Nguyễn Sỹ Phương - Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp” và quyền con người với quyền cơ bản [*]

  • Bởi Admin
    18/03/2013
    7 phản hồi

    TS Nguyễn Sỹ Phương

    Bài 1: Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp”

    Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?”, tác giả Phạm Thị Hoài đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”.

    Để phủ định quyền dân phúc quyết hiến pháp, tác giả Phạm Thị Hoài viện dẫn thực tế quá trình lập hiến Đức (trích): Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình. Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.

    Năm 1990, trong quy trình thốnng nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân. Song điều đó không cản trở nước Đức … thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới”, (Hết trích).

    Tác giả đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”. Từ năm 1949 tới nay, nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp. Nó được xuất bản với tờ bìa mang tên “Grundgesetz” và gọi đúng tên đó trên các văn bản pháp lý trích nó. Luật, bất cứ là luật gì cơ bản hay không, do nghị viện ban hành đều không nhất thiết phải phúc quyết, bởi đó là quyền lập pháp của họ, giải thích tại sao Luật Cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức chưa bao giờ phúc quyết. Còn đã gọi là “Hiến pháp” thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của dân thì phải do dân bầu. Đó là dấu hiệu khác nhau giữa nội hàm khái niệm “Luật cơ bản” và nội hàm “Hiến pháp”. Điểm giống nhau là chúng cùng quy định: a- thiết chế nhà nước và b- khẳng định quyền con người và quyền công dân mà nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện không được xâm phạm – tức quyền cơ bản. Nếu chỉ dừng lại ở đó, thông qua nghị viện, rồi ký lệnh ban hành, thì được gọi là “Luật Cơ bản”, còn thực hiện thêm công đoạn tiếp theo “Phúc quyết” thì được gọi là hiến pháp. Lý do tại sao Luật Cơ bản CHLB Đức năm 1949 lại không trưng cầu dân ý, tác giả Phạm Thị Hoài đã lý giải đúng sự kiện. Còn lý do tại sao tới lần sửa đổi toàn diện năm 1990 vẫn không phúc quyết, bởi chỉ đơn giản do CHDC Đức gia nhập CHLB Đức, nghĩa là phải chấp nhận Luật Cơ bản của họ, giống như Việt Nam sau 1975, chứ không phải hai bên thống nhất thành lập một quốc gia để ban hành một Hiến pháp mới cho mình.

    Điều đó cũng giải thích tại sao Hiến pháp mới thông thường gắn liền với các hệ quả đổ vỡ một thiết chế, cách mạng xã hội, tranh chấp bạo lực, chiến tranh (đã trình bày ở bài Hiến pháp sao phải sửa?). Ngoại lệ có thể tìm thấy trong trường hợp Nam Phi hay Miến Điện. Khi đó Hiến pháp không còn là mục đích trực tiếp của đổ vỡ, cách mạng, bạo lực, chiến tranh, mà trở thành phương tiện hoà bình để vượt qua nó.

    Với nội hàm khái niệm Hiến pháp nêu trên, các nước có thể mặc định, tức tự hiểu đã là Hiến pháp tất phải phúc quyết (lẽ tự nhiên như quyền ăn uống hít thở, không nhất thiết phải đưa vào hiến pháp) hoặc hiến định như Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: Điều 21, “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp”.

    Tới Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, người chấp bút đã không tuân thủ nguyên lý logic học, cũng sử dụng nhầm lẫn giữa 2 khái niệm Hiến pháp và Luật Cơ bản như trường hợp Phạm Thị Hoài, khi viết Điều 123: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    Hệ lụy, một khi đã gọi là hiến pháp thì đương nhiên trước hết phải là luật cơ bản, vì vậy Điều 123 nhắc lại là thừa. Mặt khác, đưa ra 1 câu mang tính tiền đề như Điều 123, làm người đọc dễ ngộ nhận, nhầm tưởng khái niệm hiến pháp nằm trong khái niệm luật cơ bản, trong khi luật cơ bản chỉ là một phần nội hàm của khái niệm Hiến pháp

    Hệ trọng hơn, về nội dung, Điều 74 hiến định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến vốn thuộc của dân, tới Điều 75 diễn giải tiếp, Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn “Làm Hiến pháp“ hiểu theo nghĩa dự thảo là đương nhiên. Nhưng đến Điều 124, hiến định vai trò thụ động của người dân, “Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định“; tất dẫn tới hệ lụy chưa thể xác định sau khi Quốc hội thông qua, Việt Nam sẽ có Luật Cơ bản như Đức bởi hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy (nếu không trưng cầu dân ý), hay là một bản Hiến pháp đúng khái niệm của nó (trong trường hợp được trưng cầu dân ý).

    Hiến pháp là hình ảnh thể chế của một quốc gia trong con mắt thế giới, chứ không phải văn bản lưu hành nội bộ chỉ riêng trong quốc gia đó, vì vậy để có một bản Hiến pháp được họ nhìn nhận ưu việt tiến bộ “sánh vai các cường quốc năm châu“ như ta mong muốn, điều kiện cần đầu tiên là kỹ thuật lập hiến phải tuân thủ đúng các khái niệm khoa học pháp lý phổ quát, trước và trên hết chính khái niệm “hiến pháp“.

    Bài 2: Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản

    Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn.
    Bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (DTHP), chương II “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân” đưa ra 38 điều; so với Hiến pháp năm 1992, lời văn, cấu trúc được sửa lại và bổ sung thêm chín quyền trong chín điều.

    Mục đích sửa đổi trên được Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lý giải trong “Báo cáo Thuyết minh”: “Để khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp”. Từ mục đích đó, DTHP có nhiệm vụ “làm rõ nội dung quyền con người, quyền công dân…”.

    Đã là quyền con người thì do “tạo hoá” sinh ra nằm trong chính mỗi con người. Nếu xét theo hành vi, tổng hợp hết từ chừng 7 tỷ người khác nhau trên quả đất hiện nay, thì quyền con người sẽ vô cùng tận, từ sinh lý, ăn, uống, hít thở, khóc cười, nhìn, nghe, sờ mó… đến hành vi tình cảm, yêu, ghét, hiến, tặng…, tới tâm linh thờ phụng, tín ngưỡng, hay kinh tế, mua bán, cho mượn, đổi chác, hoặc chính trị tham gia đảng phái, bộ máy nhà nước, góp ý chính sách…, không một hiến pháp nào trên thế giới này dù muốn cũng không thể liệt kê nổi, chứ chưa nói khẳng định giá trị, làm rõ nội dung. Vì vậy, nếu lấy nội dung quyền con người làm đối tượng hiến định, thì DTHP nước ta đã không đạt mục đích đề ra. Và cứ theo quan điểm đó, thì hiến pháp nước nào đưa ra càng nhiều quyền con người càng dân chủ tiến bộ ưu việt.

    Nhưng thực tế không phải vậy. Nga, Hiến pháp năm 1993 có tới 48 điều về “quyền và tự do của con người và của công dân”, chỉ số dân chủ năm 2007 xếp thứ hạng 102; Trung Quốc, Hiến pháp năm 1982 có 33 điều xếp thứ hạng dân chủ 138; Đức chỉ có 19 điều ở thứ hạng 13; Đan Mạch có 15 điều, đứng thứ 5; Mỹ, chỉ liên quan tới 10 điều tu chính, xếp thứ 17.

    Lý do, Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn. Chức năng của nó là chế tài, không có chức năng thay thế sách giáo khoa, hay tài liệu khoa học, để lý giải đưa ra kết luận về giá trị, vai trò quan trọng, nội dung của quyền con người, mà chỉ dựa trên cơ sở khoa học đó để hiến định quyền con người. Tiếp theo, quyền con người mặc dù do tạo hoá sinh ra, “lẽ phải không ai chối cãi được”, nhưng một khi quyền lực nhà nước vốn của dân đã được trao vào tay bộ máy nhà nước thực thi, thì quyền tạo hoá đó của họ trên thực tế rất có thể: 1- Bị quyền lực nhà nước xâm phạm, mà người dân thấp cổ bé họng không làm gì được. Có thể thấu hiểu rõ nhất điều đó ở những nước thuộc điạ, như khi thực dân Pháp “mang lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” đến nước ta tuyên bố “khai hoá văn minh”, nhưng thực tế lại “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta (Tuyên ngôn độc lập)” hay trường hợp các nước Ả Rập vừa qua, cách mạng xã hội bùng nổ do quyền làm người bị tước mất, được châm ngòi bởi Mohamed Bouazizi phải tự thiêu, thà chết còn hơn. 2- Không thể thực hiện, bởi bộ máy nhà nước ăn lương có bổn phận đảm bảo quyền tạo hóa của dân, nhưng đã không cung cấp cho họ điều kiện vật chất, hành lang pháp lý thực hiện quyền đó.

    Nguyên tắc hiến định quyền con người, vì vậy, chỉ nhắm vào những quyền pháp lý có nguy cơ bị nhà nước xâm phạm hoặc phải được nhà nước bảo đảm tiền đề vật chất cho nó thực hiện. Những quyền đó, khoa học hiến pháp gọi là quyền cơ bản, không hiểu theo nội hàm “hạt cơ bản” trong vật lý, mà theo nghĩa nhà nước bị chế tài trách nhiệm bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Nói cách khác, quyền cơ bản là quyền con người được ghi vào hiến pháp, khi nó thoả mãn đồng thời 3 yếu tố: 1- chắc chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án chống lại nhà nước, nếu họ bị thiếu những điều kiện bảo đảm quyền đó được thực hiện.

    Có thể hiểu qua ví dụ về “quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, ghi trong Ðiều 35 DTHP, được Điều §75 Hiến pháp Đan Mạch quy định tại điểm (1): “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ”. Ở Đức, xuất phát từ Điều 1, Luật Cơ bản, “nhân phẩm con người không thể xâm phạm. Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm mọi cơ quan quyền lực nhà nước”, Bộ Luật Xã hội Đức quy định nhà nước phải cấp cho bất kỳ người dân nào không có thu nhập, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức, 374 Euro/tháng/người (năm 2013) cộng tiền thuê nhà, điện, nước. Cách tháng trước, một hộ gia đình bị cấp thiếu 15 Cent do cơ quan cấp làm tròn số lẻ, khiếu nại không được liền kiện ra toà, được toà xử thắng và phạt cơ quan cấp phải trả án phí 600 Euro. Cũng viện dẫn Điều 1 trên, trong 1 vụ kiện, Toà án Hiến pháp Đức đã bác bỏ điều khoản Bộ luật Xã hội Đức ấn định mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét tỵ nạn thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức, với lập luận, trợ cấp là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm con người vốn không thể phân biệt đã được hiến định.

    Xuất phát từ bản chất quyền cơ bản nêu trên, ở họ hiến định quyền cơ bản thực chất là hiến định trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm quyền đó được thực hiện, bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự có thể đong đo đếm được. Và chỉ khi đó, người dân mới có cơ sở hiến định để tự bảo vệ quyền của mình, bằng cách viện đến toà án được coi là cán cân công lý; các cơ quan quyền lực nhà nước mới bị ràng buộc bởi các cơ sở pháp lý, phải thực thi nếu không sẽ bị chế tài. Đó cũng chính là bản chất của nhà nước pháp quyền do pháp luật định đoạt, khác với nhà nước độc tài do kẻ cầm quyền quyết định.

    Còn DTHP ở ta, do hiểu mục đích hiến định nhằm “khẳng định giá trị, vai trò”, “nội dung quyền con người”, nên Điều 35 DTHP nêu trên chỉ ghi vắn tắt đúng 11 chữ “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, không hề quy định các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự để chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm cho quyền đó thực thi, như trường hợp Đức, Đan Mạch chế tài nhà nước phải trợ cấp cho bất cứ ai không có thu nhập đủ bảo đảm cuộc sống bình thường.

    Chính do nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền cơ bản, nên DTHP đã đưa ra nhiều quyền, thậm chí nhiều góp ý còn đòi bổ sung thêm bao quyền ước mong nữa. Trong số đó có những quyền, nhiều nước hiện đại chưa dám đề cập, như Điều 38 DTHP: “Công dân có quyền làm việc”, họ không thể hiến định bởi thất nghiệp là bản chất của kinh tế thị trường, chỉ có thể hạn chế chứ không thể chấm dứt. Điều 40 “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”, họ chỉ có thể bảo đảm được một phần chứ không phải tất cả, và đó còn là trách nhiệm gia đình. Tương tự, Điều 41 “có quyền được bảo vệ sức khoẻ” (nghĩa là trách nhiệm nhà nước chữa bệnh cho dân miễn phí?); Điều 44 “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá” (nhà nước miễn phí tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội hè?); Điều 46 “quyền được sống trong môi trường trong lành” (trách nhiệm nhà nước bồi thường khi dân ngộ độc thực phẩm?), Điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (nhà nước miễn học phí và cấp học bổng?). Chưa nói DTHP hiến định cả những quyền tình cảm không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, như Điều 39 “Nam nữ có quyền kết hôn và ly hôn” (chẳng nhẽ ai ế, nhà nước phải có trách nhiệm mai mối cho họ kết hôn?); hay điều chỉnh cả công dân nước khác, khi Điều 19 hiến định Việt kiều với quá nửa đã thôi quốc tịch Việt Nam “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” và chỉ thuộc phạm trù tình cảm cội nguồn không thể chế tài.

    Hệ luỵ nguy hại ở chỗ, do không chứa đựng đầy đủ ba thuộc tính cần có của khái niệm quyền cơ bản, nên quyền con người dù có ghi vào hiến pháp vẫn không hề thay đổi bản chất, tức thiếu tính pháp lý khả thi, làm mất thuộc tính tối thượng vốn có của hiến pháp, trở thành một bản tuyên ngôn, mất giá trị sử dụng khi ban hành! Có thể tham khảo trường hợp EU hiện cũng đang soạn thảo bổ sung Hiến pháp quyền cơ bản “có tài khoản ngân hàng”, dự kiến thông qua tháng 6.2013. Để bổ sung điều khoản đó, họ phải dựa trên kết quả điều tra thực tế, hiện có 30 triệu công dân EU không có tài khoản do thiếu tiền trả lệ phí, phải chịu thiệt thòi không tiếp cận được Internet, ký hợp đồng điện thoại, hay thuê nhà, tất cả đều đòi điều kiện phải có số tài khoản; từ đó dự toán sẵn quỹ tài chính để miễn lệ phí tài khoản, bảo đảm quyền có tài khoản một khi đã hiến định là được thực thi.

    Hiến định quyền cơ bản, vì vậy, khâu đầu tiên hoàn toàn không nằm ở câu chữ mà ở chỗ: 1- phải xác định được chính xác ý nguyện thực tế của người dân, 2- dự liệu được tiền đề để chế tài trách nhiệm thực thi của bộ máy nhà nước vốn đóng vai trò công bộc chứ không phải cai trị – hai yếu tố quyết định cả sức sống trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp.

    N.S.P.

    [*] Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS Nguyễn Đăng Dung, chúng tôi xin đăng lên thành một bài và đặt tựa theo tinh thần bài viết.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Nguyễn Sĩ Phương viết:
    Còn đã gọi là “Hiến pháp” thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của dân thì phải do dân bầu.

    Tôi không ở Đức, nhưng đọc đoạn trên thì bỗng . . . giật mình. Cái mà tôi được nghe nói đến nhiều nhưng chưa hiểu rõ nghĩa là "phúc quyết hiến pháp." Phúc quyết là "trưng cầu dân ý" (referendum) hay là "phê chuẩn" (ratification), hay là một hình thức khác?

    Nếu "phúc quyết" là "referendum" thì Hoa Kỳ . . . không có hiến pháp theo nghĩa của TS NSP, bởi vì từ trước tới nay không có cái "referendum" nào cho 27 tu chính án đã được thực hiện.

    Nếu "phúc quyết" là "ratification" thì Hoa Kỳ hình như cũng . . . không có hiến pháp theo nghĩa của TS NSP bởi vì người dân ở Hoa Kỳ không làm công việc phê chuẩn trực tiếp; phê chuẩn hiến pháp là công việc của Thượng Viện.

    Nhưng ở Hoa Kỳ có một văn bản mang tựa đề "Constitution." Không biết đó có phải là "hiến pháp" theo nghĩa của TS NSP không?

    Tóm lại, đối với người Đức, họ chỉ coi bộ Luật Cơ bản của họ có chức năng như bản Hiến pháp chứ không phải hiến pháp thì người ta cũng phải chấp nhận đó chỉ là luật cơ bản của quốc gia họ chứ không phải hiến pháp.

    Tại sao Quốc hội Đức không trưng cầu dân ý để biến Luật Cơ bản thành Hiến pháp?

    Lý do bị chia cắt đã được giải thích. Còn lý do căn bản khác là Đức vẫn là một quốc gia bị chiếm đóng. Luật Cơ bản do các quốc gia Đồng minh chiếm đóng phác họa nên người Đức, may thay vì bị chia cắt, nên dùng đó để không trưng cầu dân ý mà thôi. Trưng cầu dân ý về bản Hiến pháp do ngoại quốc chiếm đóng soạn thảo? Người Đức dù mặc cảm tội lỗi và gánh nặng lịch sử do Hitler và Đức Quốc xã gây ra vẫn không thể nào chấp nhận một bản hiến pháp, có giá trị trường tồn, do ngoại quốc soạn thảo và được dân Đức "phúc quyết"

    Tại sao không có hiến pháp mà vẫn có Tòa Bảo hiến? Vì Luật Cơ bản được xem như (tức tạm thời) là hiến pháp.

    Vì vậy, để tránh nhầm lẫb, hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) nên được tôn trọng trong nguyên bản và dịch ra đúng với nghĩa của nó để người đọc có thể nhận thức được hậu ý của tác giả khi dùng hai ý niệm trên.

    Năm 2000, Robert Dahl đã so sánh hệ thống chính trị của Hoa Kỳ với 21 nước khác, mà ông đánh giá là những chế độ dân chủ bền vững nhất trên thế giới (Wikipedia: How Democratic Is the American Constitution?).

    Nếu dựa trên tiêu chuẩn của Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương thì trong số 22 quốc gia đó, chỉ có độ 1/3 là những nước có hiến pháp (vì hiến pháp được người dân phúc quyết), số còn lại “chỉ được coi là Hiến pháp chứ không phải hiểu theo nội hàm ngày nay”.

    Quả là một phát kiến vĩ đại của Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương!

    Thế nhưng “hiến pháp hiểu theo nội hàm ngày nay” là gì? Chúng ta có thể lấy ví dụ bản Hiến pháp của Zimbabwe vừa được phúc quyết ngày 16-3-2013, đang chờ kết quả. Nếu bản Hiến pháp này được phúc quyết, Tổng thống Mugabe (89 tuổi) – đã cai trị Zimbabwe trong hơn 3 thập kỷ qua, sẽ có thể giữ chức vụ này thêm 10 năm nữa nếu tái đắc cử!

    TS NSP tranh luận về cách dùng từ "Hiến pháp" hay ""luật cơ bản"" để dẩn giải sự "nhầm lẩn" vòng vo, mất thời, giờ không cần thiết. Tuy nhiên, tôi đồng ý với phần lớn đoạn sau (bài 2).

    Trên phương diện pháp lý "luật cơ bản" của Đức có giá trị của một Hiến pháp và tòa bảo hiến được giao trọng trách để bảo vệ "luật cơ bản".

    Đối với XH Đức và người dân Đức thì hai tên gọi có ý nghĩa giống nhau, pháp lý cũng giống nhau. Thế thì nhầm lẫn ở chổ nào ?

    Das "Grundgesetz" ist de facto "die Verfassung der Deutschen"

    Verfassung

    VN2006A viết:
    Luật cơ bản (Grundgesetz) của Đức chính là Hiếp Pháp của Đức!!!

    Hôm nọ, trong bài dịch bài phát biểu của bà Grundmann, bà ấy cũng có giải thích tại sao lại gọi là luật cơ bản, mà không gọi là hiến pháp.

    Vì Hiếp pháp là cho toàn bộ 1 quốc gia. mà lúc ấy Đức đang bị chia cắt. Nếu gọi là Hiến pháp có nghĩa là công nhận sự chia cắt của nước Đức. Họ không muốn, dù tất cả chỉ là hình thức, nên gọi là luật cơ bản.

    Lẽ ra sau khi thống nhất năm 1990, phải có Hiến pháp, nhưng vì luật cơ bản được dân chúng ưa chuộng quá, nên cứ để thế luôn.

    He he, làm nghề dịch bài có lợi thế đấy bác Sáu nhỉ? nhất trí với bác Sáu chăm phần chăm!

    Từ năm 1949 tới nay, nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp.

    Nghe bác Nguyễn Sỹ Phương giải thích vòng vo nước Đức không có bản Hiến Pháp mà chỉ có Luật Cơ Bản vậy bác ấy giải thích làm sao về Tòa Bảo Hiến của Đức? Tòa Bảo Hiến ở CHLB Đức không chỉ có ở trên bình diện Liên Bang (Bundesverfassungsgericht) mà còn có ở các tiểu bang (Landesverfassungsgericht).

    Luật cơ bản (Grundgesetz) của Đức chính là Hiếp Pháp của Đức!!!

    Hôm nọ, trong bài dịch bài phát biểu của bà Grundmann, bà ấy cũng có giải thích tại sao lại gọi là luật cơ bản, mà không gọi là hiến pháp.

    Vì Hiếp pháp là cho toàn bộ 1 quốc gia. mà lúc ấy Đức đang bị chia cắt. Nếu gọi là Hiến pháp có nghĩa là công nhận sự chia cắt của nước Đức. Họ không muốn, dù tất cả chỉ là hình thức, nên gọi là luật cơ bản.

    Lẽ ra sau khi thống nhất năm 1990, phải có Hiến pháp, nhưng vì luật cơ bản được dân chúng ưa chuộng quá, nên cứ để thế luôn.