Xã hội dân sự trong các chế độ cộng sản đang đổi mới: Logic xuất hiện (2)

  • Bởi Admin
    28/04/2013
    0 phản hồi

    Marcia A. Weigle, Jim Butterfield<br />
    Lâm Yến dịch

    Khủng hoảng có hệ thống: I

    Các giá trị và vận động xã hội tự chủ, và vì thế các hạt giống của xã hội dân sự, hình thành trong các chế độ hậu toàn trị là kết quả của một cuộc khủng hoảng có hệ thống. Cuộc khủng hoảng này có cội rễ từ chỗ các chế độ đã không thể đạt được thành công tối thiểu trong việc thực hành các chức năng tự định của mình về thiết lập giá trị và đại diện lợi ích. Trong trường hợp đầu, nỗ lực không thành công của nhà nước trong việc áp đặt gói giá trị lên dân chúng có thể được coi là thất bại về văn hóa hóa (enculturation). Touraine đã ghi nhận điểm này trong trường hợp của Ba Lan. "Ba Lan luôn có 2 mặt: một đất nước thực sự chưa bao giờ bị che đậy hoàn toàn bởi cái chính thức, một đời sống trí thức chưa bao giờ bị suy giảm [đến mức] chỉ còn lại chỉ còn ý thức hệ thống trị, và sự áp đặt của nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa (bất kể nhà nước đã sử dụng các áp lực táo bạo thế nào để áp đặt lên dân tộc, thì nó vẫn chỉ là một hồi kịch đen tối ngắn). [1]

    Rõ ràng là các giá trị do đảng-nhà nước truyền bá không được quần chúng chấp nhận và hấp thu. [2] Cũng giống như nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một lớp người "thuộc chủng soviet", nỗ lực của các chế độ này trong việc viết lại hệ thống giá trị xã hội bằng cách sử dụng quyền lực chính trị để áp đặt một hệ thống giá trị mới đã thất bại. Báo chí và các ấn bản chính thức được viết bằng một thứ ngôn ngữ, trong khi các tranh luận trong xã hội lại được thực hiện bằng một thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác. [3] Một [trong những] giá trị cụ thể không đi vào công chúng được là chủ nghĩa quốc tế cộng sản chủ nghĩa do Soviet thống trị. Bằng chứng của thất bại này là việc mỗi nước trong khối Soviet chọn các con đường tới chủ nghĩa xã hội khác nhau sau cái chết của Stalin, và ảnh hưởng của giới trí thức dân tộc chủ nghĩa Nga lên các chính sách Cộng sản của USSR. [4]

    Trong thập kỷ 60 và 70, các chế độ Cộng sản ít tập trung hơn vào tuyên truyền các giá trị xã hội chủ nghĩa. Thay vào đó, trong khuôn khổ thể chế của mình, họ tập trung củng cố tập hợp lợi ích đang ngày càng trở nên phức tạp của xã hội. Đã thất bại trong việc thay đổi hình ảnh của mình trong xã hội, các chế độ hậu toàn trị tìm cách xây dựng các nhóm ủng hộ, đặc biệt là trong số các nhà quản trị, giới trí thức, và quan trọng nhất là, giới công nhân lao động. Với việc khẳng định [rằng mình] đại diện cho các lợi ích của một xã hội đang hiện đại hóa với tốc độ ngày càng nhanh chóng, đảng Cộng sản đã tài trợ cho các tổ chức, nhằm gộp các nhóm ủng hộ này vào trong các ranh giới tổ chức của chế độ. Khi các nỗ lực định hướng sự tham dự của xã hội đã tỏ ra thất bại, sự bất tương thích giữa đảng-nhà nước với các lợi ích của xã hội đã dẫn tới các biểu hiện bất mãn công khai.

    Việc chế độ kiên quyết khẳng định vai trò độc tôn trong việc đại diện cho các lợi ích và kiểm soát các kênh tham dự - trong khi khoảng cách giữa các giá trị và lợi ích của tư nhân và công cộng ngày càng mở rộng - đã dẫn đến các kêu gọi "tự vệ" cho xã hội. Đến thời điểm này, việc bác bỏ độc quyền của đảng về cả các phần hữu hình (tổ chức xã hội) lẫn vô hình (đạo đức và văn hóa) của hệ thống xã hội đã được bộc lộ rõ nét. Các hình thức tự vệ cho quyền tự chủ của cá nhân và xã hội có nhiều nét khác nhau giữa các nước, phụ thuộc vào các quan hệ thể chế và khuynh hướng văn hóa.

    Trường hợp Trung Âu:

    Các cấu trúc tự vệ chính thức ở Ba Lan có một lịch sử lâu dài: nhà thờ, các tổ chức xã hội ngầm, các nhóm công nhân tích cực. Trong khi phần lớn xã hội vẫn thờ ơ với các quá trình chính trị chính thức, [5] sự tồn tại của các thể chế và các nhóm xã hội độc lập tương đối chính là cái nhắc nhở rằng khẳng định độc tôn của đảng-nhà nước (về đại diện cho các lợi ích của xã hội) cùng lắm chỉ là sự khẳng định hời hợt. Nhà nước Ba Lan khoan dung cho nhiều mức độ tự chủ trong giai đoạn tự vệ [của xã hội dân sự] nhằm giữ ổn định và dung hợp. Chỉ khi chế độ buộc phải chấp thuận cho nới rộng không gian công dành cho các hoạt động công cộng trong giai đoạn cuối thập kỷ 1970, thì các diễn đàn công này mới cung cấp các phương tiện đã thiết kế sẵn cho công chúng nhằm làm suy yếu khả năng kiểm soát và tính chính đáng của đảng.

    Ở Hungary và Czechoslovakia (những quốc gia phải trả giá bằng sự can thiệp của Soviet vì đã dung dưỡng các hoạt động độc lập của xã hội trong những năm 1956 và 1968), kêu gọi của giới trí thức nhằm bảo vệ các giá trị xã hội độc lập đã được hướng một cách có tính toán tới bộ phận công chúng chán ghét nhà nước ở mức độ cơ sở hơn. Vì thế, Vaclav Havel nhắc nhở các công dân Czechoslovakia rằng các hành vi công cộng nhìn bề ngoài có vẻ vô hại được thiết kế ra nhằm thỏa mãn các đòi hỏi của chế độ sẽ dẫn tới sự thoái hóa đạo đức nếu trên thực tế các giá trị của chế độ không được thực tâm công nhận. "Sống với sự thực" - hay rõ hơn là sự nhất quán giữa các giá trị cá nhân và hành vi công cộng, ngay cả khi bị chế độ trả thù - đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong công cuộc tự vệ trước sự thống trị của nhà nước-đảng. [6] Ở Đông Đức, một nhóm những người theo chủ nghĩa hòa bình cho rằng độc lập cá nhân không phải là một vấn đề đạo đức, mà là một trách nhiệm công dân. [7] Chính trong giai đoạn này, những năm của thập kỷ 1960 và 1970, khái niệm "thành bang song song" bắt đầu xuất hiện trong văn học Đông Âu. [8] Trong một số trường hợp, "thành bang song song" diễn tả sự độc lập đạo đức của công dân trước các nỗ lực xóa bỏ không gian công của các chế độ hậu toàn trị, hoặc bằng cách làm nản lòng các sáng kiến dân sự, hoặc bằng cách thiết lập và tài trợ cho các tổ chức với mục đích thu hút sự tham dự của xã hội. Thành bang song song được cư ngụ bởi các công dân không hấp thụ các giá trị của chế độ.

    Nhiều khi sự tự vệ của xã hội lại diễn ra dưới hình thức tổ chức. Ðó là khi các nhà hoạt động xã hội tạo ra các nhóm độc lập, nhằm thúc ép nhà nước thực hiện các cam kết mà nó đã hứa hẹn với các nhóm xã hội hay xã hội nói chung. Các nhóm xuất hiện trong những năm 1970 như Ủy ban Bảo vệ Công nhân (KOR) và Phong trào Bảo vệ các Quyền Dân sự và Con người (ROPCiO) ở Ba Lan, và Ủy ban Bảo vệ Người bị Ngược đãi (VONs) và Hiến chương 77 ở Czechoslovakia. KOR được thành lập với mục đích giúp đỡ công nhân và gia đình họ trước phản ứng tàn bạo của chế độ chống lại những người tham gia bãi công. ROPCiO và Hiến chương 77 là các nhóm do trí thức thiết lập, nhằm buộc chế độ phải có trách nhiệm thực hiện các cam kết về bảo vệ các quyền dân sự và con người, đưa vào hợp pháp ở các nước này, và với tư cách là những bên tham gia ký kết hiệp định Helsinki. Khuynh hướng viện đến hình thức tổ chức trong hoạt động tự vệ xã hội phụ thuộc vào mức độ đồng cảm với chế độ, [9] mức độ thỏa mãn về kinh tế, sự độc lập của giới trí thức và tính quen thuộc của xã hội với hoạt động tổ chức. Vì thế, các nhóm hoạt động mạnh nhất đã xuất hiện ở Ba Lan. Hungary là nơi các cá nhân tin vào giới lãnh đạo nhiều hơn, mức sống cũng cao hơn, và sự chia rẽ giữa trí thức trong và ngoài đảng không sâu sắc như ở Ba Lan và Czechoslovakia, do vậy, kêu gọi tự vệ cũng bị giới hạn hơn. [10]

    Trong những năm 1970, các thảo luận về "thành bang song song" tập trung vào sự độc lập đạo đức (với tư cách là cái thay thế cho sự độc tôn của chế độ trong các giá trị xã hội chính thức và việc đại diện cho các lợi ích) hơn là các kênh thể chế cho sự tham dự. Không ai đặt ra vấn đề thay thế sự lãnh đạo của đảng, thậm chí không ai đặt ra chuyện phải chấp nhận các phương pháp đại diện lợi ích mới. Các nhóm độc lập giới hạn hoạt động của mình trong việc, hoặc là giúp đỡ các nhóm xã hội khi bị nhà nước đàn áp (KOR), hoặc đòi nhà nước thực thi các trách nhiệm xã hội mà nó đã tuyên bố (Hiến chương 77 và ROPCiO). Nhà nước không thừa nhận quyền được công bố các yêu sách của các nhóm này, mặc dù trong một số trường hợp, các nhóm này được cho phép tồn tại nếu có lượng thành viên hạn chế và các mục tiêu đủ hạn hẹp (tức là không đặt vấn đề nghi vấn về tính chính đáng của chế độ). [11]

    Trường hợp Liên Xô: Bảo vệ Tính Độc lập

    Dấu hiệu về một xã hội dân sự tự vệ ở Liên Xô xuất hiện không muộn hơn những dấu hiệu ở Trung Âu, thông qua bất đồng và các cố gắng bảo vệ sự độc lập về pháp lý và đạo đức, trước thâm nhập mạnh mẽ của nhà nước vào mọi dạng của đời sống xã hội. Các điều kiện bắt đầu cho một xã hội dân sự tiềm tàng đã được thiết lập, giống như ở Trung Âu, từ sự khủng hoảng có hệ thống. Đảng-nhà nước không thể loại trừ hoàn toàn hoặc kiểm soát mọi hình thức độc lập của xã hội, phần lớn vì nó đã bị chứng tỏ không hiệu quả trong việc khẳng định vai trò đại diện phổ quát. [12] Các nhóm độc lập xuất hiện hoặc để phản ứng lại các lợi ích bị nhà nước phớt lờ (trong trường hợp Liên Xô, phần lớn là vấn đề truyền bá thông tin), hoặc hối thúc nhà nước có trách nhiệm với các chính sách của nó. Hoạt động tự vệ trước sự thống trị của nhà nước được thực hiện dưới hình thức các phong trào bất đồng.

    Mặc dù các nhà bất đồng chính kiến chia rẽ sâu sắc với nhau trong quan điểm về các mục tiêu của công cuộc đổi mới nhà nước Liên Xô, [13] họ đều đồng ý trên một điểm: nhà nước chẳng có quyền pháp lý và đạo đức nào để tước đoạt quyền [tổ chức/tham gia] các hoạt động độc lập và tự chủ của các cá nhân cũng như các nhóm. Trong khi đại bộ phận trí thức tiến bộ phấn khởi trước triển vọng những cuộc cải cách của Khrushchev hướng tới nới lỏng sự kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động xã hội (trong những năm cuối thập kỷ 1950), rất nhanh sau đó người ta nhận ra rằng việc phi tập trung hóa của nhà nước, và việc giải phóng các hoạt động xã hội, sẽ đe dọa chính cái cốt lõi nhất của sự thống trị của đảng (và vì thế, các đặc quyền đặc lợi chính thức). Đến đầu những năm 1960, bất cứ hình thức hợp tác dài hạn nào giữa đảng-nhà nước và khu vực cải cách của xã hội Liên Xô đều đã trở nên bất khả thi. [14]

    Trong điều kiện bị đàn áp giữa những năm 1960, các nhà cải cách hoặc chọn cách sử dụng các cấu trúc bày tỏ quan điểm và tham dự một cách hạn chế mà nhà nước cho phép, hoặc chọn cách chuyển sang hoạt động ngầm. Những người chuyển sang hoạt động ngầm xác định mục tiêu của họ là chống lại sự thống trị của nhà nước bằng cách bảo vệ sự tự chủ về đạo đức của cá nhân và xã hội. Ví dụ vào năm 1973, một thành viên của nhóm bất đồng chính kiến nhỏ có tên là Phong trào Dân chủ, ông Dmitrii Nelidov, đã mô tả các mục tiêu của nhóm này là "bày tỏ tính nhân văn trong một môi trường mà bản chất người đã bị xuyên tạc và đàn áp... [Phong trào này] mong muốn chuyển thành phong trào đấu tranh cho con người, cho các giá trị nhân cách người. Nó nỗ lực tự tách mình ra khỏi hệ thống cơ chế nhồi sọ ý thức hệ qua con đường vô thức." [15] Để phục vụ quá trình này, và để bù đắp lại việc nhà nước không nhìn nhận các nhu cầu chính đáng của xã hội, Phong trào Dân chủ đã xuất bản bản tin ngầm, Bản tin Sự kiện Thời sự (xuất hiện lần đầu vào tháng 4 năm 1968). [16]

    Mặc dù một số thành viên của nhóm này cổ súy cho các cải cách kinh tế tận gốc rễ (tài sản tư nhân), cho tự do dân sự (tự do phát biểu ý kiến và tự do báo chí), và cho việc thừa nhận các nhu cầu dựa trên chủ nghĩa dân tộc (tự quyết), Phong trào Dân chủ nói chung lại thừa nhận đặc quyền của đảng-nhà nước trong việc thực thi các thay đổi, và vì thế bắt đầu họ đã hướng các nỗ lực của mình vào việc thuyết phục đảng-nhà nước tự đổi mới. [17] Trong nỗ lực này, Phong trào Dân chủ chỉ là một ví dụ về các hoạt động bất đồng chính kiến xuất hiện ngày càng nhiều -mặc dù vẫn còn rời rạc- trong những năm cuối thập kỷ 1960 và đầu thập kỷ 1970. Mục đích của các hoạt động bất đồng chính kiến này là đòi nhà nước phải chịu trách nhiệm với các tiêu chuẩn pháp lý của chính họ. Một số người trong giới trí thức tư cách bảo vệ quyền tự quyết trong các hoạt động của họ bằng cách thách thức chế độ tôn trọng các tiêu chuẩn chính nó đặt ra về "tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa". Chiến lược này được thiết kế với mục đích gây áp lực lên nhà nước, nhằm buộc nó phải tôn trọng các quy tắc pháp lý chính thức. Các nhà vận động cho chiến lược này hoạt động như thể các lãnh đạo đảng và nhà nước bị ràng buộc bởi luật pháp -mặc dù mọi người đều hiểu rằng thực ra không phải như vậy. [18] Thực ra, vì các lãnh đạo đảng và nhà nước không bị ràng buộc bởi các tiêu chuẩn pháp lý chính thức, những người sử dụng tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa để tự vệ không thể trông cậy vào các yêu sách của mình [sẽ được giới lãnh đạo đáp ứng]. Tuy nhiên, các nhóm độc lập với cấu trúc chặt chẽ đã được hình thành, nhằm buộc nhà nước phải công khai chịu trách nhiệm trước các cam kết mà nó thừa nhận chính thức trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Các ví dụ bao gồm Nhóm Quan sát Helsinki, Ủy ban vì các Quyền Con người, Quỹ Xã hội Nga Ủng hộ các Tù nhân Chính trị và Gia đình họ, và Nhóm Làm việc để Bảo vệ các Quyền Lao động, Kinh tế và Xã hội. [19]

    Khi các chính quyền tăng đàn áp lên các nhóm bất đồng chính kiến trong những năm 1970, một số lượng lớn thành viên của họ bị bỏ tù, đuổi khỏi nơi cư trú hoặc ép phải lưu vong. Bị mất tinh thần, một số trong các nhà vận động còn lại quay sang cổ súy cho việc giải tán các nhóm hoạt động vì các nhóm này đã không hiệu quả trong việc khuyến khích và khởi xướng đổi mới. Tuy nhiên, những cá nhân nòng cốt lập luận rằng thay đổi chính sách bản thân nó không phải là mục tiêu chính, và nhấn mạnh nhu cầu tự vệ xã hội trước sự can thiệp của nhà nước, ít nhất trên lĩnh vực đạo đức -nếu không phải là trên lĩnh vực lập chính sách. Ví dụ Nelidov đã nhấn mạnh rằng sự thất bại ngày càng rõ của Phong trào Dân chủ trong việc thúc đẩy cải cách kinh tế, chính trị và xã hội không thể [là bằng chứng] bác bỏ ảnh hưởng của nhóm này tới "cuộc đấu tranh vì sự tự do tinh thần". Chính sự tập trung vào quyền tự chủ đạo đức, sự thừa nhận các giá trị độc lập và các hiệp hội tự do trước sự thống trị của nhà nước đã khiến chúng tôi [muốn] so sánh quá trình tự vệ của xã hội dân sự ở Liên Xô và Trung Âu.

    Tuy nhiên, bất đồng chính kiến nở rộ không giải thích thỏa đáng nền tảng cho sự phát triển của xã hội dân sự, đặc biệt là trường hợp Liên Xô. Trong khi ở Trung Âu, đại bộ phận dân cư trốn chạy khỏi đời sống công cộng, thái độ thỏa mãn đa phần là kết quả từ việc không thể thay đổi một cách hiệu quả chế độ được Moscow hậu thuẫn. Có một số các giá trị cùng được mọi người chia sẻ, bao gồm sự phẫn nộ bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc trước các chế độ bị Liên Xô thống trị, giữa các nhà bất đồng hoạt động tích cực với đám đông công dân thụ động -cái sẽ trở thành nền tảng cho các hoạt động đối lập có tổ chức trong các giai đoạn sau. Ở USSR, tình cảm chống chế độ không được đông đảo người chia sẻ như vậy. Sự phát triển bản địa của chủ nghĩa Mác-Lê nin, sự gặp gỡ giữa lợi ích của Liên Xô và lợi ích của dân tộc Nga, và các thành tựu đạt được dưới thời Stalin (công nghiệp hóa và vị trí siêu cường) đã khiến chế độ Cộng sản Liên Xô có được tính chính đáng [với dân chúng Liên Xô] nhiều hơn các đảng anh em của nó ở Trung Âu. [20] Ðiều này, đi kèm với việc thiếu vắng một truyền thống đối lập công khai, khiến cho việc khoảng cách giữa các nhà bất đồng chính kiến hoạt động tích cực với quần chúng nói chung ở USSR lớn hơn nhiều so với ở Trung Âu.

    Chất chỉ định cho kết luận này chính là sự thực rằng phong trào bất đồng chính kiến đã thu nạp được một bộ phận dân cư rất hạn chế ở Liên Xô. Thực ra, hầu hết các công dân đã không đồng cảm với những giá trị của nó. [21] Không những nó không thể lấp đầy khoảng cách xã hội trên các mặt [thu hút] thành viên và cảm tình viên, [22] mà còn có vẻ như không có một sự chia sẻ nào về giá trị giữa các thành viên trí thức của phong trào bất đồng chính kiến và quần chúng nói chung. [23] Với khoảng cách này, sẽ là cẩu thả nếu chúng ta cho rằng phong trào bất đồng chính kiến là nguồn gốc duy nhất của một xã hội dân sự đang được thai nghén ở Liên Xô. Làm thế nào để lấp đầy khoảng cách giữa số lượng nhỏ các nhà bất đồng chính kiến với đám đông các nhà hoạt động xã hội (những người sẽ hình thành nên nền tảng cho một xã hội dân sự)? Câu trả lời được tìm thấy trong các hình thức tham dự được hình thành dưới thời Brezhnev.

    Từ cách mạng 1917, các lãnh đạo Soviet đã tìm cách lái sự tham dự của xã hội qua các tổ chức do đảng thống trị và tài trợ. Đa phần những người quan sát hiện tượng "tham dự [do bị] động viên" này đều đồng ý rằng nó phục vụ cho mục đích nêu cao tính chính đáng của chế độ, sự một xác nhận mang tính lễ nghi về vai trò lãnh đạo và quyền kiểm soát mọi hoạt động xã hội của đảng. Người ta không đồng ý nhiều với nhau về vấn đề hiệu quả của chiến lược này, cả từ giác độ nhà nước lẫn góc độ của các công dân tích cực. Dù thế nào, mọi thứ cũng trở nên rõ ràng, rằng các tổ chức này (các soviet đa phương, các tổ chức nghề nghiệp, các nhóm thanh niên) đã không phản ứng được với những lợi ích đang thay đổi của một xã hội Soviet đang được hiện đại hóa. Các học giả Soviet mô tả các hình thức tham dự này là đã trở nên lố bịch, quan liêu quá đáng, và bị hướng quá nhiều vào việc duy trì các lợi ích quan liêu và tha hóa, hơn là phản ứng với các nhu cầu mà xã hội tự bày tỏ. [24] Khi các kênh tham dự do đảng tài trợ càng trở nên vô hiệu bao nhiêu, thì các nhà hoạt động xã hội càng hướng tới các hình thức hiệp hội và tự tổ chức không chính thức.

    Trong những năm 1970, các học giả Soviet ghi nhận sự xuất hiện của các lợi ích xã hội khác với những lợi ích do Đảng Cộng sản đại diện, và [sự xuất hiện này] bắt đầu làm xói mòn dần tính vững chắc của các quá trình xã hội hóa do đảng tài trợ. Thanh niên xa lánh các tổ chức thanh niên chính thức, và lập/tham gia vào các hiệp hội không chính thức, [25] cuộc "cách mạng khoa học kĩ thuật" nuôi dưỡng các lợi ích của công nhân tay nghề cao và các nhóm quản lý, vốn không được đại diện một cách thỏa đáng bởi các tổ chức kinh tế và thương mại chính thức [26] , và một bộ phận ngày càng đông các cư dân có học và được đô thị hóa, đã quay về với các quan hệ/hiệp hội phi chính thức, nhằm thỏa mãn các quyết tâm cá nhân và nghề nghiệp. [27] Nghiên cứu thực nghiệm do các học giả phương Tây thực hiện khẳng định rằng có một bộ phận đáng kể trong công chúng Liên Xô đã quay lưng lại với các kênh phát biểu lợi ích và tham dự chính thức để tham gia vào những dạng hoạt động "không chính thức", không được tài trợ, thậm chí bất hợp pháp. [28] Sự bảo vệ tính tự chủ một cách tích cực từ phía các nhà bất đồng chính kiến trong những năm 1960 và 1970 trùng hợp với sự tự vệ ít tính đối kháng hơn bằng cuộc dịch chuyển các lợi ích nghề nghiệp và cá nhân từ phía công chúng. Trong khi cái thứ hai không tìm cách đối lập với hệ thống hoặc chế độ, sự kết hợp giữa hai yếu tố này đã tạo thành lực lượng nhà hoạt động xã hội sẵn sàng phản ứng lại với thách thức của Gorbachev về tăng cường hoạt động xã hội vào giữa những năm 1980.

    Nền tảng của xã hội dân sự, vì thế, đã được hình thành qua hoạt động độc lập ngoài các kênh chính thức của cấu trúc chính trị và xã hội. Việc bảo vệ tính tự chủ, phong trào hướng tới các lợi ích tự xác định, và tự tổ chức, được duy trì hoặc chủ động bởi các nhà bất đồng chính kiến, hoặc thụ động bởi các cá nhân chỉ muốn có một cuộc sống tốt hơn nằm trong hệ thống, đã tạo nên giai đoạn "tự vệ" trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở USSR.

    [1] Alain Touraine, Solidarity: The Analysis of a Social Movement, Poland 1980-1981 (Cambridge: Cambridge University Press, 1983), p. 15.

    [2] Xem Kasimierz Wojcicki, "The Reconstruction of Society," Telos, 47 (1981), 102-103, and Vaclav Benda, et al., "Parallel Polis or an Independent Society in Central and Eastern Europe: An Inquiry," Social Research, 55 (Spring-Summer 1988), 211-246; Ivan Volges, "Political Socialization in Eastern Europe," Problems of Communism, 23 (January-February 1974), 55.

    [3] Xem Stephen White, "Propagating Communist Values in the USSR," Problems of Communism, 34 (November-December 1985), 1-17; Vladimir Shlapentokh, Public and Private Life of the Soviet People: Changing Values in Post-Stalin Russia (New York: Oxford University Press, 1989).

    [4] Alexander Yanov, The Russian Challenge and the Year 2000 (Oxford: Basil Blackwell, 1987).

    [5] David Mason, Public Opinion and Political Change in Poland, 1980-1982 (Cambridge: Cambridge University Press, 1985), p.47.

    [6] Vaclav Havel, Living in Truth (London: Faber and Faber, 1986), pp.36-122.

    [7] Vladimir Tismaneanu, "Nascent Civil Society in the German Democratic Republic," Problems of Communism, 38 (March-June 1989), 102.

    [8] Benda et al. Nhà xã hội học người Hungary, Elemer Hankiss, đã phát triển khái niệm "xã hội thứ hai."

    [9] Xem Janina Frentzel-Zagorska, "Civil Society in Poland and Hungary," Soviet Studies, 42 (1990), 763, để có thống kê về lòng tin và sự ủng hộ đối với giới lãnh đạo Ba Lan và Hungary.

    [10] Xem Ferenc Miszlivetz, "Civil Society in Eastern Europe? The Case of Hungary," World Futures, 29 (1990), 91, để có các giải thích tại sao quá trình này ở Hungary lại khó khăn hơn. Một trong những lý do quan trọng nhất là khoảng cách ngày càng rộng giữa giới trí thức Hungary và công chúng, đặc biệt là công nhân. Xem thêm Timothy Garton Ash, "The Hungarian Lesson," New York Review of Books, Dec. 5, 1985, pp. 5-9.

    [11] Teresa Rakowska-Harmstone, "Nationalism and Integration in Eastern Europe: The Dynamics of Change," in Teresa Rakowska-Harmstone and Andrew Gyorgy, eds., Communism in Eastern Europe (Bloomington: Indiana University Press, 1981), pp. 320-321.

    [12] Reddaway nhấn mạnh rằng một lý do đưa đến thất bại này là sự bất khả thi trong việc kéo dài mãi cái xã hội bị nguyên tử hóa của Stalin. Peter Reddaway, ed., Uncensored Russia: Protest and Dissent in the Soviet Union (New York: American Heritage Press, 1972), p. 39.

    [13] Xem, ví dụ, cuộc bút chiến Sakharov-Solzhenitsyn trong Vladimir E. Maximov, ed., Kontinent (New York:Anchor Press/Doubleday, 1976), pp. 1-23.

    [14] Reddaway, p. 18.

    [15] Dmitrii Nelidov, "Ideocratic Consciousness and Personality," in Michael G. Meerson-Aksenov and Boris I. Shragin, eds., The Political, Social and Religious Thought of Russian 'Samizdat' (Belmont: Nordland Publishing Co., 1977), p. 290.

    [16] Meerson-Aksenov and Shragin, p. 228.

    [17] K. Zhitnikov, "The Decline of the Democratic Movement," in Meerson-Aksenov and Shragin, eds., pp. 237-238.

    [18] Đây là giới hạn tự vệ của Andrei Amalrik, ví dụ, trong Involuntary Journey to Siberia (London: Harcourt Brace Jovanovich, 1970).

    [19] Skilling, Samizdat and an Independent Society in Central and Eastern Europe, p. 203.

    [20] Ferenc Feher, Agnes Heller, and Gyorgy Markus, eds., Dictatorship over Needs (New York: St. Martin's Press, 1983), pp. 137-155.

    [21] Roy A. Medvedev, On Soviet Dissent (London: Constable, 1980), cited in David Lane, State and Politics in the USSR (New York: New York University Press, 1985), p. 271.

    [22] Peter Reddaway, "Soviet Dissent," Problems of Communism, 32 (November-December 1983), 14; Jeffrey W. Hahn, Soviet Grassroots; Citizen Participation in Local Soviet Government (Princeton: Princeton University Press, 1988), pp. 285-287.

    [23] Walter D. Connor, Socialism's Dilemma: State and Society in the Soviet Bloc (New York: Columbia University Press, 1988), p. 45.

    [24] I. Zhukova et al., "Samodeiatel'nyie initsiativy: Neformal'nyi vzglad" ("Independent Initiatives: Informal View"), Kommunist, 9 (1988), 98.

    [25] V. G. AlekXemva, "Neformarnye gruppy podrostkov v usloviiakh goroda" ("Informal Youth Groups in Urban Conditions"), Sotziologicheskie issledovania, 3 (1977), 60-70, khảo sát các nhóm thường niên tại các vùng đô thị và kêu gọi các nhà giáo dục phải tận tụy hơn trong việc xã hội hóa sinh viên.

    [26] Tatiana I. Zaslavskaia, "Creative Activity of the Masses: Social Reserves of Growth," Problems of Economics, 29 (March 1987), 11.

    [27] O. N. Ianitskii, Grazhdanskie initsiativy i samodeiatel'nost' mass (Citizen Initiatives and the Spontaneous Activity of the Masses) Moskow: Znanie, 1988).

    [28] Philip G. Roeder, "Modernization and Participation in the Leninist Developmental Strategy," American Political Science Review, 83 (September 1989), 859-884; Donna Bahry and Brian D. Silver, "Soviet Citizen Participation on the Eve of Democratization," American Political Science Review, 84 (September 1990), 821-847.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi