Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?

  • Bởi Hồ Gươm
    15/04/2013
    12 phản hồi

    Dương Danh Huy và cộng sự
    Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

    Tưởng niệm các quân nhân Việt Nam từ cả hai phía hy sinh ở Hoàng Sa - Trường Sa

    Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.

    Quốc gia duy trì chủ quyền

    Trong phán quyết năm 2008 về tranh chấp cụm đảo Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore, Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng ban đầu Malaysia có chủ quyền đối với đảo Pedra Branca.

    Tòa nói công hàm 1953 của Johor, nay là một tiểu bang của Malaysia, trả lời Singapore rằng Johor không đòi chủ quyền trên đảo này, không có hệ quả pháp lý mang tính quyết định và không có tính chất ràng buộc cho Johor.

    Nhưng Tòa lại dựa vào việc trước và sau đó Johor và Malaysia không khẳng định chủ quyền và dùng công hàm 1953 của Johor như một trong những chứng cớ quan trọng cho việc Malaysia không đòi chủ quyền, để kết luận rằng tới năm 1980 chủ quyền đã rơi vào tay Singapore.

    Bài học cho Việt Nam là: bất kể ban đầu Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và dù cho chúng ta có biện luận thành công rằng công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng không có tính ràng buộc về hai quần đảo này đi nữa, việc VNDCCH không khẳng định chủ quyền trong hơn 20 năm, trong khi các quốc gia khác làm điều đó, có khả năng sẽ làm cho VNDCCH không còn cơ sở để đòi chủ quyền nữa.

    Vì vậy, trong lập luận pháp lý của Việt Nam phải có sự khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này từ một chính phủ khác, lúc đó là đại diện hợp pháp cho một quốc gia Việt nào đó.

    Trên lý thuyết, nếu chứng minh được từ năm 1954 đến 1975 chỉ có một quốc gia, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia đó, thì điều đó cũng đủ là cơ sở cho lập luận pháp lý của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa.

    Trên thực tế, thứ nhất, chưa chắc chúng ta sẽ chứng minh được điều đó; thứ nhì, chính phủ Việt Nam ngày nay sẽ khó chấp nhận một chiến lược pháp lý dựa trên giả thuyết này.

    Vì vậy, chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến 1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt Nam.

    Phân tích này sử dụng ba khái niệm sau.

    Đất nước, là một khái niệm địa lý, bao gồm một vùng lãnh thổ với dân cư. Chính phủ, là cơ quan hành pháp và đại diện. Quốc gia (trong bài này từ “quốc gia” được dùng với nghĩa State/État), là một chủ thể chính trị và pháp lý.

    Trong Công ước Montevideo 1933, một quốc gia phải có lãnh thổ, dân cư, chính phủ, và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

    Thực chất, trong công pháp quốc tế chỉ có định nghĩa quốc gia như một chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi (tức là có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ luật quốc tế) và chính phủ là thành phần của chủ thể đó, chứ không có khái niệm đất nước.

    Một lãnh thổ - hai quốc gia

    Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự. Mặc dù không chia Việt Nam thành hai quốc gia, Hiệp định đã tạo ra một ranh giới tại vĩ tuyến 17 giữa hai chính phủ đang tranh giành quyền lực, và ranh giới đó đã tạo điều kiện cho sự hiện hữu của hai quốc gia.

    Việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển cử vào năm 1956 đã làm cho ranh giới đó trở thành vô hạn định.


    Một cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa

    Sự hiện hữu của hai chính phủ hai bên một ranh giới vô hạn định ngày càng củng cố sự hình thành và hiện hữu trên thực tế của hai quốc gia trên lãnh thổ đó.

    Điều có thể gây nghi vấn về sự hiện hữu của hai quốc gia là hiến pháp của VNDCCH và VNCH có vẻ như mâu thuẫn với sự hiện hữu đó.

    Tới năm 1956, Hiến Pháp VNDCCH viết “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, và Hiến Pháp VNCH viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan” và “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.”

    Nhưng sự mâu thuẫn đó không có nghĩa không thể có hai quốc gia.

    Hiến pháp của Bắc Triều Tiên viết Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là đại diện cho dân tộc Cao Ly, hiến pháp của Nam Hàn viết lãnh thổ của Đại Hàn Dân Quốc là bán đảo Cao Ly và các hải đảo, nhưng Bắc Triều Tiên và Nam Hàn vẫn là hai quốc gia.

    Như vậy, có thể cho rằng từ năm 1956 hay sớm hơn đã có hai quốc gia, trên lãnh thổ Việt Nam, với vĩ tuyến 17 là biên giới trên thực tế giữa hai quốc gia đó.

    Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần đảo đó.

    Khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLT) ra đời ngày 8/6/1969, có thể cho rằng trong quốc gia với tên VNCH, về mặt pháp lý, có hai chính phủ cạnh tranh quyền lực với nhau: chính phủ VNCH và CPCMLT.

    Khi VNDCCH công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho phía nam vĩ tuyến 17 thì có nghĩa VNDCCH công nhận trên diện pháp lý rằng phía nam vĩ tuyến 17 là một quốc gia khác.

    Nhưng tới năm 1969 CPCMLT mới ra đời, và cho tới năm 1974 mới có một tuyên bố chung chung về các nước liên quan cần xem xét vấn đề biên giới lãnh thổ trên tinh thần bình đẳng, vv, và phải giải quyết bằng thương lượng.

    Vì vậy, nếu chỉ công nhận CPCMLT thì cũng không đủ cho việc khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ thập niên 1950.

    Quá trình thống nhất

    Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của một quốc gia mới.


    Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa

    Năm 1976, trên diện pháp lý, hai quốc gia trên thống nhất lại thành một, và từ đó Việt Nam lại là một quốc gia với một chính phủ trên một đất nước (lãnh thổ).

    Sự thống nhất này đã không bị Liên Hiệp Quốc hay quốc gia nào lên tiếng phản đối.

    Năm 1977, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được chấp nhận tham gia Liên Hiệp Quốc.

    CHXHCNVN kế thừa vai trò của hai quốc gia VNDCCH và VNCH/CHMNVN trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế, kế thừa lãnh thổ và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, và mặc nhiên có quyền kế thừa Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.

    Lịch sử pháp lý trên nghe có vẻ sách vở, nhưng thực tế của nó là bom đạn, xương máu, và nhiều cảnh huynh đệ tương tàn.

    Mặc dù lịch sử pháp lý đó đã kết thúc bằng một quốc gia trên đất nước (lãnh thổ) Việt Nam thống nhất, nó là một cuộc bể dâu làm đổ nhiều xương máu.

    Nhưng quá khứ thì không ai thay đổi được, và tương lai thì không ai nên muốn đất nước Việt Nam lại bị chia đôi thành hai quốc gia lần nữa.

    Cuộc bể dâu đó cũng đã góp phần làm cho Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, và để lại cho Trung Quốc một lập luận lợi hại, rằng trước 1975 Việt Nam không tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và đã công nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.

    Nhưng việc đã từng có hai quốc gia trên một đất nước (lãnh thổ) Việt Nam trong giai đoạn 1956 đến 1976, và việc, vào năm 1976, hai quốc gia đó thống nhất thành một một cách hợp pháp, là một yếu tố quan trọng trong lập luận về Hoàng Sa, Trường Sa.

    Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.

    Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.

    Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này.

    Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.

    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Dương Danh Huy, Phạm Thanh Vân và Nguyễn Thái Linh từ Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Các tác giả cảm ơn GS Phạm Quang Tuấn đã góp ý cho bài.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    Đồng ý với bác visitor về pháp lý. Nhưng trong khi TQ không chịu ra tòa thì tuyên truyền cũng là lợi hại, và việc đổi tên thành VNDCCH sẽ là bất lợi cho tuyên truyền. Trong câu đó trong bài, tuyên truyền là điều chúng tôi nói tới.

    visitor viết:
    Tên gì cũng chả có tí ý nghĩa nào đối với TQ cả một khi họ lấy TB Phạm Văn Đồng để chứng minh việc VN từ bỏ chủ quyền HS và TS, có nghĩa là họ coi VNDCCH và CHXHCNVN chỉ là một. Cái CQ VN hiện nay cần làm không phải là đổi tên nước hay không đổi tên nước mà là chứng minh các CQ Việt Nam đã sở hữu liên tục HS và TS tức là phải công nhận tất cả các Hiệp Định Pháp đã kí nhân danh Việt Nam, công nhận tất cả các chính phủ trước đây, từ CP Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại (với thủ tướng là Trần Văn Hữu với tuyên bố tại San Francisco), CP VNCH (người kế thừa CP Quốc Gia Việt Nam tiếp tục quản lí HS và TS) là CQ tiền nhiệm của mình. Như vậy khẳng định lãnh thổ VNDCCH năm 1958 không bao gồm HS và TS. Chỉ như vậy mới có thể vô hiệu hóa TB Phạm Văn Đồng được.

    Chào các bác,

    (1) Cái não của người ta không có ôxy một khoảng thời gian nào đó, nó sẽ chết. (2) Và chết rồi là thôi, hết sống lại.

    Trong khi các nước khác đang tranh chấp CQ của mình, thì CQ của mình có thể được ví với cái não của người ta. (1) Nếu không có một CP là đại diện hợp pháp của một QG Việt duy trì CQ Việt, CQ đó sẽ chết. (2) CQ đó chết là thôi, hết sống lại, trừ khi đối phương tự nguyện từ bỏ tuyên bố CQ của họ.

    Vì vậy:

    (1a) Các bác "ghét Cộng Hòa" nên suy nghĩ cho kỹ trước khi phủ định CP VNCH không phải là đại diện hợp pháp của 1 quốc gia. Nếu đúng như các bác nói thì CQ Việt trên 2 quần đảo HSTS chết từ trước 30/4/75 rồi.

    (1b) Các bác "ghét Cộng Sản" nên suy nghĩ cho kỹ trước khi phủ định CHMNVN và CHXHCNVN không có CQ trên 2 quần đảo HSTS. Nếu đúng như các bác nói thì CQ Việt trên 2 quần đảo HSTS chết sau ngày 30/4/75 rồi.

    (2) Nếu các bác "ghét Cộng Hòa" và "ghét Cộng Sản" phủ định như trên, và các bác đúng, thì CQ Việt trên 2 quần đảo HSTS đã chết rồi. Chết trước 30/4/75 hay sau 30/4/75 thì cũng là chết, không sống lại được, trừ khi đối phương tự nguyện từ bỏ tuyên bố CQ của họ. Và những bác sung sướng nhất sẽ là những bác "thích Trung Quốc".

    Thành ra sẽ hay hơn nếu các bác "ghét Cộng Hòa" và "ghét Cộng Sản" có những cách khác để chống nhau, thay vì chống nhau đến hòn đảo HSTS cuối cùng.

    Trích dẫn:
    Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.

    Tên gì cũng chả có tí ý nghĩa nào đối với TQ cả một khi họ lấy TB Phạm Văn Đồng để chứng minh việc VN từ bỏ chủ quyền HS và TS, có nghĩa là họ coi VNDCCH và CHXHCNVN chỉ là một. Cái CQ VN hiện nay cần làm không phải là đổi tên nước hay không đổi tên nước mà là chứng minh các CQ Việt Nam đã sở hữu liên tục HS và TS tức là phải công nhận tất cả các Hiệp Định Pháp đã kí nhân danh Việt Nam, công nhận tất cả các chính phủ trước đây, từ CP Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại (với thủ tướng là Trần Văn Hữu với tuyên bố tại San Francisco), CP VNCH (người kế thừa CP Quốc Gia Việt Nam tiếp tục quản lí HS và TS) là CQ tiền nhiệm của mình. Như vậy khẳng định lãnh thổ VNDCCH năm 1958 không bao gồm HS và TS. Chỉ như vậy mới có thể vô hiệu hóa TB Phạm Văn Đồng được.

    Tôi nghĩ CP CHXHCNVN thông qua phát biểu của TT NTD đã gián tiếp cộng nhận VNCH là một thực thể hợp pháp đã từng là người quản lí duy nhất HS và TS.

    Tôi đồng ý với tác giả. CP VN cần đi xa thêm một bước nũa là chính thức (trực tiếp) công nhận CQ VNCH là một quốc gia VN cùng tồn tại song song với CQ VNDCCH trước năm 1975 thì mới có thể đòi lại HS và bảo vệ chủ quyền VN tại TS.

    Nhưng phải công nhận rằng CP CHXHCNVN hiện nay đang ở thế há miệng mắc quai. Một mặt họ rất muốn tìm cách tốt nhất để đòi lại HS và bảo vệ chủ quyền VN tại TS. Mặt khác nếu họ công nhận VNCH là chính phủ hợp pháp của VN thì chẳng hóa ra là công nhận VNDCCH xâm lược VNCH ư? Họ luôn luôn nói VNCH là 'ngụy quyền', rằng cuộc chiến của họ là 'chống Mĩ cứu nước' chứ không phải 'miền Bắc xâm lược miền Nam'. Tôi không nghĩ họ dám công khai chính thức cộng nhận thực thể CQ VNCH, ít nhất là trong thế hệ này.

    "Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH"

    Từ năm 1975 tới giờ chưa đủ chứng cớ, nên phải hạn chế tối đa ? A bit too late, don't you think?

    Lập luận của ông Dương Danh Huy và QNCBĐ vẫn né tránh điều cốt lõi quan trọng là Đàng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), tên mới của Đảng Lao Động Việt Nam. CHXHCNVN có đổi thành VNCH (Republic of Vietnam) hay trở lại tên VNDCCH gì thì đối với Trung Quốc đó chỉ là màn thay áo mà thôi.

    Đối với quốc tế, Hiến Pháp của một nước mới là điều quan trọng. Ở các nước cộng sản, mà rõ ràng nhất là Điều 4 HP của nước CHXHCNVN đã pháp định ĐCSVN “là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội”. Tức là ĐCSVN mới là nhân tố quyền lực tối cao, nhà nước chỉ là “nhà” quản lý.

    Ông Dương Danh Huy chỉ (biết) đưa ra Công Hàm 1958 mà không biết những “Mật Hàm” với những nội dung gì đã được ký kết giữa hai ĐCSVN và ĐCSTQ. Chính những mật hàm nầy mới làm cho ĐCSVN hoàn toàn thụ động, câm miệng chứ những lập luận như ông Dương Danh Huy thì ĐCSVN dư biết. Để Trung Quốc không còn điều kiện, lý do, bằng chứng ràng buộc Việt Nam vào những “mật ước” quá khứ thì cần một cuộc cách mạng thay đổi hoàn toàn, những quá khứ ràng buộc như ĐCSVN, VNDCCH và CHXHCNVN cũng phải “cho vào” quá khứ.

    Nếu đưa lập luận của ông Dương Danh Huy rằng “Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của một quốc gia mới” ra quốc tế để chứng minh "tính pháp lý quốc tế" thì chỉ làm cho quốc tế cười, vì trẻ con cũng biết rõ là quân đội của VNDCCH vi phạm Hiệp Định Paris 1973, tấn công cưỡng chiếm VNCH ngày 30/4/1975.

    Trích dẫn:
    Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.

    Một trong ý kiến giá trị là đoạn trích này đây.

    Công hàm Phạm Văn Đồng vẫn còn hiệu lực nếu VNDCCH và sau này là CHXHCN VN còn tồn tại như đại diện chính trị của VN.

    Các chiều hướng discredit bản công hàm Phạm Văn Đồng từ nhà nước đương quyền đưa ra chỉ để đối phó với dân và để dân tự lừa dối nhau, không đứng vững trước luật quốc tế . Và họ biết rất rõ như vậy, chứng tỏ là theo Huy Đức, phía TQ đã đưa ra bản công hàm đó trong cuộc họp vừa rồi làm phía VN cứng họng .

    Mời các bác tham khảo thêm một bài phỏng vấn bác Dương Danh Huy do đài RFA thực hiện hồi tháng 6 năm trước cũng liên quan đến bài này ngày hôm nay. Thời điểm đó bác Dương Danh Huy cũng đã thường vào Dân Luận để thảo luận, chắc nhiều người còn nhớ?!

    Việt Nam đang cố vô hiệu hóa công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc

    Trân Văn, thông tín viên RFA

    2012-06-22


    Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
    RFA file

    Cuối tháng trước, trên trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, có một bài viết bằng tiếng Anh, khẳng định, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam đã từng có hai quốc gia riêng biệt. ((Bạn đọc Dân Luận có thể tham khảo loạt bài đó tại đây) và cũng vì vậy, công hàm do ông Phạm Văn Đồng – Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gửi ông Chu Ân Lai – Thủ tướng Trung Quốc, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông, không có chút giá trị nào về mặt luật pháp quốc tế.

    Đây là lần đầu tiên, một trang web thuộc chính quyền Việt Nam nêu chính kiến theo hướng này. Vì sao? Trân Văn – thông tín viên của Đài chúng tôi đã phỏng vấn ông Dương Danh Huy - một tiến sĩ đang sống tại Anh, thành viên sáng lập Qũy Nghiên cứu biển Đông – và cũng là người đã từng khuyến nghị chính quyền Việt Nam nên làm như thế, để tìm câu trả lời.

    Thể diện chính quyền phải nhường chỗ cho chủ quyền quốc gia

    Trân Văn: Thưa ông, trong các cuộc tranh luận kéo dài suốt nhiều năm qua về chủ quyền trên biển Đông, tuy Trung Quốc luôn dùng công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký hồi 1958 như một trong những bằng chứng để chứng minh rằng, Việt Nam đã chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, song gần như chưa bao giờ chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu quan điểm của họ về công hàm đó.


    Bản đồ Việt Nam trước 1975 chia làm hai tại vĩ tuyến 17 : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa. RFA file

    Cũng vì vậy, việc trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, đăng một bài viết xác nhận sự tồn tại của công hàm này, cũng như phân tích về giá trị của công hàm đó rõ ràng là một sự kiện rất đáng chú ý.

    Là một người chuyên nghiên cứu, theo dõi và phân tích các sự kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, ông nghĩ thế nào về sự kiện vừa xảy ra ấy?

    Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trong tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa (HSTS), Trung Quốc mặc nhiên cho rằng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN VN) là hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VN DCCH) và chỉ của VN DCCH. Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CH MNVN) mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

    Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa.

    » Tiến sĩ Dương Danh Huy

    Đúng là cho tới gần đây truyền thông của Việt Nam tránh nói về vấn đề công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) và tránh câu hỏi, trước khi Việt Nam thống nhất vào ngày 2/7/1976 thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là mấy quốc gia (?), từ thời VNCH đến CH MNVN, có phải là một quốc gia khác biệt với VN DCCH hay không.

    Tôi cho rằng việc một trang mạng thuộc chính phủ Việt Nam đăng một bài phân tích về CH PVĐ với quan điểm trước khi Việt Nam thống nhất thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là hai quốc gia khác biệt, là một bước đi đúng, theo hướng “công khai, công pháp quốc tế và công luận” mà một số nhà luật học Việt Nam đã đề cập đến. Tôi hy vọng rằng việc Học viện Ngoại giao đăng bài đó, cũng như việc tạp chí Tia Sáng đăng một bản tiếng Việt vào tháng 11 năm ngoái, sẽ góp phần mở rộng thêm không gian tranh luận, phân tích công khai về CH PVĐ.

    Việt Nam Cộng hòa là “lõi” của kế hoạch vô hiệu hóa

    Trân Văn: Bài viết bằng tiếng Anh, mới đăng trên trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, chỉ là bản dịch của một loạt ba bài do bà Nguyễn Thái Linh viết và đã từng được tạp chí Tia Sáng của Việt Nam, đăng hồi giữa tháng 11 năm 2011.

    Sau sự kiện đó chừng một tuần, hôm 25 tháng 11 năm 2011, lần đầu tiên, một trong những viên chức cao cấp nhất của chính quyền CHXHCN VN - ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam, chính thức tuyên bố tại diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rằng chính phủ VNCH, đã từng thay mặt Việt Nam, duy trì chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, rằng năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền VNCH,…

    Theo dõi tình hình thời sự tại Việt Nam, chúng tôi không nghĩ rằng, tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng nhắm vào mục tiêu hòa hợp, hòa giải, mà đơn thuần chỉ là chuẩn bị luận cứ, nhằm vô hiệu hóa các bằng chứng mà Trung Quốc đã, đang cũng như sẽ còn tiếp tục sử dụng để chứng minh rằng, Việt Nam đã từng chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc, đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong số các bằng chứng này, có công hàm mà ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958.

    Đối chiếu tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng hồi cuối năm ngoái và sự kiện trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, mới vừa minh định về sự hiện hữu của VNCH trong giai đoạn 1954-1975, với bài viết “Trong cuộc chiến 1954-1975, có một hay hai quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?”, đã được ông công bố hồi giữa năm ngoái, chúng tôi có cảm giác, những khuyến nghị của ông qua bài viết ấy, đang được chính quyền Việt Nam hiện nay áp dụng để có thể ứng dụng hữu hiệu luật pháp quốc tế, vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Bài viết của ông rất cặn kẽ, nhiều chi tiết, trong khi thời gian cho cuộc trao đổi này lại có giới hạn, ông có thể giải thích thật ngắn gọn, nhằm giúp thính giả của chúng tôi dễ hình dung rằng, tại sao, cần phải thừa nhận, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam từng có hai quốc gia riêng biệt?


    Ông Phạm Văn Đồng và ông Chu Ân Lai (source chouenlai.lafeng.net)

    Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trước hết, tôi xin nêu quan điểm của tôi là trong thời kỳ Việt Nam chia đôi thì “Việt Nam là VN DCCH và VNCH” chứ không phải “Việt Nam chỉ là VN DCCH”.

    Đúng như ông nói, có lẽ chính phủ Việt Nam cảm thấy khó có thể làm ngơ trước việc Trung Quốc đang sử dụng vấn đề CH PVĐ trong việc tuyên truyền, họ cảm thấy Việt Nam phải phản biện nhiều hơn, và họ có thể cảm thấy rằng lập luận mạnh mẽ nhất để phản biện là dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS. Nhưng để dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS thì phải dựa trên việc lúc đó miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia.

    Trên thực tế, chính phủ Việt Nam đã viện dẫn các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS từ lâu, thí dụ như trong sách trắng của Việt Nam về HSTS năm 1981. Nhưng, có lẽ trên phương diện đối nội thì họ ngại, không dám công nhận thẳng thừng là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mặc dù đó là quan điểm mà cả ba chính thể: VN DCCH, CH MNVN và CHXHCN VN đã từng đưa ra với thế giới.

    Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.

    » Tiến sĩ Dương Danh Huy

    ...nếu sự thống nhất đó là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.

    » Tiến sĩ Dương Danh Huy

    Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.

    Nói cách khác, nếu chính phủ Việt Nam cho rằng luôn luôn chỉ có một quốc gia, thì CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ gây phương hại cho chủ quyền Việt Nam đối với HSTS.

    Ngoài ra, vấn đề không chỉ là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mà còn là cả tính cách pháp lý của sự thống nhất ngày 2/7/1976. Nếu sự thống nhất đó là VN DCCH mở rộng lãnh thổ về phía Nam, hấp thụ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17 thì sẽ bất lợi cho tranh cãi pháp lý về HSTS. Ngược lại, nếu sự thống nhất đó là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.

    Điểm cuối cùng ở đây là điểm có thể gây tranh cãi giữa người Việt. Trên phương diện chính trị, có thể có quan điểm cho rằng CHXHCN VN chính là VN DCCH đã hấp thụ miền Nam và đổi tên thành CHXHCN VN. Nhưng, trên phương diện thủ tục pháp lý, theo quan điểm của các quốc gia khác lúc đó, bao gồm cả Trung Quốc, và của các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, thì sự kiện Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 là hai quốc gia thống nhất lại thành một quốc gia mới.

    Trân Văn: Xin cám ơn ông.

    Nguồn: RFA

    Đúng! tôi đồng ý với bác Huy. Cần lấy tên VNCH mới có cơ sở để đòi lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa.