Nguyễn Gia Kiểng - Phản xạ Tổng thống

  • Bởi nguyen_y_van
    05/07/2013
    9 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    <strong>Dân luận:</strong>
    Nhân sự kiện quân đội Ai Cập phế truất Tổng thống Mohamed Morsi, người đã được bầu lên trong một cuộc bầu cử dân chủ, Ban biên tập Dân luận sẽ đăng lại một bài viết của ông Nguyễn Gia Kiểng trong cuốn sách "Tổ quốc ăn năn" mang tên "Phản xạ Tổng thống". Trong bài viết này, tác giả đã cảnh báo những nguy cơ mà "chế độ tổng thống" đem lại cho một quốc gia dân chủ cũng như cho một quốc gia đang chuyển mình về dân chủ như Ai Cập. Đó cũng là một bài học cho tiến trình dân chủ hóa của chúng ta!

    Trong một cuộc nói chuyện cách đây không lâu, một nhân vật từ trong nước ra có lúc đã nổi sùng cự lại tôi: "Thế anh muốn gì? Anh đòi làm tổng thống hay sao?". Ý vị này là trách tôi đòi thay đổi quá nhiều. Dầu sao ở miệng của một người cộng sản hai tiếng tổng thống cũng là lạ vì chức vụ tổng thống không hề có trong các chế độ cộng sản. Tôi cũng nhớ vào giai đoạn "mở cửa" của ông Nguyễn Văn Linh trong đó trí thức trong nước được phép thi đua phê phán chế độ, Dương Thu Hương đã có một bài tham luận đặc sắc; theo một bài tường thuật, một vị cao niên nào đó đã tán thành đến độ nói với Dương Thu Hương: "Sau này tôi sẽ bầu cho cô làm tổng thống".

    Đối với nhiều người Việt Nam, kể cả người cộng sản, có lẽ tương lai của Việt Nam sau này đương nhiên là chế độ tổng thống. Tuy nhiên chế độ tổng thống là một chế độ rất dở. Cho đến nay trong lịch sử thế giới đã chỉ có một trường hợp chế độ tổng thống tương đối thành công là Hoa Kỳ. Tất cả các quốc gia theo chế độ tổng thống đã thất bại. Trong đại đa số, nó đưa đến độc tài, trong những trường hợp còn lại, nó đưa đến một xung đột bế tắc giữa tổng thống và quốc hội, đặt quốc gia trong tình trạng căng thẳng thường trực.

    Những khuyết tật của chế độ tổng thống không khó nhận diện. Nhưng trước hết phải hiểu thế nào là chế độ tổng thống.

    Nước Đức cũng có tổng thống, nhiều quốc gia theo chế độ đại nghị cũng có tổng thống, nhưng các nước này không áp dụng chế độ tổng thống vì tổng thống chỉ có vai trò nghi lễ; quyền hành ở trong tay một thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Vì thủ tướng đồng thời cũng là lãnh tụ của đảng cầm quyền, hay liên hiệp các đảng cầm quyền, nên cũng có thể bị thay thế bất cứ lúc nào do quyết định của đảng mình hay của liên hiệp đã đưa mình lên làm thủ tướng. Trong các chế độ này tổng thống không cầm quyền nên cũng không bị thay thế trong một nhiệm kỳ nhất định. Chế độ tổng thống là chế độ trong đó tổng thống do dân chúng trực tiếp bầu ra theo phổ thông đầu phiếu, đứng đầu chính phủ và cầm quyền thực sự.

    Có một số chế độ tổng thống không bình thường trong đó tổng thống nắm quyền nhưng lại không được quốc dân trực tiếp bầu ra theo phổ thông đầu phiếu mà do một định chế đặc biệt. Đó là trường hợp của Nam Cao Ly dưới thời Toàn Đầu Hoán, đó cũng là trường hợp của Indonesia từ thời Suharto. Những chế độ này thường là sản phẩm của một tình trạng bất bình thường, nhằm che giấu thực chất của một chế độ độc tài cá nhân nên không thể được coi là những chế độ dân chủ. Nam Cao Ly đã bãi bỏ chế độ này và Indonesia chẳng bao lâu nữa cũng sẽ chuyển hướng về một chế độ hợp lý hơn.

    Trước khi thảo luận về chế độ tổng thống có lẽ chúng ta cần khảo sát một loại chế độ xuất hiện từ vài thập niên nay, được gọi là chế độ "bán tổng thống". Khởi đầu từ Pháp, mô hình này sau đó lan ra một số quốc gia Đông Âu, Nga và Nam Cao Ly. Một số quốc gia châu Phi có lẽ do ảnh hưởng của Pháp cũng theo chế độ này. Trong các chế độ này tổng thống cũng do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra, nhưng lại phải chia sẻ quyền hành pháp với một thủ tướng.

    Nếu chúng ta có thể hiểu khá dễ dàng một chế độ tổng thống hay một chế độ đại nghị thì lại rất khó nhận diện các quan hệ quyền lực trong một chế độ bán tổng thống. Tất cả tùy thuộc ở sự phân chia quyền lực giữa tổng thống và thủ tướng. Nếu thủ tướng không chịu trách nhiệm trước quốc hội mà chỉ do tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước tổng thống thì trên thực tế ông (hay bà) chỉ là một phụ tá của tổng thống, một thứ bộ trưởng thứ nhất, và lúc đó chế độ bán tổng thống chẳng khác gì một chế độ tổng thống thuần túy bao nhiêu. Đó là trường hợp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam trước đây. Ngược lại, nếu thủ tướng xuất phát từ quốc hội và chịu trách nhiệm trước quốc hội thì vai trò của thủ tướng lại có thể quan trọng hơn cả vai trò tổng thống, ít nhất trong chính sách đối nội. Giữa hai thái cực đó là vô số công thức trung gian. Chế độ hiện nay tại Nga có thể coi là chế độ ba phần tư tổng thống, chế độ tại Nam Cao Ly là hai phần ba tổng thống. Điều cần lưu ý là trong bất cứ trường hợp nào trọng lượng của tổng thống cũng rất lớn, vì lý do là ông có sự chính đáng của phổ thông đầu phiếu trực tiếp. Ông là người duy nhất trong quốc gia được toàn dân bầu ra.

    Lý do ra đời của các chế độ bán tổng thống (hãy tạm gọi như thế) là một sự quân bình giữa hai ưu tư bảo đảm dân chủ và ngăn ngừa bất ổn chính trị. Người ta muốn một tổng thống vững chắc do dân chúng bầu ra với một nhiệm kỳ rõ rệt, nhưng lại sợ nếu để ông (hay bà) nắm trọn hành pháp thì sẽ dẫn tới độc tài hoặc xung đột bế tắc với quốc hội. Đây là thái độ mà ta có thể gọi là bắt cá hai tay.

    Kinh nghiệm của các chế độ bán tổng thống đã có thể cho phép chúng ta hai nhận định.

    Một là, về mặt thực tế, hậu quả đã khác với những gì những người khởi xướng ra nó tưởng tượng. Các chế độ "ba phần tư tổng thống" như tại Nga vẫn giữ hầu như nguyên vẹn những bất lợi của một chế độ tổng thống, trong khi các chế độ thực sự bán tổng thống như tại Pháp đưa đến tình trạng ngược đời là nhân vật nhiều quyền lực nhất, nghĩa là tổng thống, lại có thể thuộc phe đối lập với tất cả những bất tiện của nó: hai vị nguyên thủ hành pháp cùng đi dự một hội nghị, những lời qua tiếng lại không ngừng trên đỉnh cao của quốc gia làm người dân mất đi sự nể trọng và tin tưởng vào nhà nước, đe dọa khủng hoảng thường trực, v.v... Cũng nên nhấn mạnh một tính toán sai lầm của những người khai sinh ra chế độ bán tổng thống là việc tổng thống và thủ tướng thuộc hai đảng chống đối nhau không phải là một ngoại lệ mà đã mau chóng trở thành một thông lệ trong các chế độ bán tổng thống thực sự, như đã thấy tại Ba Lan và Pháp. Cử tri hay có thái độ "công bình", đã bầu cho tổng thống thuộc phe này thì bầu cho một đa số trong quốc hội, và do đó thủ tướng, thuộc phe kia. Các nhà làm hiến pháp đã bắt cá hai tay thì có gì ngạc nhiên nếu dân chúng cũng bắt cá hai tay? Điều đáng ngạc nhiên chính là người ta đã ngạc nhiên khi tình trạng này xảy ra. Chính trị quả thực chỉ là một khoa học thực nghiệm.

    Hai là các chế độ bán tổng thống đã là hậu quả của một sai lầm về nhận thức chính trị. Lý do để bầu ra một tổng thống theo phổ thông đầu phiếu là để bảo đảm một mức độ ổn vững chính trị nào đó, tránh tình trạng chính phủ bị thay đổi liên tục bởi một quốc hội trong đó không có một đa số rõ rệt, mỗi lần các đảng phái thay đổi đồng minh là một thủ tướng và một chính phủ mới. Nhưng thực ra sự kiện một quốc hội gồm hai đảng lớn hay bị phân chia thành nhiều đảng nhỏ không phải là một hậu quả của chế độ đại nghị mà chỉ là hậu quả của thể thức đầu phiếu.

    Nói chung, có hai thể thức đầu phiếu chính:

    Thể thức thứ nhất là bầu đơn danh và một vòng, trong đó cử tri ở mỗi đơn vị bầu cử bầu một dân biểu và chỉ bầu một lần, người nào được số phiếu cao nhất thì đắc cử. Với lối bầu "dã man" này, một đảng có thể chỉ được 20% số phiếu của cử tri toàn quốc mà vẫn nắm được hai phần ba số dân biểu trong quốc hội nếu các ứng cử viên của họ về hạng nhất, thí dụ như với 20%, trong hai phần ba số đơn vị bầu cử trong khi các ứng cử viên khác chỉ được 12% hay 15%. Lối bầu cử này loại bỏ các đảng nhỏ và nâng đỡ các đảng lớn. Nó đặt các đảng nhỏ trước một chọn lựa: hoặc kết hợp lại với nhau thành một đảng lớn, hoặc bị gạt ra ngoài lề; nó dần dần đưa tới chế độ lưỡng đảng.

    Thể thức thứ hai là bầu theo tỷ lệ. Theo lối đầu phiếu này, cử tri toàn quốc, hay trong mỗi vùng lớn, sẽ bầu cho các liên danh do các chính đảng đưa ra. Sau cuộc bầu cử, mỗi liên danh sẽ được một số dân biểu theo tỷ lệ, thí dụ một liên danh được 25% số phiếu thì được 25% tổng số dân biểu, hay hơn một chút bởi vì thường thường người ta hay qui định một tỷ lệ tối thiểu của số phiếu đạt được, thí dụ 5%, để được chia ghế; các chính đảng không được 5% tổng số phiếu của cử tri không được chia phần, số ghế dân biểu đáng lẽ về phần họ được đem chia cho các đảng vượt được tỷ lệ 5%. Lối bầu phiếu này rất dân chủ vì nó cho phép mọi khuynh hướng chính trị có chút tầm vóc được hiện diện trong quốc hội, và do đó được tham dự thảo luận về các chọn lựa lớn của nhà nước. Ngược lại, nó thường đưa đến tình trạng khó khăn là quốc hội bị chia vụn thành nhiều đảng nhỏ, không đảng nào nắm được đa số và do đó thủ tướng có thể bị thay đổi thường xuyên nếu do quốc hội chỉ định và chịu trách nhiệm trước quốc hội, như trong các chế độ đại nghị.

    Như vậy nếu muốn tránh tình trạng bất ổn do một quốc hội bị chia vụn thì người ta chỉ cần chấp nhận lối đầu phiếu đơn danh và một vòng là xong, không cần phải phát minh ra một chế độ bán tổng thống, hai phần ba tổng thống hay ba phần tư tổng thống.

    Tóm lại, cả lý do khiến các chế độ gọi là bán tổng thống được phát minh ra lẫn những hậu quả mà người ta dự đoán chúng sẽ đem lại đều là những sai lầm. Sai lầm về phân tích chính trị hoặc sai lầm về tiên liệu phản ứng của cử tri. Nói như thế không có nghĩa là tôi đề nghị gạt bỏ chế độ bán tổng thống một cách không thương tiếc. Ít nhất nó cũng sửa chữa được phần nào những xơ cứng của chế độ tổng thống. Nó có thể là một giải pháp trấn an cho chúng ta sau này nếu do lo âu và lưỡng lự - không đúng nhưng khó trút bỏ - chúng ta chưa dám chọn lựa dứt khoát chế độ đại nghị.

    Bây giờ trở về với chế độ tổng thống. Những bất lợi và nguy cơ của chế độ tổng thống không khó nhìn thấy.

    Trước hết, nó dành quá nhiều quyền cho một người không thể bị thay đổi trong một thời gian dài, ít nhất cũng bốn năm. Tổng thống có thể dùng quyền lực này mà bất chấp cả quốc hội. Nếu trong thời gian này tổng thống làm toàn sai lầm, hoặc vi phạm luật pháp thì sao? Hậu quả là đất nước bị lâm vào tình trạng bệnh hoạn vô phương cứu chữa trong suốt nhiệm kỳ, hoặc sẽ phải trải qua một cuộc khủng hoảng lớn trước khi hạ bệ được tổng thống. Điều mà người ta nghĩ là một ưu điểm của chế độ tổng thống - sự kiện nguyên thủ hành pháp không thể bị thay đổi trong một nhiệm kỳ - thực ra là một mối nguy. Chế độ tổng thống cũng chờ đợi quá nhiều đức tính và khả năng ở một người trong khi không ai có thể hoàn hảo, hơn nữa ai cũng có thể bị sút giảm sức khỏe và khả năng một cách bất ngờ.

    Nhưng còn một hậu quả nghiêm trọng hơn là chế độ có thể trở thành độc tài. Tâm lý tại các nước thiếu mở mang là hay bầu lại cho người cầm quyền trừ khi ông ta quá tồi dở. Một tổng thống mị dân có thể mê hoặc cử tri để trở thành một thứ thần tượng rồi không những tái đắc cử mà còn đem cả tay chân và thủ hạ vào quốc hội, sửa đổi hiến pháp, ban hành tình trạng khẩn cấp, v.v... để kéo dài thời gian cầm quyền. Đó là tình trạng đã xảy ra ở hầu hết các nước mới được độc lập. Đó đã là trường hợp của mọi nước châu Mỹ La Tinh, trừ Chile, trong một thế kỷ rưỡi từ giữa thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20.

    Và nếu tổng thống xung đột với quốc hội? Nhà nước sẽ chỉ được quản lý theo lối xử lý thường vụ; luật quốc hội biểu quyết tổng thống không ban hành, các đề nghị của tổng thống quốc hội không chấp nhận. Đất nước sẽ dẫm chân tại chỗ trong khi bối cảnh quốc gia và quốc tế thay đổi. Guồng máy nhà nước cũng có thể bị ngừng trệ vì ngân sách không được biểu quyết hoặc tháo khoán.

    Cách bầu cử tổng thống qua phổ thông đầu phiếu tự nó đã không đứng đắn.

    Cuộc bầu cử một người trên một nước lớn đòi hỏi những chi phí rất quan trọng cho ứng cử viên, do đó chỉ có những người rất giàu hoặc được sự hỗ trợ của những thế lực tài phiệt lớn mới có thể tranh cử. Như vậy bằng cách này hay cách khác quyền lãnh đạo chính trị sẽ luôn luôn thuộc về người giàu có chứ không phải thuộc về người thực sự có trí tuệ và khả năng.

    Lối bầu cử tổng thống là bầu cho một người trước khi bầu cho một dự án chính trị. Tổng thống có thể được bầu vì những lý do không liên hệ gì với khả năng chính trị: con cháu một vĩ nhân, đẹp trai, ăn ảnh, vợ đẹp, nói chuyện duyên dáng, v.v... làm mất sự nghiêm trang của sinh hoạt quốc gia. Cử tri có thể bầu cho một ứng cử viên như thế, nhưng sau đó lại nhàm chán với sinh hoạt chính trị.

    Lô-gích của một cuộc bầu cử tổng thống là được ăn cả ngã về không cho nên các cuộc bầu cử tổng thống thường rất gay gắt và gây chia rẽ trầm trọng, nhất là trong một quốc gia đang bị đặt trước những chọn lựa khó khăn. Mỗi cuộc thay đổi tổng thống đều tương tự như một cuộc cách mạng với những người rất vui mừng và những người rất tức giận.

    Hậu quả của chế độ tổng thống cũng là làm tan vỡ các đảng phái chính trị. Tình trạng này có hai lý do. Một là vì sự được hay thua dựa trên một người nên nhu cầu là có được một ê-kíp quảng cáo chính trị tốt chứ không phải một bộ tham mưu chính trị giỏi, vấn đề là làm thế nào để đánh bóng được ứng cử viên của mình để giành được chức tổng thống trước khi cần những nhà chiến lược lớn. Hai là vì chức vụ tổng thống là tất cả cho nên những nhân vật lớn trong cùng một đảng không thể thỏa hiệp với nhau. Hai nhân vật ngang tầm cỡ với nhau không thể thỏa hiệp để người có hy vọng hơn ra ứng cử, bởi vì không có sự qua lại, phải nhượng bộ tất cả hoặc không nhượng bộ gì hết. Các quốc gia theo chế độ tổng thống vì vậy thường không thể có các chính đảng lớn như tại các quốc gia theo chế độ đại nghị. Sự kiện thiếu vắng các chính đảng lớn là một bất lợi trầm trọng cho quốc gia. Các chính đảng lớn vừa là lò đào tạo ra các nhà lãnh đạo vừa là nơi mổ xẻ và trao đổi những ý kiến về những chọn lựa quan trọng đặt ra cho đất nước.

    Hơn nữa, các nước theo chế độ tổng thống không phải chỉ thiếu chính đảng lớn mà còn thiếu chính đảng đúng nghĩa. Vì tất cả quyền hành tập trung vào tổng thống nên vị tổng thống nào cũng lôi kéo được sự hùa theo của một số đông đảo những phần tử cơ hội chủ nghĩa và vụ lợi. Tổng thống luôn luôn có một đảng rất lớn nhưng thường không có phẩm chất, bởi vì phần lớn là những phần tử xu nịnh.

    Tôi sống tại Pháp và đã theo dõi năm cuộc bầu cử tổng thống. Mỗi cuộc bầu cử là mỗi lần dân Pháp bị chia làm hai phe. Kết quả vừa được công bố thì lập tức hàng trăm nghìn người xuống đường đốt pháo bông, bóp kèn, nhảy múa và gào hét "On a gagné!" [Ta đã thắng!] trong khi những người thuộc phe thua thì lòng đau như cắt. Mỗi lần bầu cử tổng thống là mỗi lần nội bộ các đảng lớn khủng hoảng trầm trọng. Trong đảng xã hội, tổng thống Mitterrand và nhân vật uy tín thứ hai là Michel Rocard trở thành những kẻ thù, không phải chỉ suốt đời mà cả sau khi ông Mitterrand đã chết. Đảng Xã Hội hầu như tan rã sau lần bầu cử tổng thống thứ hai. Bên cánh hữu thì Tập Hợp Cộng Hòa, đảng lớn nhất, cũng tan rã dần sau cuộc bầu cử tổng thống. Đôi bạn ba mươi năm Chirac và Balladur đã trở thành những đối thủ không thể nhìn mặt nhau, sau khi cả hai đều ra ứng cử tổng thống dù thuộc cùng một đảng. Nguyên nhân lúc nào cũng giống nhau: người ta không thể thỏa hiệp, bởi vì chức vụ tổng thống là tất cả. Hậu quả tai hại như vậy dù Pháp mới chỉ là một nước theo chế độ bán tổng thống, trong đó hiến pháp dành cho thủ tướng toàn quyền trong các vấn đề kinh tế xã hội.

    Bây giờ, hãy nhìn ngay vào trường hợp Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất mà chế độ tổng thống có thể coi là thành công. Sự thành công này có một giải thích: Hoa Kỳ không giống bất cứ một quốc gia nào khác trên thế giới.

    Quốc gia này đã được thành lập sau khi xã hội dân sự đã trở thành mạnh mẽ, từ đó xã hội dân sự luôn luôn nắm vai trò chủ động, nhà nước Hoa Kỳ luôn luôn là một nhà nước nhẹ tới mức tối thiểu. Trong tác phẩm để đời của ông Về Nền DânChủ Mỹ [De la Démocratie en Amérique] viết năm 1830, Alexis de Tocqueville kể lại rằng ông tìm gặp một thị trưởng một thành phố khá lớn tại Mỹ và thấy một người rất tầm thường đang loay hoay sửa mái nhà, qua câu chuyện ông thấy vị thị trưởng chỉ có một trình độ hiểu biết rất giới hạn. Tocqueville nhận ra là tại Mỹ những người thông minh và tài giỏi đều lao vào kinh doanh làm giàu, chỉ những người trung bình mới tham gia vào chính quyền. Chính quyền vì vậy luôn luôn trọng nể xã hội dân sự và tự cho mình sứ mạng là phục vụ xã hội dân sự và tạo điều kiện để xã hội dân sự có thể hoạt động lành mạnh. Nền tảng của nước Mỹ là xã hội dân sự. Không những thế Hoa Kỳ lại theo chế độ liên bang, tản quyền tối đa, vai trò của nhà nước trung ương lại càng bị giảm thiểu. Trong phần thảo luận về dân chủ, chúng ta đã nói tự do mới là cứu cánh của chính trị, vì thế ưu tư đầu tiên phải là giảm thiểu vai trò của chính quyền để nhường chỗ tối đa cho cá nhân và xã hội dân sự. Hoa Kỳ là bằng chứng rằng một chính quyền dở mà nhẹ vẫn hơn một chính quyền tốt nhưng kềnh càng. Một nét đặc thù khác của nước Mỹ là ngay từ ngày lập quốc nó đã có một đồng thuận rất mạnh trên một triết lý chính trị, triết lý chính trị đó là chủ nghĩa cá nhân tự do. Vì vậy mà Hoa Kỳ không có những cuộc tranh luận chính trị lớn. Các « issues » của những cuộc bầu cử chỉ là những vấn đề nhỏ: có nên hạn chế quyền phá thai không, có cho phép cầu nguyện trong trường học không, ủng hộ hay không ủng hộ án tử hình, hay cùng lắm là tăng hay giảm 0,5% thuế, v.v... Trường hợp Hoa Kỳ vì vậy không thể nới rộng cho các quốc gia đang bị đặt trước những chọn lựa quan trọng. Các nước khác bắt chước chế độ tổng thống của Hoa Kỳ đã chỉ tiến dần về độc tài và bế tắc.

    Tuy vậy, chế độ tổng thống cũng đã gây những khó khăn đáng kể cho Hoa Kỳ, một tổng thống kém cỏi như Harding đã có thể tiếp tục trong sự sai lầm, góp phần quyết định đưa cả Hoa Kỳ và thế giới vào cuộc khủng hoảng bi đát 1929. Chính cuộc khủng hoảng này đã giúp cho các đảng phát-xít lên cầm quyền tại Ý và Đức, đưa đến thế chiến; nó cũng đã cung cấp lập luận cho chế độ cộng sản Liên Xô và nhiều chế độ độc tài khác để bài bác dân chủ. Một thí dụ gần đây hơn là vụ tai tiếng của Bill Clinton và Monica Lewinski, gây chia rẽ và bối rối vô ích cho nước Mỹ trong hơn một năm trời. Nếu Clinton chỉ là một thủ tướng, ông đã có thể từ chức một cách êm thấm. Hoa Kỳ đã thành công với chế độ tổng thống nhờ một xã hội dân sự mạnh, tổ chức liên bang, chính quyền nhẹ và đồng thuận cao, nhưng chắc chắn Hoa Kỳ sẽ thành công hơn nhiều nếu theo chế độ đại nghị.

    Cần lưu ý là vào lúc lập quốc, chính quyền liên bang Hoa Kỳ chỉ có một nhiệm vụ chính là đảm bảo quốc phòng. Dần dần với vai trò ngày càng lớn trên thế giới và với các vấn đề ngày càng phức tạp, chính quyền liên bang đã trở thành một chính quyền thực sự, nhưng đồng thời chế độ Hoa Kỳ cũng chuyển biến từ từ tới gần một chế độ đại nghị.

    Tại Pháp, do sự phá sản của lối đầu phiếu theo tỷ lệ được đổ lỗi oan cho chế độ đại nghị và do uy tín áp đảo của tướng De Gaulle, chế độ bán tổng thống đã được thành lập, nhưng càng ngày càng có những tiếng nói có thẩm quyền cất lên đòi chuyển hóa về chế độ đại nghị. Maurice Druon, cựu bộ trưởng của De Gaulle và viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp, đánh giá chế độ tổng thống là một sai lầm vĩ đại của De Gaulle.

    Thực ra chế độ tổng thống là gì? Nó là một cải tiến của chế độ quân chủ tuyệt đối theo hai hướng: một là vua được bầu ra do phổ thông đầu phiếu thay vì lên ngôi theo cha truyền con nối và được gọi là tổng thống; hai là quyền hạn của tổng thống được qui định theo hiến pháp. Tóm lại, chế độ tổng thống là một bước tiến do dự từ chế độ quân chủ sang dân chủ. Nói khác đi, nó phản ánh một lấn cấn tiếc nuối đối với những chế độ mệnh danh là "độc tài sáng suốt". Ông Nguyễn Ngọc Huy đã bày tỏ tâm lý này trong cuốn Chủ Nghĩa Dân Tộc SinhTồn. Ông giải thích rằng trước đây đảng Đại Việt chọn chế độ độc tài và theo lãnh tụ chế vì vào lúc đảng Đại Việt được thành lập các chế độ độc tài đang thịnh hành; sau đó vì các chế độ độc tài không còn được nhìn nhận, đảng Đại Việt đã chuyển sang chế độ tổng thống vì nghĩ rằng chế độ này giữ được những ưu điểm của chế độ độc tài dù vẫn dân chủ. Ngày nay thực tế đã chứng minh rõ ràng rằng không làm gì có những "ưu điểm" của chế độ độc tài cả, các "chế độ độc tài sáng suốt" chỉ là một huyền thoại, mọi chế độ độc tài đều tồi tệ. Chỉ còn một chọn lựa dứt khoát là dân chủ. Chế độ dân chủ nhất là chế độ đại nghị, trong đó quyền hành thuộc về một thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội.

    Trong chế độ đại nghị, người dân bầu một cách đúng đắn hơn hẳn, họ bầu cho một dự án chính trị thay vì cho một người, và họ cũng bầu cho hàng trăm dân biểu cùng một lúc. Cử tri mỗi đơn vị có phương tiện để tiếp xúc và tìm hiểu các ứng cử viên để có thể bầu với sự hiểu biết. Rủi ro sai lầm giảm đi, và sai lầm nếu có cũng không trầm trọng vì họ chỉ bầu một trong số bốn, năm trăm dân biểu.

    Vị thủ tướng có thể bị quốc hội thay đổi bất cứ lúc nào và phải luôn luôn chứng tỏ khả năng của mình trước một "hội đồng giám khảo" có bản lãnh. Do đó thủ tướng vừa phải có thực tài vừa phải hết sức thận trọng. Sự thay đổi thủ tướng, nếu cần, cũng không gây ra khủng hoảng lớn. Các chính đảng cũng hoạt động nghiêm túc và hài hòa hơn, hai nhân vật ngang tầm cỡ trong cùng một đảng cũng có thể dễ dàng thỏa hiệp với nhau hơn, để một người làm lãnh tụ và trở thành thủ tướng nếu đảng thắng cử, bởi vì chức thủ tướng không phải là tất cả, thủ tướng chỉ là người thứ nhất trong số những người ngang nhau trong một chính phủ.

    Chế độ thủ tướng chắc chắn hơn hẳn chế độ tổng thống, với điều kiện là nó vừa bảo đảm được một mức độ ổn vững tương đối vừa bảo đảm được tiếng nói của mọi khuynh hướng trong các cuộc tranh luận trên những vấn đề lớn của đất nước. Đó là một bài toán có lời giải.

    Chúng ta đã biết là lối đầu phiếu đơn danh và một vòng đưa tới một quốc hội với hai đảng lớn. Mặt khác chúng ta cũng biết rằng lối đầu phiếu theo tỷ lệ đảm bảo tiếng nói trong quốc hội cho mọi khuynh hướng.

    Như vậy giải pháp tối ưu là một thể chế đại nghị tản quyền với một quốc hội trong đó 90% dân biểu được bầu theo thể thức đơn danh và một vòng, và 10% còn lại được bầu theo tỷ lệ. Số 90% bầu theo thể thức đơn danh bảo đảm sự hiện diện của một đa số trong quốc hội và do đó sự ổn vững của chính quyền, trong khi số 10% bầu theo tỷ lệ có hai mục đích, một là bảo đảm cho mọi khuynh hướng được có tiếng nói, hai là cho phép những người lãnh đạo các chính đảng khỏi phải lo tranh cử tại các địa phương và tập trung cố gắng vào những vấn đề quốc gia. Giải pháp này đã được đưa ra trong Dự ÁnChính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996 của nhóm Thông Luận. Gần đây, Guy Carcassonne, chuyên gia có uy tín về các định chế chính trị tại Pháp, phản ánh những trao đổi của các chuyên gia lớn trên thế giới về hiến pháp, cũng đi tới cùng một đề nghị.

    Người Việt Nam chúng ta sở dĩ coi chế độ tổng thống là tự nhiên vì đó là chế độ không cộng sản duy nhất mà đại đa số chúng ta biết tới. Ở miền Nam Việt Nam trước đây đã chỉ có chế độ tổng thống. Sau này hai cộng đồng người Việt hải ngoại lớn nhất là tại Mỹ và Pháp, cả hai nước này đều theo chế độ tổng thống. Từ đó chúng ta tiêm nhiễm một thứ phản xạ tổng thống. Nhưng có những phản xạ rất có hại, cũng như có những thành kiến cần phải từ bỏ.

    Nguyễn Gia Kiểng

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    TỔNG THỐNG CHẾ HAY NGHỊ VIỆN CHẾ?

    Sự phân biệt giữa hai hình thức thức tổ chức quyền lực chính trị nêu trên có lẽ không xa lạ với những người Việt lớn tuổi, nhưng chắc là không mấy quen thuộc với một số không ít các bạn trẻ hiện nay ở trong Nước. Ở đây chỉ xin làm một tóm lược những điểm căn bản nhất của hai hình thức tổ chức rất phổ biến đó, nhằm góp phần gợi mở để các bạn trẻ ấy tự tìm hiểu thêm.

    Có nhiều sự khác biệt quan trọng giữa Tổng Thống Chế (TTC)( Presidential system) và Nghị Viện Chế (NVC, hay còn gọi là Đại Nghị Chế)(Parliamentary system), nhưng tiêu chuẩn chính yếu để phân biệt là mức độ phân chia giữa hai quyền, hay hai ngành, LẬP PHÁP và HÀNH PHÁP (Executive and Legislative branches): Trong TTC hai ngành Lập pháp và Hành pháp hoàn toàn biệt lập và độc lập với nhau; Quốc Hội, hay Nghị viện, nắm quyền lập pháp, làm ra luật (laws); Tổng Thống, người được cử tri trực tiếp bầu, nắm quyền hành pháp, tức là thi hành và áp dụng luật. Còn trong NVC thì hai quyền này tập trung vào trong tay Quốc Hội hay Nghị viện, là cơ quan bầu chọn ra vị Thủ Tướng, người nắm quyền hành pháp.

    Trong TTC, mọi dự luật (bills) là do quốc hội soạn thảo, biểu quyết, xong rồi chuyển qua cho TT để ký thành luật (laws). TT có quyền phủ quyết (veto), nghiã là không chấp nhận , trả dự luật về lại cho quốc hội. Quốc hội có thể vô hiệu hoá quyền phủ quyết đó của TT bằng cách tái biểu quyết dự luật với đa số 2/3 để dự luật trở thành luật. Ngoài quyền phủ quyết, TT có quyền đề nghị dự luật và gởi qua cho quốc hội thảo luận, biểu quyết. TT cũng có thể xử dụng quyền hành pháp của mình để ban hành, trong phạm vi hiến định, các chỉ thị (directives), điều lệ (regulations), hay luật hành chánh (administrative laws) để điều hành guồng máy chính quyền của mình. Quyền thẩm định một đạo luật, chỉ thị, điều lệ hay luật hành chánh có phù hợp với hiến pháp hay không thuộc về Tối Cao Pháp viện, toà án cao nhất, đứng đầu ngành tư pháp, độc lập hoàn toàn với hai ngành kia.

    Nói rằng trong NVC hai quyền Lập pháp và Hành pháp tập trung vào tay quốc hội, hay nghị viện là vì người đứng đầu ngành hành pháp trong chế độ đó, thường là thủ tướng, là một thành viên của quốc hội, được chính đảng, hoặc liên minh chính đảng, chiếm đa số trong quốc hội đó chọn bầu ra. Vị thủ tướng này sẽ thành lập chính phủ (cabinet) gồm các bộ trưởng chọn trong chính đảng hay liên minh của mình. Vì thuộc về và do quốc hội bầu chọn, vị thủ tưởng của NVC chỉ chịu trách nhiệm trước quốc hội, có thể bị quốc hội bãi nhiệm bằng phiếu bất tín nhiệm, nhưng cũng có thể được quốc hội lưu nhiệm bao lâu đảng hay liên minh của ông vẫn còn chiếm đa số. Nghiã là vị thủ tướng trong NVC, trong nhiều trường hợp có thể giữ được ghế của mình khá lâu, không bị ràng buộc về nhiệm kỳ như tổng thống trong TTC.

    Ngoài khác biệt căn bản trên, các biến dạng về sau này của TTC chỉ đặt trọng tâm trên mức độ phân chia quyền hành pháp, mà không hề thay đổi nét chính yếu của TTC là sự phân quyền rõ rệt giữa hành pháp và lập pháp.

    Nhân đây cũng xin lưu ý đến sự phân biệt giữa Phân quyền và Tản quyền. Phân quyền (separation of power) là sự phân chia quyền lực chính trị theo chiều ngang thành 3 ngành chính: Lập pháp (làm luật); Hành pháp ( thi hành và áp dụng luật); và Tư pháp ( phân xử hay tài phán). John Locke, một người Anh, khoảng cuối thế kỷ 17 đã viết trong quyển Two Treatises of Government về nguyên tắc phân quyền. Mục đích chính của sự phân quyền là để tránh sự độc quyền, nhất là độc quyền của chế độ quân chủ. Về sau trong việc lập quốc, người Mỹ đã hiện thực hoá chủ trương phân quyền đó của John Locke, đưa vào trong hiến pháp của mình.

    Còn tản quyền là sự phân chia quyền lực theo chiều dọc, từ trung ương ra các địa phương (decentralization). Việc tản quyền có khác nhau tuỳ theo quốc gia thuộc quy chế liên bang hay hay đơn nhất. Nếu là quốc gia theo chế độ liên bang (federation) thì sự phân chia quyền thường bao gồm cả phân quyền hàng ngang, tuy ở quy mô nhỏ hơn. Nghĩa là mỗi ở mỗi tiểu bang vẫn chia ra lập pháp (quốc hội), hành pháp ( thống đốc), và tư pháp. Trong khi đó thì ở quốc gia theo quy chế đơn nhất (unitary country), sự tản quyền, một cách căn bản chỉ là sự phân chia quyền lực hành chánh từ trên xuống, từ trung ương ra địa phương, không bao hàm sự phân quyền ra ba ngành như trong quy chế liên bang. Ngoại lệ ở đây là có những quốc gia, tuy theo quy chế đơn nhất, lại có những vùng tự trị ( autonomic regions). Những vùng tự trị đó đôi khi có cơ quan lập pháp riêng của mình.

    Trở lại sự so sánh về TTC và NVC. Từ lâu rồi đã có nhiều tác gỉa nêu ra những ưu và khuyết điểm của hai hình thái tổ chức quyền lực chính trị đó. Mỗi hình thái đều có đủ hai phe; phe thì cho rằng hình thái này tốt hơn hình thái kia, phe thì nói ngược lại. Nghĩa là sự đánh giá của các tác gỉa chưa đạt được sự phân thắng bại cuối cùng rằng hình thái nào là tốt nhất, đáng đem ra áp dụng một cách rộng rãi, đồng nhất cho mọi quốc gia. Theo thiển ý thì sỡ dĩ có tình trạnh bất phân thắng bại như vậy là vì đa số các tác giả đã lượng định sự hay dỡ của mỗi hình thái đó một cách trừu tượng, không gắn liền sự đánh giá các hình thái đó với đặc điểm cụ thể của từng quốc gia về các mặt: văn hoá, địa lý, lịch sử, xã hội, kinh tế, v.v...

    Chẳng hạn về văn hoá, có thể lấy Mỹ và Canada làm ví dụ. Hai quốc gia này chia chung biên giới với nhau, cùng có gốc gác từ Anh Quốc và Âu Châu, nhưng Mỹ theo TTC, còn Canada theo NVC. Cả hai quốc gia này đều thành công, đều phát triển tốt, đạt các chỉ số về phát triển nhân sinh ( Human Development Index), về Tự do kinh tế ( Index of Economic Freedom), và về Dân quyền ( Freedom House) cao nhất thế giới. Vậy vì sao hai quốc gia đó lại chọn hai hình thái tổ chức quyền lực khác nhau? Nhiều tác giả, như Alan Draper , Ansil Ramsay, hay Huntington chẳng hạn, đã cho rằng yếu tố chính dẫn đến sự chọn lựa hình thái quyền lực khác nhau giữa Mỹ và Canada là văn hoá. Nét khác nhau về văn hoá thể hiện ra ở việc người Canadians tôn trọng chính quyền hơn, ít đề cao cá nhân chủ nghĩa, quan tâm hơn đến lợi ích cộng đồng, và không quá đề cao business; trong lúc người Mỹ thì ngược lại.

    Những yếu tố khác như lịch sử chẳng hạn cũng tác động mạnh đến sự lựa chọn và sự thành công của một trong hai hình thái quyền lực. Anh Quốc vốn đã có truyền thống lâu đời về nghị viện, các chính khách ở đó đã thừa hưởng nhiều đời kinh nghiệm về NVC. Rõ ràng lịch sử là yếu tố chính chi phối sự lựa chọn và thành công của người Anh đối với chế độ chính trị như vậy.

    Các yếu tố thực tiễn khác cũng rất quan trọng trong sự lựa chọn giữa TTC và NVC. Đó là yếu tố địa lý và xã hội. Mỹ là một trường hợp đáng lấy làm ví dụ cho hai yếu tố quan trọng đó. Là một quốc gia rộng lớn với địa hình biến thiên đa dạng, cộng thêm vào đó là có nhiều sắc dân với bối cảnh văn hoá rất khác biệt. Trong điều kiện như vậy, sự thành công của nước Mỹ trong hơn 200 năm qua cho thấy rằng sự lựa chọn TTC song hành với quy chế liên bang là một sự lựa chọn rất đúng đắn. Giả dụ nếu lựa chọn khác đi, nghĩa là áp dụng hình thái NVC, thì Mỹ có lẽ đã không tồn tại và đứng ở tư thế quốc tế như hiện nay. Điểm quan trọng khác trong yếu tố xã hội là vấn đề giai cấp. Sẽ tuỳ theo giai cấp nào là mạnh nhất và cơ cấu của tầng lớp ưu tú trong xã hội của một quốc gia mà sự lựa chọn TTC hay NVC sẽ phát huy tối đa ưu điểm của mỗi hình thái tổ chức và đưa đến thành công.

    Vắn tắt, theo thiển ý thì việc đánh giá hay chọn lựa hình thái tổ chức quyền lực chính trị nào, trong hai hình thái thông dụng hiện nay là TTC và NVC, là tốt hơn và phù hợp nhất cho mỗi quốc gia, nên được thực hiện một cách thực tế, trong khung cảnh văn hoá, lịch sử, điạ lý, chính trị, xã hội và kinh tế của quốc gia đó. Mọi sự lượng định, hay lựa chọn trừu tượng khác, thiếu lưu tâm đến các đặc điểm vừa nêu e rằng sẽ không mang lại được bao nhiêu lợi ích trong nỗ lực đạt đến một quyết định thực tiễn sau cùng, có chăng chỉ là những lợi ích nhỏ nhoi về mặt nghị luận mà thôi.

    TRƯƠNG Đ. TRUNG

    Hãy hạnh phúc với những gì bạn hiểu và xin giới thiệu đến bạn bài viết:
    "Tiến Trình Hình Thành Chính Thể Dân Chủ" của Le Nguyen để bạn tham khảo.
    Sách vở Tây, Ta hay Tàu...chỉ để củng cố tư duy và đọc học là phương tiện để hình thành tư tưởng cho riêng mình.

    Trích dẫn:
    Hiện tại chính thể dân chủ chỉ có hai mô hình là Dân Chủ Cộng Hòa và dân Chủ Đại Nghị. Những thứ ông Kiểng cảm nhận như bán tổng thống, 2/3 tổng thống, 3/4 tổng thống cũng chỉ là do chính thể dân chủ chưa hoàn chỉnh! (Levu89)

    Quan niệm này hoàn toàn sai. Lâu nay trên thế giới có hai mô hình chính trị chính: tổng thống chế (régime présidentiel) và đại nghị chế (régime parlementaire). Chế độ cộng hòa có thể là tổng thống chế (vd: Hoa Kỳ), mà cũng có thể là đại nghị chế (vd: Đức, Áo). Một số chế độ đại nghị là quân chủ lập hiến, trong đó vua hay nữ hoàng chỉ đóng vai trò biểu tượng quốc gia (vd: Anh, Nhật, Hà Lan).

    Một mô hình mới xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới II là mô hình bán-tổng thống (régime semi-présidentiel). Mô hình này còn được gọi là mô hình lai ghép (régime hybride) vì nó kết hợp cả hai mô hình cổ điển. Đây không phải là mô hình không hoàn chỉnh mà vì một số nước không thể áp dụng được một trong hai mô hình cổ điển nên phải cải tiến thành mô hình ghép. Vd: Pháp theo mô hình đại nghị từ cuối thế kỷ 19 cho đến giữa thế kỷ 20. Vì tình hình chính trị không ổn định nên phải cải tiến thành mô hình bán-tổng thống. Mô hình chính trị là sản phẩm của hoàn cảnh, của lịch sử, đâu phải là sản phẩm của phòng thí nghiệm hay thuần túy lý thuyết, vì thế rất khó đánh giá là hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu. Nếu nó chịu đựng được qua thời gian thì nó sẽ được đánh giá cao.

    Còn mô hình được gọi là "Dân Chủ Cộng Hòa" lại là một mô hình dân chủ "rởm". Nó chẳng khác gì mô hình "dân chủ nhân dân" mà các nước cộng sản hay dùng để che đậy thực chất độc tài. Các nước như Cộng hòa Dân chủ Đức, Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đều là cộng sản trá hình. Cộng hòa Dân chủ Congo ở châu Phi cũng là một thứ độc tài trá hình. Ở VN, do bị nhiễm tuyên truyền của cộng sản nên cho đến nay rất nhiều trí thức vẫn còn mơ hồ, tưởng rằng "Dân chủ Cộng hòa" là một mô hình dân chủ.

    Những vị Tổng Thống tại các nước như Liên Bang Đức , Do Thái hay gần chúng ta nhất là tại Tân Gia Ba ( Singapore ) là những vị Tổng Thống tuy không có thực quyền chỉ mang tính biểu tượng nghi lễ , nhưng những vị ấy là biểu tượng quốc gia và được toàn dân kính trọng tuy họ không có thực quyền , bởi quyền hành đều nằm cả trong tay Thủ Tướng chính phủ . Những vị ấy tuy được Quốc Hội bầu chọn nhưng họ vẫn còn tham gia một đảng phái chính trị cho nên không hoàn toàn vô tư được . Một vị Tổng Thống của toàn dân là một chính khách không thuộc một đảng phái nào , có uy tín trước Quốc Dân và Thế Giới . Mong sao trong một tương lai rất gần , đất nước ta có một nền Dân Chủ Đa Nguyên , tam quyền phân lập theo chính thể của một nền Đệ Tam Cộng Hòa được thành lập trên toàn cõi Việt Nam . Lúc ấy , Quốc Hội của đất nước thật sự do dân bầu với hệ thống đa nguyên chính trị , cũng sẽ bầu lên một vị Tổng Thống đứng ngoài các đảng phái , có tinh thần đạo đức và liêm khiết để toàn dân ngưỡng mộ và noi gương vậy !

    Levu89 viết:
    Không nên biến cái đơn giản dễ hiểu thành cái phức tạp khó hiểu, đừng luận sự vật hữu hình trở thành trừu tượng bí hiểm...trong vũng lầy lý luận.

    Tôi thấy hiện nay vẫn còn là thời điểm tốt đề bàn về các chọn lựa mà trên thế giới đã có nhiều nước làm rồi. Bởi vì một khi đã tiến hành rồi thì thể chế được chọn sẽ có đà tiến của nó, và sẽ mang lại những hệ quả mà một phần trong đó môn chính trị học có thể tiên đoán được. Điều mà ông Kiểng đã làm (từ gần 20 năm trước) chính là khảo sát một loạt các chọn lựa và những hệ quả rất có thể xảy ra. Ta nên tự trách mình không dành đủ thì giờ để hiểu những cái rắc rối của cả một ngành học nghiêm túc, hơn là dán nhãn "vũng lầy lý luận" cho các vấn đề đã được các nhà chuyên môn nhận ra.

    Mục đích của các cuộc luận bàn này nói cách nôm na thì là: ta tránh đào đất dựng cột để dùng lại trên diện rộng chiếc điện thoại có dây kiểu cũ, mà hãy phóng vệ tinh để dùng ngay chiếc di động mới nhất của Samsung!

    @Visiteur mã số 92350:

    Ông A vẫn là dân biểu, vì tỉ lệ phiếu bầu cao của ông ấy vẫn chỉ từ một địa phương. Còn chuyện đảng đưa ông ấy lên thì có lẽ vì những lý do khác (không nhất thiết vì ông ấy chinh phục được trọn vẹn thành phố Đà Nẵng, chẳng hạn).

    Đúng là việc liên minh sẽ kéo dài thời gian lập chính phủ, nhưng các đảng phái có thể đã định được thế liên minh từ trước khi có cuộc bầu cử.

    Trích dẫn:
    Trước hết, nó dành quá nhiều quyền cho một người không thể bị thay đổi trong một thời gian dài, ít nhất cũng bốn năm. Tổng thống có thể dùng quyền lực này mà bất chấp cả quốc hội. Nếu trong thời gian này tổng thống làm toàn sai lầm, hoặc vi phạm luật pháp thì sao?

    Nếu thế thì tại sao hiến pháp không giới hạn quyền lực của tổng thống ? Quốc hội có quyền đề nghị bãi nhiệm tổng thống nếu theo chế độ bỏ phiếu trực tiếp tất cả công dân. Tòa án tối cao có quyền xét xử tổng thống vi phạm luật pháp và chấp thuận bãi nhiệm.

    Quốc hội có quyền đề nghị và bãi nhiệm tổng thống nếu theo chế độ bỏ phiếu gián tiếp (thông qua đại biểu QH hoặc hội đồng cử tri)

    Trích dẫn:
    Chế độ dân chủ nhất là chế độ đại nghị, trong đó quyền hành thuộc về một thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội.

    Khi là thủ tướng, nắm điều hành chính phủ theo chính sách của QH đề ra, sẽ không còn là đại biểu QH để tránh gây ảnh hưởng trong QH và đối chọi quyền lợi.

    Tổng thống chỉ nắm chức vụ biểu tượng, đại diện quốc gia, đứng ngoài tranh chấp chính trị.

    @Trần Hữu Cách, Levu89,

    Tôi chưa hiểu hết ý của bác Kiểng !

    Đại khái theo tôi hiểu trong thực tế :
    - Bầu đơn danh và một vòng : nếu cử tri ở mỗi đơn vị bầu cử bầu một dân biểu và chỉ bầu một lần thì đối với cá nhân, có thể vi dụ ông A thuộc đảng BB, đạt số phiếu rất cao, đứng đầu cả nước trong khi đó đảng B chỉ đứng hạng 4 trong số các đảng tranh cử cả nước.
    Ông A có thể trở thành thủ tướng hay không ? Hay là thủ tướng được đề cử từ đảng có số phiếu cao nhất (ví dụ đảng CC đạt 30%) hoặc liên minh các đảng thắng cử đề cử thủ tướng của họ (đảng AA 25%, đảng BB 23%, đảng DD 20) ?

    Liên minh các đảng có khả năng kéo dài thời gian lập chính phủ nếu các đảng không đạt thỏa thuận vì khó có đảng nào đạt được trên 55% số phiếu để không cần liên minh với vài đảng khác.

    - Tại sao lại là 90/10?
    Tôi không hiểu tại sao tỷ lệ 90/10.
    10% còn lại được bầu theo tỷ lệ : có lẽ đây là đại diện cho các nhóm thiểu số của một vùng, một lĩnh vực nào đó. Họ có thể không có đủ cử tri đê, có một vài đại diện đại biểu QH
    Các đại biểu đều có quyền ngang nhau nhưng các đại biểu tỷ lệ thiểu số sẽ có tiếng nói quan trọng cho thiểu số của họ

    Ví dụ một nước có ba sắc dân : A (70%), B (25%), C (5%). Sắc dân C chắc chắn cần có số đại biểu bầu theo tỷ lệ

    Ông Kiểng quá say mê lý luận nên đã sa đà, bế tắc và mâu thuẩn trong chính lý luận của ông: một là luận về bầu cử đơn danh và một vòng; hai là luận về chế độ tổng thống.
    “... Bầu đơn danh và một vòng, trong đó cử tri ở mỗi đơn vị bầu cử bầu một dân biểu và chỉ bầu một lần, người nào được số phiếu cao nhất thì đắc cử. Với lối bầu "dã man" này, một đảng có thể chỉ được 20% số phiếu của cử tri toàn quốc mà vẫn nắm được hai phần ba số dân biểu trong quốc hội nếu các ứng cử viên của họ về hạng nhất...
    ...Như vậy nếu muốn tránh tình trạng bất ổn do một quốc hội bị chia vụn thì người ta chỉ cần chấp nhận lối đầu phiếu đơn danh và một vòng là xong, không cần phải phát minh ra một chế độ bán tổng thống, hai phần ba tổng thống hay ba phần tư tổng thống...”(Nguyễn Gia Kiểng)
    Không thể lý luận bầu đơn danh và một vòng lúc thì cho là dã man, khi thì bảo để tránh tình trạng bất ổn...chỉ cần chấp nhận lối đầu phiếu đơn danh và một vòng là xong?
    Hiện tại chính thể dân chủ chỉ có hai mô hình là Dân Chủ Cộng Hòa và dân Chủ Đại Nghị. Những thứ ông Kiểng cảm nhận như bán tổng thống, 2/3 tổng thống, 3/4 tổng thống cũng chỉ là do chính thể dân chủ chưa hoàn chỉnh!
    Không nên biến cái đơn giản dễ hiểu thành cái phức tạp khó hiểu, đừng luận sự vật hữu hình trở thành trừu tượng bí hiểm...trong vũng lầy lý luận.

    Từ lâu tôi ủng hộ chọn lựa của ông Nguyễn Gia Kiểng về thể chế, nhưng vẫn ngạc nhiên với đề nghị cuối cùng ở đây: không hiểu ai sẽ được bầu theo quy chế 90%, ai sẽ được bầu theo quy chế 10%, rồi hai "loại" người này khi đắc cử thì họ làm việc khác nhau ra sao? Tại sao lại là 90/10? Hy vọng sẽ được quý vị trong Dự Án Chính Trị Dân Chủ Ða Nguyên 1996 tiếp tục giải thích.

    Về nhận định trong bài chủ về tổng thống chế ở Mỹ, tôi thấy vài điều ngược lại: Mỹ có hai đảng lớn, nhiều nhân tài, và chính phủ liên bang bây giờ quả thật rất đồ sộ, nhất là trong khả năng chi tiền! Mô hình chính phủ nhỏ dường như chỉ có trong lý tưởng của phe Cộng Hòa, mà một tổng thống thành công của đảng này là ông Ronald Reagan đã không làm theo.