Nguyễn Xuyến - Tư tưởng Quyền Con Người trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Bác Hồ

  • Bởi Admin
    8.174 lượt đọc
    05/05/2013
    33 phản hồi

    Nguyễn Xuyến

    Dân Luận: Nhân sự kiện buổi dã ngoại tìm hiểu về Quyền Con Người của các Công Dân Tự Do ngày Chủ nhật 5/5 vừa kết thúc, Dân Luận xin giới thiệu tới độc giả một bài viết đánh giá quan điểm của Hồ Chí Minh về Quyền Con Người để thấy rằng chính quyền và Đảng CSVN hiện nay có phải thực sự học theo tư tưởng Hồ Chí Minh hay không.

    Trong tư tưởng cách mạng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, vấn đề quyền con người đã chiếm vị trí quan trọng đặc biệt. Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng Việt Nam về quyền con người, Bác Hồ là người đã tiếp cận một cách khoa học nhất, đầy đủ nhất và nhân văn nhất. Nó bắt đầu bằng Bản yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919 và phát triển đến đỉnh cao xán lạn là Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945.

    1289866586.nv_.gif

    Trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Versailles vào đầu năm 1919, sau cuộc thế chiến lần thứ nhất, do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, gồm 8 điểm mà điểm thứ hai là yêu cầu “cải cách nền công lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu”, bảo đảm “tự do báo chí và tự do ngôn luận; tự do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”. Nội dung đấu tranh đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là đòi hỏi thực dân Pháp cải cách nền công lý nhằm bảo đảm các quyền con người.

    Trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam, Bác Hồ đã gắn liền vấn đề “độc lập dân tộc” với vấn đề “các quyền tự do dân chủ của nhân dân”. Bác Hồ vừa biết chiếm lĩnh đỉnh cao về “quyền dân tộc” và “quyền tự do dân chủ”, vừa biết kết hợp tài tình hai mặt tất yếu không thể tách rời đó: quyền sống, tự do của dân tộc và quyền sống, tự do của con người.

    Ngày 2.9.1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là kết quả tuyệt vời của trí tuệ, điểm hội tụ tư tưởng thời đại, tư tưởng nhân văn cách mạng tư sản cận đại Âu - Mỹ, tư tưởng nhân văn truyền thống phương Đông và tư tưởng nhân văn Mác-Lênin hiện đại.

    Mở đầu Bản Tuyên ngôn Độc lập là hai câu được trích dẫn từ “Tuyên ngôn Độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp (1791) đều nói đến quyền con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng này những giá trị vững bền, đó là “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một sự thật hiển nhiên, đó là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do”. Người đã mở rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc. Quyền lợi của mỗi cá nhân được coi là cơ sở cho quyền lợi của dân tộc. Tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình. Đó là sự thống nhất giữa quyền sống của mỗi con người và quyền độc lập của dân tộc.

    Một trong những tư tưởng nổi tiếng, mang tầm vóc thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập là đã nêu lên một luận điểm hoàn toàn mới về quyền con người: Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền tự quyết của mỗi dân tộc, thể hiện rõ tính thống nhất biện chứng không thể tách rời giữa quyền con người, quyền công dân và quyền dân tộc thiêng liêng.

    Luận điểm nhân quyền nói trên là kết quả kiểm nghiệm và nghiên cứu lý luận, lịch sử trong hơn 30 năm của Người, kể từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (1911).

    Trước toàn thế giới, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945 là hòn đá tảng pháp lý đầu tiên khẳng định cả trên nguyên tắc, cả trên thực tế, quyền sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một tầm cao mới về chất, dưới ánh sáng của thế giới quan khoa học, phản ánh đúng thực trạng đặc thù của dân tộc Việt Nam. Người đã nhận thức hết sức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa tự do cá nhân và tự do của cộng đồng, giữa giải phóng cá nhân và giải phóng toàn xã hội. Người khẳng định rằng, muốn giải phóng toàn bộ những lực lượng xã hội, muốn xã hội phát triển, thì trước hết phải giải phóng toàn diện cá nhân - con người, tạo ra những tiền đề cho sự phát huy cao độ những khả năng tiềm tàng trong mỗi cá nhân. Và chỉ khi đó, quyền con người mới được hiện thực hóa.

    Qua thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ bảo vệ quyền con người chân chính. Và cũng chính vì vậy mà bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 có thể được coi như là bản Tuyên ngôn về quyền con người của các dân tộc thuộc địa.

    Sau bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 10.2.1948, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua “Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền”. Nhưng rất tiếc là, văn kiện này đã không tránh khỏi khiếm khuyết cơ bản, đó là, khái niệm nhân quyền chỉ là quyền của cá nhân, không tính đến các điều kiện chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa... của mỗi dân tộc, trong đó có quyền dân tộc tự quyết.

    Năm 1966, Liên hiệp quốc lại thông qua 2 công ước quốc tế được coi là “Bộ luật nhân quyền quốc tế”. Đó là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966). Năm 1993, Liên hiệp quốc lại ra Tuyên bố Viên và Chương trình hành động. Những văn kiện này đã xác định: Quyền dân tộc tự quyết là một quyền con người. Điều 1 của hai công ước trên đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết...”. Tuyên bố Viên và Chương trình hành động đã nhấn mạnh: “Việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền”. Như vậy, rõ ràng, tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước nhận thức chung của Liên hiệp quốc hơn 20 năm. Đó là đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển sáng tạo tư tưởng quyền con người của nhân loại trong thế kỷ 20.

    Tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ ở trong Tuyên ngôn Độc lập mà còn được thể hiện phong phú trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của Người, cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta.

    NGUYỄN XUYẾN

    __________________________

    Nguyễn Ái Quốc - Yêu sách của Nhân dân An Nam (1919)

    Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.

    Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

    1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

    2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

    3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

    4. Tự do lập hội và hội họp;

    5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

    6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

    7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

    8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

    Đưa ra những yêu sách trên đây, nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa thế giới của tất cả các cường quốc và đặc biệt tin vào lòng rộng lượng của nhân dân Pháp cao cả, tức là của những người đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, của những người, do chỗ nước Pháp là một nước Cộng hoà, nên được coi là những người bảo hộ cho nhân dân An Nam. Khi nhân dân An Nam nhắc đến sự “bảo hộ” của nhân dân Pháp, thì không lấy thế làm hổ nhục chút nào mà trái lại còn lấy làm vinh dự: vì nhân dân An Nam biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho tự do và công lý, và không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao cả của mình là tình bác ái toàn thế giới. Vì thế, nghe theo tiếng nói của những người bị áp bức, là nhân dân Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình đối với nước Pháp và đối với Nhân loại.

    Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam
    NGUYỄN ÁI QUỐC

    __________________________

    Diễn Ca "Mười chính sách của Việt Minh" của Hồ Chí Minh

    Việt Nam độc lập đồng minh

    Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây.

    Quyết làm cho nước non này,

    Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:

    Làm cho con cháu Rồng, Tiên,

    Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta.

    Có mười chính sách bày ra,

    Một là ích nước, hai là lợi dân.

    Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân,

    Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền.

    Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,

    Họp hành, đi lại, có quyền tự do.

    Nông dân có ruộng, có bò

    Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.

    Công nhân làm lụng gian nan,

    Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.

    Gặp khi tai nạn bất ngờ,

    Thuốc thang chính phủ bấy giờ giúp cho.

    Thương nhân buôn nhỏ, bán to

    Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền.

    Nào là những kẻ chức viên,

    Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.

    Binh lính giữ nước có công,

    Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu.

    Thanh niên có trường học nhiều,

    Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho.

    Đàn bà cũng được tự do,

    Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.

    Người tàn tật, kẻ lão niên,

    Đều do chính phủ cất tiền ăn cho.

    Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,

    Dạy nuôi, chính phủ giúp cho đủ đầy.

    Muốn làm đạt mục đích này,

    Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn.

    Sao cho từ Bắc chí Nam,

    Việt Minh có hội muôn vàn hội viên.

    Người có sức, đem sức quyên,

    Ta có tiền của, quyên tiền của ta.

    Trên vì nước, dưới vì nhà,

    Ấy, là sự nghiệp, ấy là công danh.

    Chúng ta có hội Việt Minh

    Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh

    Rồi ra sự nghiệp hoàn thành

    Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng

    Khuyên ai nên nhớ chữ đồng,

    Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh ».

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    33 phản hồi

    Có lẽ những người lao động ít học nhìn nhận cụ Hồ đúng hơn những trí thức (CS). Những người lao động ít học thường không đọc những lý thuyết cao siêu của cụ Hồ mà chỉ nhìn những gì cụ Hồ làm nên thường không bị cụ Hồ bịp bơm như những trí thức (CS). Cụ Hồ nói về quyền con người nhưng từ khi cụ lên cầm quyền, cụ chưa hề thực hiện quyền con người đối với dân Việt Nam (cụ thể là dân ở miền Bắc, gồm cả những người miền Nam ra tập kết). Nhiều người đã biết rõ về cụ Hồ, riêng ông Nguyễn Xuyến chưa biết (hay đã quên) nên tôi nói để ông biết (hoặc nhắc) để ông nhớ. Hồi cụ Hồ còn sống thì chính cụ ký sắc lệnh CCRĐ giết người cướp của, giết người vô lý do, hay chính xác lý do duy nhất là người ta có ruộng (nhưng có người không có ruộng thậm chí đã có công với kháng chiến) cũng gị giết. Rồi chính cụ Hồ còn ban hàng chế độ tem phiếu, thay lương thực và hàng hóa bàng giấy, không cho dân ăn, không cho dân mặc, không cho dân mua sắm. Những ai chê chính sách cuả cụ Hồ thì bị chụp cho cái mũ "lạc hậu" hay "phản động", ai sơ chính sách của cụ Hồ liền tìm đường vượt biển trốn ra nước ngoài thì bị đuổi bắt như đuổi bắt nô lệ và bị kết án tử hình cũng có.
    Nói một đẳng, làm một nẻo là bản chất của những người CS, trong đó "vị cha già dân tộc" hay "cáo già dân tộc" là điển hình rõ nhất.
    Cụ Phan Bội Châu có nhận xét về Nguỹen Ái Quốc (tức Hồ) như sau:

    "TRONG NHỮNG NGƯỜI XUẤT DƯƠNG HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG THÌ NGUYỄN ÁI QUỐC LÀ NGƯỜI SẮC XẢO NHẤT, NHƯNG NAQ LÊN CẦM QUYỀN THÌ NƯỚC LOẠN."

    Cuộc cắm trại của người dân muốn biết về nhân quyền đã thể hiện phần nào cái loạn, cái loạn này không do dân gây ra mà lại do chính quyền gây ra, nó cũng thể hiện bộ mặt nhân quyền của CS và những gì Hồ già đã nói trước kia. Luật ruộng đất đã gây ra mối loạn trên khắp 63 tỉnh thành trên toàn quốc, rồi loạn giá, nay còn có biểu hiện loạn Đảng trong hàng ngũ CS, đó là chưa kể những cái loạn đạo đức trong từng nhà, CS lê cầm quyền thì nảy sinh loạn từ trong nhà loạn ra xã hội. Xem công an đánh người vô tội vạ thì nhân quyền ở đâu.
    Lời cuối cùng tôi nhắc ông Xuyến: Xin ông đừng ngồi trong phòng lạnh giở những cuốn sách mốc ra đọc mà hãy chịu khó đi ra ngoài, hoà mình vào với dòng đời, với xã hội, mở mắt ra mà nhìn thì đến bố CS cũng không lừa bịp được. Tôi chỉ sợ ông nhìn cảnh xã hội thì ông lại uất ức vì thấy mình bị Hồ già lừa dối, rồi ông ức mà chết, hoặc là ông nổi khùng vì thấy bọn công an lưu manh côn đồ không còn biết thế nào là quyền con người và chính chúng dạy cho ông "thế nào là quyền con người" trong cái nhà nước Đảng quyền dã man mọi rợ, bất chấp pháp luật này.

    NX: " Tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ ở trong Tuyên ngôn Độc lập mà còn được thể hiện phong phú trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của Người, cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta." Hết trích.

    Úy, thế vụ Nhân Văn Giai Phẩm thì sao ạ? Và đốt sách, báo, văn hóa phẩm của VNCH năm 1975? hay 1976? nữa. Hic!

    Nguyễn Xuyến viết:
    Như vậy, rõ ràng, tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước nhận thức chung của Liên hiệp quốc hơn 20 năm. Đó là đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển sáng tạo tư tưởng quyền con người của nhân loại trong thế kỷ 20.

    Tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ ở trong Tuyên ngôn Độc lập mà còn được thể hiện phong phú trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của Người, cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta.

    Không cần phải khen đểu. Tư tưởng và hành động của HCM từ sau ngày đọc bản tuyên ngôn độc lập cho đến chết là thước đo về giá trị của cái gọi là "Tư tưởng quyền con người" của HCM

    Pages