Hoàng Đức Doanh - Góp ý xây dựng Hiến Pháp

  • Bởi Admin
    07/04/2013
    5 phản hồi

    Hoàng Đức Doanh

    Kính gửi: Ban soạn thảo sửa đổi hiến pháp Quốc hội Việt nam

    Tôi là Hoàng Đức Doanh, sinh năm 1946.

    Trú tại: Tổ 7 phường Hai Bà Trưng thành phố Phủ lý tỉnh Hà nam

    Lai lịch bản thân: Từ nhỏ đến 19 tuổi đi học, lao động tự do. Năm 20 tuổi (1/1966) đi bộ đội, chiến đấu ở Khe sanh (Quảng trị) 1968 – 1969. Năm 1970 – 1972 chiến đấu ở Xiêng khoảng, Sầm nưa (Lào). Năm 1973 chuyển ngành là cán bộ huyện Thanh liêm - Hà nam đến khi nghỉ hưu. Chưa có tiền án, tiền sự. là người ngoài đảng và chưa bao giờ có biểu hiện chống đối đảng (tính đến khi viết góp ý).

    Thái độ góp ý: Thật tâm, chân thành với mục đích xây dựng. Không nói những điều biết là chưa đúng, Không sử dụng giả dối để biện luận, dẫn chứng.

    Bổn phận công dân: Là công dân lương thiện, cao tuổi nên không để ai lợi dụng. Không sợ "chụp mũ" khi nói sự thật, luận bàn về tương lai phải dựa vào tính logic của sự việc, được phép sử dụng kinh nghiệm của nhân loại để viện dẫn. Xây dựng Hiến pháp là trách nhiệm, là thể hiện yêu nước.

    Nội dung góp ý:

    Hiến pháp Việt nam ra đời năm 1946, đã trải qua 4 lần sửa: 1958, 1980, 1992, 2001, nay là lần thứ 5. Tự điều này nói lên (do hoàn cảnh) chúng ta xây dựng hiến pháp thiếu tầm nhìn, biểu hiện sự chắp vá. Lần sửa 1992 sinh thêm nội dung được ghi gọn vào điều 4 và đến nay vẫn duy trì. Điều này gây nên tranh luận sôi nổi nhất. Nếu giữ điều 4 thì xem như các điều khác ít phải bàn, nếu bỏ điều 4 thì hầu như phải viết lại. Hiện tượng đó nói lên tầm quan trọng của điều 4, nó quan trọng tới mức trước đây bị cấm kỵ, chỉ từ khi ông Phan trung Lý tuyên bố không có vùng cấm thì nhiều người mới lên tiếng. Nội dung điều 4 mặc định đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân Việt nam mãi mãi (điều 4 không xác định thời gian, được hiểu là vĩnh viễn) nên cần phải bàn thảo kỹ lưỡng.

    Nếu ai đồng ý điều 4 là mang quan niệm duy tâm, theo thuyết duy vật thì không có cái gì bất biến, ngay đến một dân tộc cũng vận động, hoặc theo chiều hướng văn minh, hoặc lạc hậu và ai cũng thừa nhận dân tộc là trường tồn. Các đảng phái chính trị luôn thay đổi cho nên giới hạn, chưa có đảng chính trị nào tồn tại vài trăm năm và nếu là cầm quyền thì chưa thể đến trăm năm. Cứ cho là đảng Cộng sản Việt nam muôn năm thì vẫn là giới hạn không thể sánh với dân tộc trường tồn. Luận điểm này phi lôgic, đảng chỉ là một bộ phận của dân tộc. Tiểu tiết không thể bao phủ đại thể.

    Vừa qua các ý kiến bảo vệ điều 4 lý luận rằng : vì công lao của đảng, vì tài tình của đảng nên đảng xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo. Khi các vị nói đến công lao, các vị có nghĩ đến tội của đảng không? Giai đoạn 1930 – 1945 chưa thấy ai quy kết đảng mắc tội (hoặc có mà chưa công khai). Giai đoạn 1945 tới nay thì chính đảng – Những người lãnh đạo, văn kiện của đảng -- đã thừa nhận những khuyết điểm của đảng. Có việc đúng nghĩa với cụm từ khuyết điểm, có những việc phải nói là tội lỗi. Khá nhiều người chết oan trong cải cách ruộng đất do đảng gây nên phải gọi là tội ác. Các lần chỉnh đảng, thanh trừng nội bộ, thanh trừng những người bất đồng chính kiến phải gọi là tội v.v...

    Những tội nêu trên vẫn còn là nhỏ, tôi thiết nghĩ tội lớn nhất của đảng là tội đã hơn nửa thế kỷ nay đưa dân tộc Việt nam vào vị thế bất lợi. Đã có lúc chúng ta tự hào Việt nam là tiền đồn của phe XHCN, là người lính tiên phong của 3 dòng thác cách mạng. Nay xem còn mấy người tự hào về điều này và các phương tiện truyền thông cũng không thấy nói đến bởi vì sự thật phũ phàng của Việt nam đã được bạch hóa. Việt nam bị làm con tin của hai phe Cộng sản đối kháng với Tư bản từ hội nghị Giơ-ne-vơ 1954, quá trình cho đến nay Việt nam đã nhiều lần bị các nước lớn mang ra "đấu giá" cho nên chúng ta bị quay cuồng chống đỡ, nhân dân gánh chịu nhiều đau thương, mất mát và nay đang tụt hậu cũng bắt nguồn từ nguyên nhân này. Chúng ta cứ nhầm tưởng chúng ta làm được những điều vĩ đại, rốt cụôc chúng ta đều nằm trong kịch bản của 2 phe đối kháng tạo dựng. Ngày nay khi chúng ta đã hòa nhập với thế giới, nhiều điều trước kia là bí mật quốc gia thì nay đã được công khai, một số vị nguyên là cán bộ cao cấp viết hồi ký giúp cho công luận nhìn rõ quá trình đường đi nước bước của dân tộc sau gần thế kỷ.

    Tôi đồng ý với các vị, đảng có nhiều công lao, (trừ những điều mà người ta tâng bốc). Lớp đảng viên tiền bối có nhiều người xứng đáng là anh hùng của dân tộc, họ đã kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của ông cha, họ đã không nề hà gian khổ, không tiếc máu xương, nếu so sánh khí phách anh hùng họ không thua kém bất kể thời đại nào trước đó, nhân dân ta đời đời biết ơn họ. Nhưng tiếc rằng những lớp đảng viên kế tiếp chưa đủ thông minh dẫn dắt dân Việt nam được hưởng thành quả của lớp người đi trước, chưa xứng đáng với sự hy sinh cao cả thuộc thế hệ tiên phong.

    Điều hành đất nước hiện nay, tôi không nhìn thấy công lao, rất bình thường, có mặt còn chưa đạt mức bình thường nếu đem so sánh với những nhà nước quanh khu vực. Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo có nhiều công lao nhưng không thể con, cháu dòng họ Trần cứ lợi dụng mà kể công với dân tộc. Cho nên lập luận đảng có công lao nên đảng xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo mãi mãi là không thuyết phục. Chúng ta đã phá bỏ tập tục cha truyền, con nối lẽ nào chúng ta chấp nhận sự thừa hưởng, vin vào công lao để thừa hưởng! Mỗi chúng ta còn chấp nhận điều này thì không bao giờ chúng ta tìm thấy người tài!

    Tiếp đến còn những ý kiến mang triết lý sổ hưu để bảo vệ điều 4 có lập luận rằng: Bỏ điều 4 thì sổ hưu không còn, những người đang làm việc rồi đây, đến khi hết tuổi lao động sẽ không có lương hưu. Lẽ ra tôi không nên làm mất thời gian của nhiều người về điểm này vì ai cũng dễ dàng nhìn thấy sự vô lý, tôi xin quý vị nhìn sang Liên xô và các nước đông Âu, từ ngày họ không dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản họ có bị mất lương hưu đâu.

    Đến đây tôi phải nhấn mạnh điều đang bàn luận hoàn toàn riêng biệt với việc đảng lãnh đạo hiện nay. Hôm nay hoặc mai sau tôi không phản đối đảng lãnh đạo miễn là nhân dân Việt nam đồng ý đảng lãnh đạo theo hình thức đầu phiếu. Nếu đảng vẫn giữ được uy tín trong nhân dân thì tất nhiên là đảng lãnh đạo, nhược bằng không còn uy tín, tức là trong đảng hết người tài thì phải nhường cho những người có tài đảm đương trọng trách. Ở điểm này tôi muốn đảng trả lại nhân dân quyền tự quyết, kiên quyết loại trừ những người ỷ nại vào quyền thừa hưởng. Thiếu người làm việc, thừa người tham nhũng bắt nguồn từ nguyên nhân "con ông, cháu cha – một người làm quan cả họ được nhờ", không khác chế độ phong kiến bao nhiêu. Giữ điều 4 là chúng ta nuôi dưỡng những nhược điểm đó!

    Tôi quan niệm trong hiến pháp chứa đựng nhiều vấn đề cơ bản và quan trọng vì nó là luật mẹ, nó phải đảm bảo cho người lãnh đạo quản lý được mọi mặt của xã hội, mặt khác nó lại đảm bảo đời sống an toàn cho mỗi người dân, không bị áp bức, không bị phân biệt, có những quy ước hợp lý giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo. Muốn đảm trách được chức năng đó nhất thiết hiến pháp phải chứa đựng đầy đủ tinh thần Công ước Quyền con người của L.H.Q mà nhà nước Vn đã ký cam kết, tiếp đến hiến pháp phải đảm bảo đầy đủ Quyền công dân, một trong những quyền cơ bản của công dân là quyền bầu chọn và quyền bãi miễn người lãnh đạo. Khi người dân sử dụng tốt những quyền này thì tình trạng cửa quyền, tham nhũng không còn đất sống, nội dung điều 4 xem như là thừa.

    Khi mà đã thể hiện đầy đủ và rõ ràng Quyền con người và Quyền công dân trong hiến pháp là chúng ta đang xây dựng xã hội dân sự. Một mô hình xã hội tiến bộ nhất mà nhiều nước văn minh đang chiếm đa số áp dụng. Xã hội dân sự giải quyết mâu thuẫn bằng lý lẽ do có hiến pháp bảo đảm quyền bình đẳng, tôn trọng ý tưởng do được tự do ngôn luận sẽ giảm thiểu giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực.

    Kể từ khi quốc hội kêu goị nhân dân góp ý tôi luôn trăn trở, suy tư. Nếu sửa từng điều tôi cảm thấy chắp vá, nhiều chữ mà ý vẫn thiếu. Đến khi 72 nhân sỹ soạn thảo một bản hiến pháp mới tôi thấy hợp với suy nghĩ của tôi và tôi đã ký tên ủng hộ, tôi đứng ở số thứ tự 308 trong danh sách.

    Cuối cùng tôi đề nghị quốc hội kéo dài thời gian lấy ý kiến đóng góp ít nhất là 9 tháng. Tôi hy vọng hiến pháp sau lần sửa này sẽ thay đổi được hiện tình đất nước. Số người dân khiếu kiện sẽ giảm, án oan sai giảm, án tồn không còn. Điều kiện để thay đổi không thể còn cách nào khác là phải tam quyền phân lập. Hành pháp, tư pháp, lập pháp là 3 cơ quan độc lập. Quốc hội phải là cơ quan quyền lực cao nhất đúng nghĩa, người dân được bầu đại biểu của mình theo đúng ý nguyện, không bị ai can thiệp, các đảng phái chính trị chỉ là một bộ phận trong nhân dân. Người dân được hưởng đầy đủ Quyền con người và Quyền công dân, được hiến pháp thừa nhận và Quốc hội giám sát chặt chẽ.

    25/03/2013
    Hoàng Đức Doanh
    Đt 0987 527 178

    544583_438600466232447_1552047464_n.jpg

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Bài này viết giản dị không dùng văn "bác học" nhưng lý luận vững chắc, dễ hiểu và có nhiều điều dễ chấp nhận. Riêng ý tác giả là nếu Đảng tốt thì cứ lãnh đạo, tôi thấy không thể chấp nhận được ý này, đảng là một tổ chức của một nhóm người, nếu con người tốt đủ khả năng lãnh đạo đất nước thì con người ấy dù ở đảng phái nào cũng được lãnh đạo, dĩ nhiên phải qua sự BẦU BÁN HAY XÉT DUYỆT CỦA NHÂN DÂN, ở Hàn quốc thì người nào lên làm tổng thống thì phải từ bỏ đảng phái mà mình đang tham gia, như vậy người đứng đầu nhà nước là của nhân đân chứ không phải của đảng phái. Nói đến đảng tức là nói đến sự phân biệt giữa người này với người khác, ta nói đảng với dân là một là nói láo, người ngoài đảng không được họp chi bộ như người trong Đảng CS, người ngoài Đảngr dù có tài đến mấy cũng không được giữ một chức vụ nào đó chỉ dành cho đảng viên, vì thế người ngoài Đảng CS ít có cơ hội ĂN CẮP (tham nhũng) như đảng viên. Mặt khác nếu một con người cụ thể nếu bỏ cái mác đảng ra thì khác gì con người ngoài đảng. Có người trước khi vào Đảng thì dốt, vào Đảng rồi dốt vẫn hoàn dốt, nhưng nhờ cái "áo" đồng chí mà được cất nhắc, như vậy là điều khiên cưỡng.
    Trong một xã hôi dân chủ thì mọi người phải bình đẳng với nhau (vì cùng là con người sinh ra vốn bình đẳng), vậy mà chỉ có người lập ra Đảng CS thì được, lại cấm người khác ập ra đảng khác là mất bình đẳng, vậy thì hô hào dân chủ là vô nghĩa. Tôi thấy rất ít ý kiến đề cập đến sự bát bình đẳng này, lâu nay vì Đảng tuyên truyền vào giáo dục theo kiểu "nhuộm đỏ" nên nhiều người vẫn sùng bái Đảng, coi Đảng như một thế lực siêu nhiên, có một không hai, cứ cho là Đảng có công thì được quyền lãnh đạo. Lúc nào có công thì được tuyên dương, lúc nào có tội thì phải vào tù thì mới xóa bỏ được tư tưởng công thần. Còn công hay tội của Đảng thì nên bàn luận thật ngọn ngành vì từ trước đến nay lịch sử dân tộc bị biến thành lịch sử đảng đến gần thế kỷ và bị bóp méo, bị xuyên tạc, đánh lừa dân tộc, nếu gọi là Đảng áp dụng chính sách ngu dân để dễ trị cũng không ngoa.
    Nếu nhận xét theo dòng thời sự thì thấy vai trò của Đảng, uy tín của Đagnr ngày càng giảm, nhu cầu vào Đảng ngày càng co lại vì kinh tế thị trường, người ta có thể kiếm cơm bàng cách bán sức lao động (trí óc và chân tay) cho các công ty tư nhân (trong và ngoài nước) đỡ mất thời gian "học tập và tu dưỡng" để được kết nạp vào Đảng. Tôi khác bác Doanh là hiện nay tôi vẫn còn thể Đảng trong gia đình có nhiều người là đảng viên, kể cả đảng viên lão thành, nhưng vì lợi ích chung và vì sự công bằng cho tất cả công dân, tôi vẫn phát biểu những điều trên.

    Có ý nhỏ này góp với bác Doanh. Đã 3 quyền phân lập thì QH không thể là cơ quan quyền lực nhà nước CAO NHẤT được. Đã cao nhất thì không có tam quyền bác ạ

    Sau khi đọc bài của bác Doanh, tôi như được cởi cái ách "đồng chí"trên cổ bấy lâu nay. Từng là cựu chiến binh F308, chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị và CPC rồi chuyển ngành, nên tâm sự của tôi cũng giống như những điều bác viết. Tại sao tôi nói là cởi cái "ách đồng chí" ? Tôi cũng đã từng là người đảng viên, từ "đồng chí" thật thiêng liêng trong những năm tháng chiến đấu trong Quân đội. Nhưng cũng vì như vậy, nhiều khi muốn thét lên với những tên quan tham hiện nay : Không được nhân danh đảng và nhân danh "đồng chí" để phá hoại đất nước, làm hại đồng chí, đồng đội mình và phản bội lại nhân dân. Đó là bọn giặc nội xâm, là những con sâu con mọt ai cũng thấy, nhưng cái gốc rễ sinh ra vấn nạn quốc gia đó thì không phải ai cũng thấy hoặc thấy nhưng phó mặc để yên thân. ĐCSVN nắm quyền lực 67 năm lãnh đạo đất nước, nên "mặc định đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân Việt nam mãi mãi " như bác Doanh chỉ ra. Đặc biệt sau năm 1990, kinh tế đất nước thoát khỏi đói rách, đã có tiền đầu tư nước ngoài đổ vào thì quan chức của đảng và nhà nước đã dần biến thành "bầy sâu, chuột". Quyền lực càng cao thì kiếm tiền càng dễ và càng nhiều; có nhiều tiền lại mua thêm quyền cao chức lớn. Quyền -Tiền -Quyền -Tiền.. cứ thế xoay vòng và gia tốc ngày càng tăng lên, tạo thành vòng xoáy quyền lực - tiền tài - danh vọng nhấn chìm cái uy tín, lý tưởng ĐCSVN, một thời vinh quang, oanh liệt. ĐCSVN từ sự độc quyền lãnh đạo 67 năm, đã biến chế độ cộng hòa dân chủ nhân dân 1945, thành chế độ chuyên chế, độc đoán, tập trung quyền lực vào BCH, Bộ chính trị. Chế độ đảng trị đã biến xã hội VN thành chế độ phong kiến tập quyền kiểu mới, đó là các ông vua tập thể ( Bộ chính trị ) và các ông quan tập thể( các Cấp ủy đảng). Cương lĩnh, N/Q của đảng phải cụ thể hóa trong HP và LP, toàn đảng viên, toàn dân phải tuân theo. BCT, TW ĐCSVN đứng trên HP và LP, quyền "vừa đá bóng, vừa thổi còi" đã biến luật pháp thành luật rừng " Luật là tao, tao là luật". Hiện nay, các Tập đoàn quyền lực đã và đang thâu tóm, lũng đoạn nền kinh tế và chính trường VN. Các quan chức nhà nước cố kết với các tập đoàn tội ác đang xé nát đất nước này. Nhân dân VN tưởng đã ngoi lên khỏi cảnh đói rách, lạc hậu nay đang bị chìm dần trong cái vũng lầy mà túi tham không đáy của các quan chức đảng nhà nước đã hút gần khô kiệt xương tủy. TW, Bộ chính trị ĐCSVN, ban dự thảo sủa đổi HP 1992 cần có thái độ cầu thị, nếu muốn nắm quyền lãnh đạo thực sự. Phải tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân, nhất là bản kiến nghị 7 điểm và dự thảo HP của 72 vị nhân sỹ, trí thức , cựu quan chức để có một HP mới hợp với lòng dân,thuận ý trời và theo kịp xu thế tiến bộ dân chủ của nhân loại.

    Tác giả không nhận mình là trí thức nhưng lập luận đưa ra để bác bỏ điều 4 lại vững chãi và hợp lý hơn cả lập luận của nhiều vị giáo sư tiến sĩ.

    Xin chúc bác Hoàng Đức Doanh mạnh khỏe. Nhiều người nghĩ như bác, mong bác luôn mạnh khỏe, có cuộc sống an lành. Cháu khâm phục những người lĩnh như bác.