Nguyễn Gia Kiểng - Anh Hùng Nước Nam

  • Bởi Khách
    27/04/2013
    4 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    "... Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt quệ như thế này cũng vì cái tâm lý tôn sùng bạo lực ấy. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên thấy mình là nạn nhân của bạo lực."

    Hồi còn ở tiểu học, tôi có làm một bài luận với đầu đề: Trong những anh hùng nước Nam, em thích vị nào nhất? Hãy nói tại sao? Bài luận này rất phổ thông, hình như người nào học tiểu học chương trình Việt cũng đã gặp. Chỉ sau khi đảng cộng sản nắm chính quyền, câu hỏi mới không đặt ra nữa, vì lúc đó người anh hùng vĩ đại nhất từ xưa đến nay của Việt nam dĩ nhiên bắt buộc phải là chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Tôi chọn vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ. Lý do là vì ông ấy giỏi võ và đánh thắng năm mươi vạn quân Thanh tại trận Đống Đa. Trong lớp tôi có tới gần một nửa cũng chọn Nguyễn Huệ. Phần còn lại chọn Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng, một vài đứa chọn Ngô Quyền, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Lê Lai, Trần Quốc Toản, Lý Thường Kiệt.

    Sau khi du học Pháp về lôi hỏi một số giáo viên tiểu học về bài luận. Họ cho biết năm nào cũng ra đề tài này và Nguyễn Huệ luôn luôn về nhất khá xa, kế tiếp là Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng. Thỉnh thoảng có Nguyễn Trãi, Ngô Quyền, Trần Bình Trọng, Nguyễn Công Trứ.

    Nói chung ba ngôi vị đầu vẫn thế, ở đoạn cuối bảng danh dự đã bắt đầu xuất hiện những nhân vật mới có thành tích về văn hóa. Nhưng mẫu số chung giữa các vị anh hùng này vẫn không đỗi: tất cả đều là võ tướng. Nguyễn Trãi tuy xuất thân là nho sinh nhưng đã cầm quân đi đánh giặc và làm quân sư (ở đây xin chú thích chữ quân sư thường được hiểu trong ngôn ngữ dân gian là người bày mưu kế nhưng thực ra nó có nghĩa là tư lệnh, các quân sư được ra lệnh cho các tướng). Nguyễn Công Trứ tuy có sự nghiệp văn chương lớn, nhưng cũng là võ tướng, cầm quân đánh dẹp khắp nơi, từng là Bình Tây Đại Tướng, ông được coi là người văn võ kiêm toàn. Tuyệt đối kháng thấy Nguyễn Du, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Huy Chú. Như thế anh hùng của Việt nam bắt buộc phải là võ tướng, và hơn thế nữa phải thắng trận. Trần Bình Trọng, Lê Lai là những võ tướng được tôn vinh vì lòng can đảm, nhưng dần dần lọt sổ. Trường hợp Nguyễn Trãi có điều đáng nói. Ông giúp Lê Lợi, cầm quân đánh giặc giành lại được độc lập cho nước ta, nhưng gặp nạn ở cuối đời, bị tru di tam tộc, về sau mới được Lê Thánh Tông phục hồi danh dự. Sự oan nghiệt đó có lẽ đã không khiến ông xuất hiện một cách lộng lẫy dưới con mắt của trẻ thơ.

    Trẻ thơ là tấm gương soi tâm hồn của một dân tộc. Từ những bài luận của học sinh tiểu học, phải suy ra rằng người Việt nam có tâm lý tôn thờ bạo lực rất mạnh. Bạo lực càng nhiều, công đức càng cao.

    Nguyền Huệ xuất thân là tướng cướp, nhờ liên hệ với quân Thượng và quân gốc Chiêm Thành và đám cướp biên người Tàu mà mạnh dần lên, rồi nhờ tài dùng binh mà lên làm vua. Ông là người đặc biệt hung tợn và hiếu sát. Sự nghiệp của ông là những trận đánh khốc liệt trong đó người Việt nam tàn sát lẫn nhau; chỉ có hai ngoại lệ là một trận đánh thắng quân Xiêm và một trận Đống Đa, trong đó ông phá tan quân Thanh. Trong một bài sau tôi sẽ trở lại với nhân vật Nguyễn Huệ và trận Đống Đa. ở đây tôi chỉ xin đưa một nhận định tạm thời. Nếu nhìn một cách bình tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì so với những tàn phá và chết chóc mà ông đã gây ra cho đất nước. Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lý kính sợ bạo lực của người Việt nam; việc người ta tô vẽ cho ông nhưng đức tính mà ông hoàn toàn không có như giỏi trị nước an dân, có lòng nhân ái, v. v... chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn sàng làm đẹp nó.

    Hình như ta còn cho rằng chỉ có những chiến công mới là đáng kể, những gì đạt được phải đạt bằng bạo lực mới là hay. Chu Văn An đã viết ra nhiều sách, Lê Quí Đôn có công làm ra bộ tự điển bách khoa đầu tiên, Lê Văn Hưu mở đầu cho khoa sử ở nước ta, Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên biết nhận định lịch sử một cách chính xác, có thể coi như nhà lý luận chính trị đầu tiên của nước ta, Phan Huy Chú là tác giả công trình biên khảo lớn nhất. Tuy vậy, tất cả đều không phải là những anh hùng dân tộc. Nguyễn Du chỉ được biết tới như một nhà thơ lớn.

    Không những người cộng sản, mà cả nhưng người chống cộng, đều nghĩ rằng thành tích to lớn nhất và cũng là nền tảng của sự chính đáng của đảng cộng sản là đã đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh phe quốc gia. Nhưng nếu không đánh thì sao? Nếu biết vận dụng trí tuệ để tranh đấu bất bạo động chắc chắn chúng ta cũng đã được độc lập và thống nhất không muộn hơn, mà lại không phải trải qua những đỗ vỡ trầm trọng. Ta tôn thờ bạo lực ngay cả khi bạo lực có hại.

    Người cộng sản không có độc quyền tôn thờ bạo lực. Việt nam Quốc Dân Đảng dù không có một hy vọng mảy may nào thắng được người Pháp bằng bạo lực vẫn chủ trương dùng con đường bạo lực ngay từ đầu. Quyết định khởi nghĩa năm 1930 chỉ là một quyết định tự sát.

    Sự hấp dẫn của bạo lực đối với chúng ta quá mạnh. Mạnh đến nỗi ta không những chấp nhận mà còn mơ ước bạo lực. Khi không có bạo lực, ta phải cố bịa đặt để tưởng tượng rằng mình có bạo lực. Các tổ chức chống cộng hải ngoại trước đây đều đồng thanh chủ trương phải giải phóng quê hương bằng bạo lực, dù hoàn toàn không có phương tiện của bạo lực.

    Ông Võ Đại Tôn có lực lượng gì đâu, ông chỉ cùng với hai ba người qua biên giới Lào chụp ảnh để gây ấn tượng trong cộng đồng người tị nạn. Ông Hoàng Cơ Minh lập một doanh trại ở Thái Lan rồi bảo đó là chiến khu quốc nội. Trách họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo tôi, không công bình. Họ phải làm như thế để tranh thủ sự ủng hộ. Giả thử nếu ông Võ Đại Tôn không tạo cái ảo tưởng là có bạo lực thì ông cũng không khác nhiều người hoạt động khác. Nếu ông Hoàng Cơ Minh không lập chiến khu thì liệu ông có được sự ủng hộ mạnh mẽ đến thế không?

    Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp bợm. Tôi sang Pháp lúc ông Hoàng Cơ Minh đang nỗi như cồn. Tôi đã nói chuyện với rất nhiều người, và không ai, kể cả những người ủng hộ ông, tin là ông có chiến khu thực sự đâu. Vậy làm sao có thể nói là đã bị lừa gạt? Nói như vậy là không thành thực. Sở dĩ người ta ủng hộ ông là vì ông đã có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực, và ảo tưởng đó là giấc mơ của đa số người tị nạn thời đó. Họ đóng góp cho ông Hoàng Cơ Minh vì ông cho phép họ nuôi dưỡng giấc mơ đó. Họ đóng góp cho ông để ông diễn tuồng kháng chiến võ trang cho họ xem.

    Ông Võ Đại Tôn đã phải trải qua mười năm tù tội. Ông Hoàng Cơ Minh đã thiệt mạng. Nhiều người khác đang mòn mỏi trong các nhà tù. Họ là những nạn nhân đáng thương của tâm lý tôn sùng bạo lực của người Việt nam.

    Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán thành đường lối đấu tranh của họ. Nhưng đối với họ tôi luôn luôn có một tình cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng trách là tâm lý tôn sùng bạo lực của con người Việt Nam.

    Nhóm Thông Luận đã bị phản đối dữ dội vì chủ trương từ bỏ bạo lực, và do đó đụng chạm tới một sự sùng ái lâu đời. Một dân tộc không nhiều thì ít cũng xứng đáng với số phận của mình.

    Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt quệ như thế này cũng vì cái tâm lý tôn sùng bạo lực ấy. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên thấy mình là nạn nhân của bạo lực.

    -- NGUYỄN GIA KIỂNG
    (viết trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, 2000)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    LÊ Mạnh Tường viết:
    Thưa bạn QTuan,

    Có lẽ bạn đọc hơi vội nên có một vài hiểu lầm với ý của ông Nguyễn Gia Kiểng. Ông Nguyễn Gia Kiểng không chê trách hai ông Võ Đại Tôn và Hoàng Cơ Minh bịp bợm, ngược lại ông ta còn phản đối lập luận đó. Xin trích một vài đoạn :

    "...Trách họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo tôi, không công bình...."

    "...Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp bợm..."

    "...Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán thành đường lối đấu tranh của họ. Nhưng đối với họ tôi luôn luôn có một tình cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng trách là tâm lý tôn sùng bạo lực của con người Việt Nam..."

    Thư này nếu tránh được hiểu lầm giữa hai người Việt Nam ( hiếm quí ) còn quan tâm đến đất nước là tôi đã làm được một công việc ích lợi để có thể vui vẻ cả cuối tuần này. :-)

    Chúc bạn QTuan một cuối tuần hạnh phúc.

    Lê Mạnh Tường

    Ông bạn muốn trích dẫn thì phải trích cho đủ như thế này,

    Trích dẫn:
    Ông Võ Đại Tôn có lực lượng gì đâu, ông chỉ cùng với hai ba người qua biên giới Lào chụp ảnh để gây ấn tượng trong cộng đồng người tị nạn. Ông Hoàng Cơ Minh lập một doanh trại ở Thái Lan rồi bảo đó là chiến khu quốc nội. Trách họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo tôi, không công bình.

    Trong ngữ cảnh cả đoạn văn, giọng văn như thế này thì tôi cho rằng nếu tôn trọng hai ông Hoàng Cơ Minh và Võ Đại Tôn ông Kiểng đã không viết xằng như thế.

    Dù sao cũng cám ơn thiện chí của ông bạn.

    Thưa bạn QTuan,

    Có lẽ bạn đọc hơi vội nên có một vài hiểu lầm với ý của ông Nguyễn Gia Kiểng. Ông Nguyễn Gia Kiểng không chê trách hai ông Võ Đại Tôn và Hoàng Cơ Minh bịp bợm, ngược lại ông ta còn phản đối lập luận đó. Xin trích một vài đoạn :

    "...Trách họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo tôi, không công bình...."

    "...Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp bợm..."

    "...Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán thành đường lối đấu tranh của họ. Nhưng đối với họ tôi luôn luôn có một tình cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng trách là tâm lý tôn sùng bạo lực của con người Việt Nam..."

    Thư này nếu tránh được hiểu lầm giữa hai người Việt Nam ( hiếm quí ) còn quan tâm đến đất nước là tôi đã làm được một công việc ích lợi để có thể vui vẻ cả cuối tuần này. :-)

    Chúc bạn QTuan một cuối tuần hạnh phúc.

    Lê Mạnh Tường

    Đầu tiên tôi thấy ông Kiểng nói về lịch có hai điều tôi hơi ngồ ngộ. Điều thứ nhát theo sách sử tôi dã học thì Vau Quang Trung chỉ đánh thắng 29 vạn quân Thanh, điều thứ hai anh em nhà Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ xuất thân từ nghề buôn chề chứ không phải vua Quang Trung làm tướng cướp. Vị nào biết chính xác thì xin đính chính giúp.
    Còn nói về anh hùng bạo lực thì lịch sử xưa nay đều gắn với những chiến công lẫy lừng của các vị võ tướng, từ Đông sang Tây đều thế cả. "Giết một người thì là kẻ sát nhân, giết triệu người thì là anh hùng", chẳng anh hùng nào không láp lấnh ánh hào quang bằng máu người. Còn qưuan niệm về anh hùng thì tôi tán thành ý kiến tôi đã từng đọc trên báo mạng, đó là có tới 4 loại anh hùng:
    1- Anh hùng trong chiến đáu, tức là đánh nhau rồi thành anh hùng, kiểu này thì ở ta là phổ biến, nhát là thời dại Hồ chí Minh, cứ anh hùng thì phải tắm máu người.
    2- Loại anh hùng thứ hai, đó là loại anh hùng ta gặp ở nước láng giềng, giặc này đén thì dùng giặc kia đánh lại, giặc kia đánh thì dùng giặc này đánh hộ, đỡ tống xương máu cảu nhân dân mình. Đó là anh hùng mứu mẹo nếu nói theo cahs dan giã.
    3- Loại anh hùng này xuát phát từ quan điểm "tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng" mà chính người Trung quốc đã áp dụng. Nếu giặc đến mà thấy khả năng mình đánh được thì đánh, nếu không đánh được thì để nó vào rồi dùng văn hóa đồng háo lại, sử dụng chúng làm lợi cho mình.
    4- Còn loại anh hùng thứ tư là dùng ba tấc lưỡi của các nhà thuyết khách đẩy chiến tranh ra khỏi biên giới nước mình, làm cho dân đỡ khổ. Đây là kiểu anh hùng Thụy Sĩ, một đất nước không có dân tộc gốc mà chỉ là cộng đồng của mấy nước không không thích chiến tranh quần tụ lại với nhau sống trong yên bình. Nói như vậy không có nghiã là họ không quan tâm gì đến quốc phòng. Có khi họ còn chú trọng đến quốc phòng hơn ta, họ dám trang bị vũ khí đến tận người dân khi chiến tranh xẩy (mà không dùng biên pháp thuyết khách can ngăn được). Có lẽ loại anh hùng không đổ máu là loại anh hùng thông minh nhất.

    Còn chọn loại anh hùng nào thì tùy các nhà lãnh đạo "tài tình sáng suốt" mang nhãn Đảng hiện nay. Xét tình hình hiên nay thì quân đội ta "kẻ thù nào cũng đánh thắng"... trừ quân Trung quốc!!!!!....
    Ý các vị thế nào?

    Ông Kiểng có thể bình phẩm, phê phán đường lối đấu tranh chống cọng bằng bạo lực của các ông Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn nhưng không thể nói quàng xiên rằng hai ông này 'bịp bợm' trong khi một vị đã hy sinh, một vị khác chịu lao tù cả chục năm vì đấu tranh chống cọng sản. Ông trí thức Kiểng toàn ngồi salon êm ái, lên giọng dạy đời mấy chục năm nay thì lấy tư cách gì để dán cái nhãn 'bịp bợm' cho chuyện 'người thật việc thật' của hai vị chiến sĩ khả kính kể trên.

    Tuy nhiên, quan điểm của ông Kiểng về thói tôn thờ bạo lực của dân Việt cũng có phần xác đáng. Nhìn lại lịch sử cận đại VN, nếu dân Việt từ đầu thế kỷ trước đã chọn đi trên đại lộ Phan Châu Trinh thay vì đâm đầu vào ngõ cụt Hồ Chí Minh thì nay nước Việt, dân Việt đã rất khác rồi, ít ra là không bấy nhầy, be bét như hiện trạng.