùng tự trị đó đôi khi có cơ quan lập pháp riêng của mình.

    Trở lại sự so sánh về TTC và NVC. Từ lâu rồi đã có nhiều tác gỉa nêu ra những ưu và khuyết điểm của hai hình thái tổ chức quyền lực chính trị đó. Mỗi hình thái đều có đủ hai phe; phe thì cho rằng hình thái này tốt hơn hình thái kia, phe thì nói ngược lại. Nghĩa là sự đánh giá của các tác gỉa chưa đạt được sự phân thắng bại cuối cùng rằng hình thái nào là tốt nhất, đáng đem ra áp dụng một cách rộng rãi, đồng nhất cho mọi quốc gia. Theo thiển ý thì sỡ dĩ có tình trạnh bất phân thắng bại như vậy là vì đa số các tác giả đã lượng định sự hay dỡ của mỗi hình thái đó một cách trừu tượng, không gắn liền sự đánh giá các hình thái đó với đặc điểm cụ thể của từng quốc gia về các mặt: văn hoá, địa lý, lịch sử, xã hội, kinh tế, v.v...

    Chẳng hạn về văn hoá, có thể lấy Mỹ và Canada làm ví dụ. Hai quốc gia này chia chung biên giới với nhau, cùng có gốc gác từ Anh Quốc và Âu Châu, nhưng Mỹ theo TTC, còn Canada theo NVC. Cả hai quốc gia này đều thành công, đều phát triển tốt, đạt các chỉ số về phát triển nhân sinh ( Human Development Index), về Tự do kinh tế ( Index of Economic Freedom), và về Dân quyền ( Freedom House) cao nhất thế giới. Vậy vì sao hai quốc gia đó lại chọn hai hình thái tổ chức quyền lực khác nhau? Nhiều tác giả, như Alan Draper , Ansil Ramsay, hay Huntington chẳng hạn, đã cho rằng yếu tố chính dẫn đến sự chọn lựa hình thái quyền lực khác nhau giữa Mỹ và Canada là văn hoá. Nét khác nhau về văn hoá thể hiện ra ở việc người Canadians tôn trọng chính quyền hơn, ít đề cao cá nhân chủ nghĩa, quan tâm hơn đến lợi ích cộng đồng, và không quá đề cao business; trong lúc người Mỹ thì ngược lại.

    Những yếu tố khác như lịch sử chẳng hạn cũng tác động mạnh đến sự lựa chọn và sự thành công của một trong hai hình thái quyền lực. Anh Quốc vốn đã có truyền thống lâu đời về nghị viện, các chính khách ở đó đã thừa hưởng nhiều đời kinh nghiệm về NVC. Rõ ràng lịch sử là yếu tố chính chi phối sự lựa chọn và thành công của người Anh đối với chế độ chính trị như vậy.

    Các yếu tố thực tiễn khác cũng rất quan trọng trong sự lựa chọn giữa TTC và NVC. Đó là yếu tố địa lý và xã hội. Mỹ là một trường hợp đáng lấy làm ví dụ cho hai yếu tố quan trọng đó. Là một quốc gia rộng lớn với địa hình biến thiên đa dạng, cộng thêm vào đó là có nhiều sắc dân với bối cảnh văn hoá rất khác biệt. Trong điều kiện như vậy, sự thành công của nước Mỹ trong hơn 200 năm qua cho thấy rằng sự lựa chọn TTC song hành với quy chế liên bang là một sự lựa chọn rất đúng đắn. Giả dụ nếu lựa chọn khác đi, nghĩa là áp dụng hình thái NVC, thì Mỹ có lẽ đã không tồn tại và đứng ở tư thế quốc tế như hiện nay. Điểm quan trọng khác trong yếu tố xã hội là vấn đề giai cấp. Sẽ tuỳ theo giai cấp nào là mạnh nhất và cơ cấu của tầng lớp ưu tú trong xã hội của một quốc gia mà sự lựa chọn TTC hay NVC sẽ phát huy tối đa ưu điểm của mỗi hình thái tổ chức và đưa đến thành công.

    Vắn tắt, theo thiển ý thì việc đánh giá hay chọn lựa hình thái tổ chức quyền lực chính trị nào, trong hai hình thái thông dụng hiện nay là TTC và NVC, là tốt hơn và phù hợp nhất cho mỗi quốc gia nên được thực hiện một cách thực tế, trong khung cảnh văn hoá, lịch sử, điạ lý, chính trị, xã hội và kinh tế của quốc gia đó. Mọi sự lượng định, hay lựa chọn trừu tượng khác, thiếu lưu tâm đến các đặc điểm vừa nêu e rằng sẽ không mang lại được bao nhiêu lợi ích, dù chỉ là những lợi ích nghị luận.

    TRƯƠNG Đ. TRUNG

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    11 phản hồi

    Đồng ý với:

    Phiên Ngưng viết:
    Lịch sử đã chứng minh tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nền độc lập của VN chẳng phải chỉ vào tài trí và sự dũng cảm của mình mà còn nhờ vào thời thế nữa. Trong suốt ngày năm bị trị, hễ lúc nào Trung quốc có loạn là người Việt lại nỗi lên đuổi quân xâm lược về Tàu. Việt nam trong những lần đánh bại quân Tàu qua xâm lăng là nhờ những triều đình và quan tướng dũng lược.

    Nhưng cũng cần nói rằng đó là những sự kiện đã xảy ra và thuộc về lịch sử. Cái vận hành của một hệ thống (hay một quốc gia) hiện đại cần những yếu tố mang tính kỹ trị. Bài chủ (nếu tôi không nhầm) cố gắng chỉ ra sự lựa chọn giữa hai hình thức quản trị quốc gia: tổng thống chế và nghị viện chế, nhưng nếu trên một một tập rỗng về nguồn lực, khoa học, công nghệ,ngân khố rỗng tuyếch, trình độ nguồn nhân lực gần như bằng không vv.. thì dường như tất cả sự luận bàn trở nên vô nghĩa.

    Hãy xét ví dụ như Singapore nếu không vận hành theo những quy tắc kỹ trị hiện đại thì chắc khó tồn tại trong thế giới hiện đại (chưa nói đến sự cường thịnh). Nhưng bi kịch của dân Việt là với sự "quản trị" theo kiểu "cộng sản" thì còn lâu mới đạt được trình độ kỹ trị cần phải có (nếu không muốn nói là không bao giờ !!!).

    Không hiểu sao, thời trước 4/75, miền Nam gọi thể chế của vương quốc Anh và những nước trong Liên Hiệp Anh là Đại nghị. Trong bài này, tác giả Trương Đình Trung gọi là Nghị Viện Chế có lẽ do dịch từ chữ Paliamentarian System.

    Bằng Hữu viết:
    Nên nhớ Toàn quyền hiện nay ở Canada hay ở Úc cũng đều do Nghị viện của các nước đó quyết định, Nữ hoàng Anh chỉ phê chuẩn để bổ nhiệm mà thôi

    Không biết tại Gia nã đại thì sao chứ tại Úc, quan Toàn quyền mặc dầu trên danh nghĩa do Nữ hoàng Úc bổ nhiệm theo đề nghị của thủ tướng chính phủ và vương triều Anh bao gồm quốc hội và Nữ hoàng có quyền phủ quyết đề nghị của thủ tướng Úc, thực tế từ sau khi thành lập Liên Bang Úc vào năm 1901 đến nay, chưa có vị toàn quyền nào bị vương triều Anh phủ quyết. Trước 1930, Toàn quyền Úc thường là công dân của Vương quốc Anh. Sau khi thủ tướng Úc Scullin đã vượt rào khi đề nghị vua George V bổ nhiệm công dân Úc cựu chủ tịch tối cao pháp viện Úc Issac Issacs làm Toàn quyền Úc. Từ đó về sau, quan Toàn quyền Úc đều là công dân Úc đại lợi.

    Trương Đình Trung viết:
    Trước tình hình như vậy thì liệu là người Việt có thể tự mình dựng xây Dân Chủ một cách độc lập hoàn toàn, không lo là sẽ bị một Trung Quốc, đang theo chế độ chuyên chế, quậy phá hay sao? Và trước áp lực ngày càng nặng nề như vậy từ Trung Quốc thì liệu VN có nên thực hiện TẢN QUYỀN rộng rãi,với chính quyền ở trung ương yếu hay không? Hay ngược lại là một nước nhỏ, sống cạnh một nước khổng lồ luôn bị nước đó uy hiếp, VN cần một chính quyền trung ương mạnh, hiệu năng cao để có thể phản ứng kịp thời trong mọi tình huống?

    Tắt lại, theo thiển ý của tôi, việc lựa chọn TTC hay NVC là một vấn đề quan trọng, nên được làm một cách cẩn trọng sau khi phân tích và hiểu biết tình hình thực tế mọi mặt của Đất Nước, không nên chỉ đơn phương dưạ vào những so sánh hay nghị luận, tuy mang tính hàn lâm, nhưng xa rời thực tế.

    Việt nam chắc chắn cần phải có một chính quyền trung ương mạnh để có thể đương cự với những đe dọa từ phương Bắc. Lịch sử đã chứng minh tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nền độc lập của VN chẳng phải chỉ dựa vào tài trí và sự dũng cảm của mình mà còn nhờ vào thời thế nữa. Trong suốt ngày năm bị trị, hể lúc nào Trung quốc có loạn là người Việt lại nỗi lên đuổi quân xâm lược về Tàu. Việt nam trong những lần đánh bại quân Tàu qua xâm lăng là nhờ những triều đình và quan tướng dũng lược.

    Để có một chính quyền trung ương mạnh, điều cần thiết là quy định hẵn hòi của hiến pháp về việc phân quyền chứ không nhất thiết thể chế chính trị nào thì tạo ra chính quyền trung ương mạnh và chính thể nào tạo ra chính quyền trung ương yếu.

    Tổng thống chế thành công ở Mỹ và Pháp một phần vì họ đã tạo ra nhiều cơ chế để ngăn ngừa chuyên chế và độc tài. Những quốc gia khác theo tổng thống chế thường hay dẫn đến chuyên chính và độc tài. Trường hợp Venezuela và gần đây Ai cập là hai thí dụ. Vì không có những cơ chế điều hợp và các nhánh quyền lực khác để bảo đảm chính quyền và lãnh đạo không vượt quá quyền hạn hiến pháp cho phép như ở Mỹ và Pháp, hai quốc gia này một đã rơi vào tình trạng chuyên chế khi Chavez còn sống và quốc gia kia thì dân chúng phải xuống đường làm cách mạng để quân đội phải can thiệp truất phế một tổng thống dân cử đang biến thành nhà độc tài đảng trị.

    Mô hình chính trị cho Việt nam hậu cộng sản có lẽ nên đi theo thể chế dân chủ Đại nghị với lưỡng viện quốc hội trong đó hạ viện bao gồm dân biểu trực tiếp đại diện cử tri trong đơn vị bầu cử của mình và thượng viện là nơi thượng nghị sỹ đại diện cho tỉnh hay thành phố của mình. Để bảo đảm lãnh đạo dân chủ, lãnh tụ nào tại hạ viện đạt đa số quá bán sẽ lập chính phủ và trở thành thủ tướng.

    Một trong những nhược điểm của chính quyền Mỹ là những người tham chính không nhất thiết là dân biểu hay nghị sỹ. Có nghĩa là chính trị gia có thể là doanh nhân, thương gia hay tướng lãnh quân đội... Điều này dẫn đến tình trạng các chính trị gia, tức bộ trưởng thường được bổ nhiệm trong trường hợp đang còn hành nghề tư nhân. Những người này vì thế, thường hay bị tố cáo là ban hành những chính sách có lợi cho doanh nghiệp và ngành nghề của mình. Người ta tố cáo chính quyền Mỹ bị tài phiệt Mỹ chi phối một phần cũng vì chính phủ có thể bổ nhiệm từ tư nhân chứ không nhất thiết từ những vị dân cử.

    Trong khi đó, tại các quốc gia theo thể chế Đại nghị, những vị dân cử thường phải từ bỏ nghề nghiệp riêng để trở thành chính trị gia chuyên nghiệp. Một khi tham chính, họ còn bị ràng buộc phải từ bỏ mọi lợi ích liên quan đến trách nhiệm của mình. Chẳng hạn như bộ trưởng dầu mỏ phải bán hết các cổ phần trong các công ty liên quan đến dầu mỏ, từ các công ty khai thác đến các công ty buôn bán sản phẩm dầu mỏ. Chính vì chính quyền do chính trị gia chuyên nghiệp đảm trách với cố vấn chuyên nghiệp, chính quyền dân cử theo thể chế Đại nghị thường là những chính quyền trong sạch và có năng lực. Trong sạch vì những quy định ràng buộc các vị dân cử và chính trị gia tham chính. Có năng lực vì họ là những chính trị gia chuyên nghiệp.

    Hiến pháp phải quy định rõ ràng về vai trò của lưỡng viện quốc hội, trong việc thành lập chính phủ và thủ tục ban hành luật.

    Vì vị thế dân cử trực tiếp, như đã nói, thủ tướng phải xuất thân từ hạ viện vì đó là nơi người dân trực tiếp bầu người đại diện cho họ. Trong khi đó, thượng viện, vì vai trò đại diện tỉnh thành, sẽ là nơi giám sát chính phủ và duyệt xét luật lệ trước khi ban hành.

    Về việc giám sát chính phủ, thượng viện cần phải có các ủy ban chuyên biệt để theo dõi và điều tra những sai phạm hay khiếm khuyết của chính quyền. Các ủy ban này cũng phải lưu ý đến những vấn đề mà xã hội đặc biệt quan tâm.

    Về việc duyệt xét luật lệ trước khi ban hành, thượng viện phải cứu xét các dự luật để sửa đổi hay bác bỏ dự luật. Hiến pháp phải quy định những rõ ràng chính phủ phải làm gì một khi thượng viện bác bỏ dự luật đệ trình. Hoặc chính phủ phải triệu tập lưỡng viện quốc hội để bỏ phiếu về dự luật hoặc chính phủ có quyền giải tán quốc hội để tổng tuyển cử nếu thượng viện bác bỏ dự luật lần thứ hai.

    Trên đây là những nét chính về một hình thái chính quyền cho Việt nam hậu cộng sản dựa theo kinh nghiệm của chính quyền dân cử theo thể chế Đại nghị của Úc.

    Trích dẫn:
    Nên nhìn rộng ra hơn để thấy nghị viện chế của Canada có thể do nguyên nhân khác. Một trong những nguyên nhân thấy được là nếu Canada "chọn" tổng thống chế thì nữ hoàng Anh đặt ỏ chỗ nào trong mô hình tổng thống chế? (Levu89)

    Canada nguyên là thuộc địa của Anh. Sau các cuộc nổi dậy năm 1837, Anh đồng ý cho Canada được hưởng quy chế tự trị (dominion): chính phủ ở thuộc địa chịu trách nhiệm trước Nghị viện do dân bầu ra thay vì chịu trách nhiệm trước nhà vua (responsible government). Đó chính là tiền đề để Canada tự trị, tiến tới độc lập hoàn toàn. Tương tự như vậy là trường hợp của Úc, New Zealand, v.v…

    Các nước trong hệ thống Westminster ngày nay đều theo chế độ nghị viện. Nếu người dân các nước này không còn muốn coi Nữ hoàng hay Vua Anh là nguyên thủ quốc gia thì họ chỉ việc bầu một tổng thống để thay vào vị trí của Toàn quyền hiện nay - tương tự như trường hợp của Ấn Độ. Nên nhớ Toàn quyền hiện nay ở Canada hay ở Úc cũng đều do Nghị viện của các nước đó quyết định, Nữ hoàng Anh chỉ phê chuẩn để bổ nhiệm mà thôi. Vả lại, Toàn quyền cũng chỉ đóng vai trò tượng trưng chứ quyền hành đều nằm trong tay Thủ tướng (do Nghị viện bầu). Vì vậy đặt vấn đề các nước này đi theo chế độ tổng thống (tổng thống chế) là chuyện “vô duyên”. Họ đã áp dụng chế độ đại nghị hàng trăm năm và tạo ra được một nền chính trị ổn định, thì họ thay đổi chế độ để làm gì?

    Trong số các nước là thuộc địa Anh trước đây, chỉ có Nam Phi là hơi đặc biệt. Ở Nam Phi, Nghị viện bầu ra Tổng thống, nhưng Tổng thống đồng thời là người đứng đầu hành pháp (kiêm Thủ tướng). Nhưng Tổng thống Nam Phi do Nghị viện bầu ra nên vẫn có thể bị Nghị viện bất tín nhiệm giống như đối với Thủ tướng ở các nước đại nghị khác. Tóm lại, Tổng thống Nam Phi thực chất là Tổng thống kiêm Thủ tướng và thể chế chính trị là đại nghị chế chứ không phải là tổng thống chế. (Xem Wikipedia, South Africa – Politics).

    Thưa ông Phát và quý vị,

    Cảm ơn ông Phát và quý vị đã đọc comments của tôi và có lời góp ý, thắc mắc dành cho tôi. Tôi trân trọng những lời góp ý như vậy vì nó giúp tôi suy tư thêm, cặn kẻ hơn.

    Thật tình thì vì bận rộn tôi không thường xuyên vào diễn đàn này, chỉ thỉnh thoảng khi nào rãnh. Mấy tuần này vì đang lấy phép nghỉ nên mới có thì giờ vào Thông Luận đọc và viết vài còm.

    Có vị cho rằng trong comment vừa rồi tôi có ý phản biện ông Kiểng. Thật tình tôi không có ý đó. Bởi vì nếu muốn phản biện ông ấy tôi chắc đã phải viết đàng hoàng, đầy đủ và dài hơn, đi vào từng phần của bài ông ấy viết để luận bàn hay phản bác. Tôi đã không làm được vậy vì thiếu thốn cả năng lực lẫn thời gian; đơn giản tôi chỉ viết vài điều như một GỢI MỞ các bạn trẻ để họ TỰ TÌM HIỂU thêm.

    Vị khác lại thắc mắc tại sao tôi không đưa ra đề nghị riêng của mình trong việc lưạ chọn giữa TTC và NVC cho Việt Nam. Xin thưa là vì tôi rất dè dặt trong việc đưa ra một đề nghị đối với một vấn đề lớn lao như vậy, không muốn đưa ra một nhận định chỉ thuần dựa trên trực giác hay cảm tính, mà chỉ muốn có một chọn lựa dựa vào tri thức và phân tích khách quan các yếu tố Văn hoá, Lịch sử, xã hội, kinh tế, và chính tình của Đất Nước.

    Nhưng để có hiểu biết chính xác các mặt đó của Đất Nước không phải là điều dễ dàng. Chẳng hạn có mấy ai, nhất là người ở hải ngoại, hiểu rõ văn hoá VN hiện nay? Ai có thể trả lời rành mạch về những biến chuyển trong cơ cấu gia đình và xã hội của VN trong 20 năm qua? Rồi nguyện vọng sâu xa của dân chúng trong Nước là gì? Thái độ của đa số họ đối với nhà cầm quyền và đối với các vấn đề của Đất Nước? Những đổi thay về kinh tế trong thời gian qua, đã ảnh hưởng ra sao đến cấu trúc giai cấp, đến tương quan thành thị-nông thôn, đến nếp nghĩ, đến sinh hoạt, đến ý thức cộng đồng, đến các giá trị truyền thống, v.v...ra sao? Về phát triển kinh tế, nền kinh tế VN hiện nay đang ở vào giai đoạn nào,tiền kỷ nghệ hay vẫn còn trong tình trạng chuyển tiếp từ nông nghiệp qua kỷ nghệ? Tác động của toàn cầu hoá đối với văn hoá, cơ cấu gia đình-xã hội của VN ra sao? Rồi còn về đảng CSVN nữa, muốn hay không, về mặt thực tế đó vẫn là một lực lượng chính trị, nếu không muốn nói là một lực lượng duy nhất có tổ chức và mạnh hiện nay, nhưng ai trong chúng ta nắm vững tình hình của cái đảng có đến mấy triệu đảng viên và một lịch sử 80 năm đó? Liệu đảng CSVN có tác động nào đối với những lựa chọn chính trị tương lai? Rồi ra đảng đó, hay các thành viên của họ, sẽ có vai trò ra sao? Có khả năng để loại trừ một lần và vĩnh viễn đảng đó trước khi người dân Việt quyết định lưạ chọn hình thái chính quyền thích hợp?V.v...

    Ngoài ra, phải kể đến tình hình quốc tế,tương quan lực lượng ở Á Châu và vùng ĐNA nữa. Đáng ngac nhiên là phần đông trí thức VN, nhất là ở hải ngoại,đã bàn về Dân Chủ, về thay đổi chính trị ở VN mà không đặt những đề tài đó trong bối cảnh chính trị quốc tế, hoặc nếu có thì cũng thường rất phiến diện. Có vẻ như không mấy ai chú ý rằng VN từ ngàn năm qua và mải về sau luôn phái sống sát nách một nước Tàu khổng lồ, không nhớ rằng năm 1945 cả hai phe Quốc-Cộng đều níu bám vào người Tàu, kẻ bám vào Tưởng, người dựa vào Mao. Nhiều người Việt, tuy ngoài miệng chống Trung Quốc hăng lắm, nhưng quên sờ gáy mình để nhận ra rằng bản thân đang thấm văn hoá của Tàu đến tận trong xương, không ý thức được rằng một khi đã nô lệ về văn hoá thì khó mà có được độc lập trọn vẹn, không hề thắc mắc tại sao siêu cường nào cũng nỗ lực hết mình để truyền bá văn hoá của họ ra khắp nơi! Chễm chệ ở trung tâm người Việt tị nạn ở California là tượng Phước Lộc Thọ. Đó không là biểu tượng văn hoá Trung Hoa? Mọi cơ sở buôn bán lớn của người Việt ở Mỹ đều thuộc về người Việt, nhưng gốc Hoa! Còn trong nước, hiện tuy không có số thống kê chính thức, nhưng theo ông Gabriel Kolko,thì người Hoa đã và đang nắm đến gần 60% cơ sở tư doanh ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận! Đó là công lao của ông cố thủ tướng Võ văn Kiệt, đã giúp hồi hương một số khá đông Hoa kiều bị trục xuất trước kia. Chưa kể là ngoài người Hoa sống ở VN,rất nhiều cơ sở, công ty kinh doanh tư nhân, và cả liên doanh nữa, thuộc về tư bản Hoa kiều đến từ Hong Kong, Đài Loan, Singapore.

    Trước tình hình như vậy thì liệu là người Việt có thể tự mình dựng xây Dân Chủ một cách độc lập hoàn toàn, không lo là sẽ bị một Trung Quốc, đang theo chế độ chuyên chế, quậy phá hay sao? Và trước áp lực ngày càng nặng nề như vậy từ Trung Quốc thì liệu VN có nên thực hiện TẢN QUYỀN rộng rãi,với chính quyền ở trung ương yếu hay không? Hay ngược lại là một nước nhỏ, sống cạnh một nước khổng lồ luôn bị nước đó uy hiếp, VN cần một chính quyền trung ương mạnh, hiệu năng cao để có thể phản ứng kịp thời trong mọi tình huống?

    Tắt lại, theo thiển ý của tôi, việc lựa chọn TTC hay NVC là một vấn đề quan trọng, nên được làm một cách cẩn trọng sau khi phân tích và hiểu biết tình hình thực tế mọi mặt của Đất Nước, không nên chỉ đơn phương dưạ vào những so sánh hay nghị luận, tuy mang tính hàn lâm, nhưng xa rời thực tế.

    Nếu nói nữa thì dài dòng lắm, không thích hợp với một phản hồi, và bản thân tôi cũng không có đủ thì giờ. Chỉ xin trao đổi vắn tắt như vậy cùng ông Phát và quý vị.

    Kính,
    Trưong Đ Trung

    Trích dẫn:
    Nét khác nhau về văn hoá thể hiện ra ở việc người Canadians tôn trọng chính quyền hơn, ít đề cao cá nhân chủ nghĩa, quan tâm hơn đến lợi ích cộng đồng, và không quá đề cao business; trong lúc người Mỹ thì ngược lại.

    Nếu căn cứ vào nhận xét này, có lẽ người dân VN thích TTC (tổng thống chế) hơn vì trên DL vẫn có comment viết về "chờ đợi lãnh tụ". Tôn sùng cá nhân là nét đặc trưng của phong kiến, của CS Á châu.
    Người Việt vẫn còn chưa quen với phong cách làm việc nghị trường, cứ nhìn các ông bà đại biểu ở QH cung kính đảng và các quan đại biểu trong BCT, coi giống các sinh viên trước mặt thầy cô giám khảo

    Trích dẫn:
    Mọi sự lượng định, hay lựa chọn trừu tượng khác, thiếu lưu tâm đến các đặc điểm vừa nêu e rằng sẽ không mang lại được bao nhiêu lợi ích, dù chỉ là những lợi ích nghị luận.

    Mọi bàn luận đều có ích cho người đọc quan tâm. Không phải ai cũng có đủ thì giờ và có sẵn kiến thức để quan tâm chuyện thể chế. Nhưng không có gì chán cho bằng việc những nhà trí thức thiếu tham khảo gặp lúc thời thế đòi hỏi lại kiến nghị những mô hình chệch choạc với thời đại.

    tt tui thấy :

    - Xem bài viết "Cảm nghĩ về vụ Nguyễn Thái Bình" cuả tác giả Trương
    Đình Trung thì có thể thấy phần nào "thể chế" nào mà tác giả muốn thấy.

    - 2 Ông Trương đình Trung và Nguyễn Gia Kiểng dường như đều cùng
    1 lò Thông Luận (Tổ Hợp Dân Chủ Đa Nguyên).

    - Không lẽ cùng 1 lò mà ông nói gà bà nói vịt ?

    Nếu tui nói sai, xin sửa sai hộ cho. Đa tạ.

    Cuối cùng không thấy tác giả nói mô hình nào – « nghị viện chế » hay « tổng thống chế » - sẽ phù hợp cho Việt Nam ? Tác giả « phản biện » ý kiến ông Nguyễn Gia Kiểng, trong khi ông Kiểng đã có sự lựa chọn rõ rệt.
    Bài viết mang tựa đề « Phản xạ tổng thống » của ông Kiểng không đơn thuần là một bài « phê bình » tổng quát (về sự lựa chọn mang tính « phản xạ » hơn là một sự lựa chọn theo lý trí của phần lớn các chính trị gia VN), mà là một bài nghị luận chính trị có giá trị hàn lâm, khoa học. Người ta có thể không chia sẻ lập luận và sự lựa chọn của ông Kiểng. Nhưng muốn phản biện ông Kiểng một cách thuyết phục, ít ra các lý lẽ phản biện cần khoa học (như bài viết chủ).
    Bài viết này của tác giả Trương Trung không có giá trị tương ứng để « phản biện ». Các lý lẽ tác giả sử dụng trong bài rất sơ lược, không cụ thể, nhiều chỗ sai lầm, ý tứ đơn sơ…
    Tác giả chỉ có mục đích phê bình ông Kiểng :
    Dẫn : « Mọi sự lượng định, hay lựa chọn trừu tượng khác, thiếu lưu tâm đến các đặc điểm vừa nêu e rằng sẽ không mang lại được bao nhiêu lợi ích, dù chỉ là những lợi ích nghị luận »
    Để cho rằng bài viết của ông Kiểng tệ đến đỗi không có ích lợi « nghị luận ».
    Tác giả Trương Trung không có lựa chọn, nhưng cho rằng chế độ chính trị phù hợp nhất cho « thực tế » VN hiện nay sẽ tùy thuộc vào các yếu tố : sức mạnh của « giai cấp », « tầng lớp ưu tú trong xã hội », « khung cảnh văn hoá, lịch sử, điạ lý, chính trị, xã hội và kinh tế »...
    Tác giả nói về giai cấp, cho rằng chế độ lựa chọn sẽ tùy thuộc vào sức mạnh của giai cấp. Vậy giai cấp áp đảo ở VN hiện nay là giai cấp nào ? Giai cấp vô sản mà đảng CSVN « đại diện » (đại) phải không ?
    Tác giả cũng nói về « tầng lớp ưu tú trong xã hội ». Tầng lớp này ở VN hiện nay là gồm những ai ? Không phải đảng CSVN là đảng của những tinh hoa, của những con người ưu tú nhất của dân tộc VN ?
    Tác giả cũng nói về « văn hóa, lịch sử, địa lý, chính trị, xã hội và kinh tế ».
    Nếu đặt câu hỏi « Nét đặc thù của văn hóa VN hôm nay là gì » ? Chắc tác giả « bí » phải không ? Không tìm ra được bản sắc văn hóa nào (ngoài bản sắc mác lê nin). Chế độ nào thích hợp với bản sắc văn hóa không tìm thấy ?
    Yếu tố « lịch sử » ? Nhiều tiếng nói đã lên tiếng, cho dầu còn hết sức rụt rè : Bao giờ lịch sử được viết lại ? Cho thấy lịch sử VN hiện nay phần nhiều là phịa sử. Chế độ nào sẽ thích hợp nếu lấy « phịa sử » làm tiêu chuẩn lựa chọn ?
    Yếu tố « địa lý ». Yếu tố địa lý « ăn nhằm » gì đến thể chế chính trị ? Nói đến yếu tố địa lý khắc nghiệt thì phải nói đến Nhật Bản. Chế độ chính trị của Nhật ra sao ? Chế độ quân chủ đại nghị phải không ? Còn nói yếu tố địa lý của « địa lý chính trị », VN gần ông khổng lồ TQ, thì phải chọn thể chế cho « phù hợp ». Việc này cũng không ổn. Nhiều nước chung quanh TQ đã có chế độ chính trị hoàn toàn khác với TQ. Đại Hàn (hay Nhật đã nói), các nước Đông Nam Á…
    Các yếu tố chính trị, xã hội, kinh tế… VN hiện nay là gì ? Nếu lấy nó làm tiêu chuẩn thì chỉ có chế độ “XHCN” là thích hợp phải không?
    Tác giả phản biện ông Kiểng nhưng không thấy đưa ra lựa chọn nào, nhưng thực ra đã có lựa chọn : chế độ hiện thời.

    Chào ông Trung,
    Bài viết của ông có rất nhiều ý diễn giải về Tổng thống chế hay Đại nghị chế nhưng phần kết luận lại không chỉ rõ chúng ra nên làm gì. Do vậy khó có thể phản biện với "Chế độ Tổng thống" của ông Nguyễn Gia Kiểng. Đúng cũng được, sai cũng được, nhưng ít ra chúng ta nên trình bày rõ quan điểm cá nhân và chấp nhận sự phản hồi từ các độc giả khác. Sự khác biệt quan điểm là rất bình thường. Theo ý kiến cá nhân tôi, Việt Nam chúng ta nên chọn chế độ Nghị viện. Các lợi ích của nó được trình bày không thể rõ hơn trong bài tham luận của ông Nguyễn Gia Kiểng. Vài lời chia sẻ cùng ông.

    Thưa ông Levu89,

    Ông đã nêu lên chi tiết rất đúng về vai trò của Nữ hoàng Anh trong hệ thống chính trị của Canada. Nhưng cũng xin nhớ rằng vai trò đó là do thái độ phục tùng của người Canada đối với vương quốc và hoàng gia Anh; một thái độ khác hẳn với thái độ ly khai và revolutionary của người Mỹ. Và hẳn ông hiểu là thái độ hay hành vi lại thuộc về phạm trù văn hoá.

    Điểm kế đến là trong phản hồi của mình tôi chỉ muốn đề cập đến vấn đề một cách tổng quát, chưa dám đưa ra một đề nghị cụ thể về Việt Nam, vì hai lý do. Một là vì việc đó vượt quá khuôn khổ của một phản hồi. Hai là việc phân tích mọi mặt của tình hình VN là một điều vượt rất xa khỏi khả năng của tôi. Vì vậy tôi chỉ dám viết như sau đây, xin ông vui lòng đọc kỹ lại :

    "việc đánh giá hay chọn lựa hình thái tổ chức quyền lực chính trị nào, trong hai hình thái thông dụng hiện nay là TTC và NVC, là tốt hơn và phù hợp nhất cho mỗi quốc gia nên được thực hiện một cách thực tế, trong khung cảnh văn hoá, lịch sử, điạ lý, chính trị, xã hội và kinh tế của quốc gia đó"

    Kính,
    Truong Trung.

    Chào Trương Trung,
    Tạm nói theo ngôn ngữ của bạn cho dễ hiểu là tổng thống chế và nghị viện chế.
    Vậy có phải tổng thống chế của Mỹ và nghị viện chế của Canada theo "...Nhiều tác giả, như Alan Draper , Ansil Ramsay, hay Huntington chẳng hạn, đã cho rằng yếu tố chính dẫn đến sự chọn lựa hình thái quyền lực khác nhau giữa Mỹ và Canada là văn hoá..." là logic, là đúng?
    Nên nhìn rộng ra hơn để thấy nghị viện chế của Canada có thể do nguyên nhân khác. Một trong những nguyên nhân thấy được là nếu Canada "chọn" tổng thống chế thì nữ hoàng Anh đặt ỏ chỗ nào trong mô hình tổng thống chế?
    Điều đáng cho chúng ta quan tâm hiện nay không phải là lý giải tổng thống chế hay nghị viện chế theo ông tây này, bà đầm kia mà chính là chính thể dân chủ nào cho Việt Nam trong tương lai?
    Ôm nguyên con tổng thống chế, nghị viện chế hay vận dụng trí tuệ điều chỉnh, dung hòa hai thể chế hiện có để có một chính thể dân chủ tương đối hoàn chỉnh hơn cho một Việt nam hậu cộng sản?