Birgit Grundmann - Tính bền vững của bộ Luật Cơ Bản trước những thay đổi của thời cuộc (2)

  • Bởi Admin
    11/03/2013
    2 phản hồi

    Birgit Grundmann<br />
    VN2006A chuyển ngữ, Mai Lê hiệu đính



    (tiếp theo phần 1)

    *

    Thủ tục thứ hai là xác định việc vi hiến một cách trừu tượng. Ở đây, tòa Bảo Hiến Liên Bang quyết định - tách rời khỏi một trường hợp cụ thể - về tính hợp hiến của một điều luật. Trong đó không chỉ xem xét về quy trình lập pháp, mà còn xem nội dung của điều luật có phù hợp với các quyền căn bản hay không. Để khởi xướng việc xác định vi hiến một cách trừu tượng chỉ có chính phủ liên bang, các chính quyền tiểu bang và một phần tư số đại biểu hạ nghị viện có quyền.

    Thủ tục thứ ba là xác định việc vi hiến một cách cụ thể. Tòa Bảo Hiến sẽ can thiệp, quyết định, nếu một tòa án cho rằng điều luật được dùng trong quy trình xử kiện là vi phạm hiến pháp.

    Ở đây có một vấn đề cho ủy ban thành lập Hiến Pháp: một mặt mọi tòa án phải được ràng buộc bởi quyền cơ bản, mặt khác không phải tòa án nào cũng có quyền hạn khiếu nại các điều luật của quốc hội là không hợp hiến. Lối thoát cho các mâu thuẫn chủ đích này nằm ở chỗ, nếu một tòa án cho rằng điều luật được sử dụng là vi hiến, ngưng quy trình xử kiện lại và đưa câu hỏi về tính hợp hiến của điều luật đó ra trước tòa Bảo hiến liên bang. Tòa Bảo Hiến liên bang - và chỉ có nó - mới quyết định được, điều luật đó có chống lại luật cơ bản hay không. Nhưng tòa Bảo Hiến Liên Bang không phán quyết trong trường hợp tranh tụng cụ thể. Đây vẫn là nhiệm vụ của tòa án đã đệ trình điều luật nói trên.

    Trong cả hai trường hợp kiểm định việc vi hiến đã nói, phán quyết của tòa án liên bang có hiệu lực như một điều luật và có giá trị cho tất cả, không chỉ riêng cho các bên tham gia trong trường hợp tố tụng cụ thể.

    Thưa quý vị,

    Tuy nhiên, quan trọng nhất là thủ tục thứ tư, khiếu kiện hiếp pháp: Với thủ tục này mọi công dân đều có quyền khiếu kiện nhà nước, nếu công dân đó cho rằng quyền căn bản của mình đã bị nhà nước vi phạm. Như vậy người dân có quyền tự vệ, phản kháng các phán quyết của tòa án, các biện pháp hành chính và các điều luật. Tất nhiên trước khi ra khiếu kiện hiến pháp, thì mọi khả năng pháp lý của một tòa án "thông thường" phải được tận dụng hết đã.

    Quyền kháng cáo của công dân có ý nghĩa to lớn, nó khẳng định (bảo đảm) hiệu lực ràng buộc trực tiếp của quyền cơ bản về mặt pháp lý. Các quyền cơ bản của mỗi một công dân không những phải được mọi quyền lực nhà nước quan tâm, mà bản thân người dân cũng có thể tự khiếu kiện. Người dân không nhất thiết phải dựa vào - như trường hợp kiểm định vi hiến - một cơ quan công quyền hay một tòa án để đưa một điều luật ra kiểm định trước tòa Bảo Hiến liên bang. Anh ta có thể tự mình làm điều đó thông qua con đường khiếu kiện hiến pháp.

    Khả năng này đã góp phần làm cho Luật Cơ Bản được chấp nhận rộng rãi trong dân chúng và gia tăng uy tín Tòa Bảo Hiến Liên Bang. Tòa Bảo Hiến có uy tín cao nhất trong các cơ quan công quyền. Con số các vụ khiếu kiện chứng minh điều này: Từ khi tòa Bảo Hiến Liên Bang bắt đầu hoạt động năm 1951 đã có đến gần 190.000 vụ khởi kiện hiến pháp, gần 96% tất cả các thủ tục khiếu kiện ở tòa án này. Mặc dù chỉ có 2,4% tất cả các khiếu kiện thắng cuộc. Nhưng điều đó không làm cho khả năng kháng cáo này đáng chê, mà nó chứng tỏ tính đúng đắn của các điều luật và ý thức trách nhiệm rất cao của tòa trong nhận thức quyền hạn giám sát của mình đối với quốc hội.

    Trong các thủ tục tố tụng khiếu kiện Hiến Pháp, tòa Bảo Hiến Liên Bang thường phải trả lời các câu hỏi về Luật Cơ Bản, lúc ra đời còn chưa nhìn thấy trước được. Như vậy tòa đã làm cho hiến pháp liên tục phát triển và kết quả chắc chắn là „tiết kiệm“ được một vài lần thay đổi hiến pháp.

    Tôi xin đi sâu vào 2 quyết định điển hình, mà trong đó tòa Bảo Hiến Liên Bang đã lưu tâm xét đến những phát triển mới mang đặc tính tự nhiên của kỹ thuật: Trước hết cần phải nêu đến phán quyết điều tra dân số năm 1983. Đằng sau quyết định này là một điều luật đã cung cấp cơ sở pháp lý cho việc điều tra dân số. Dân chúng nhìn thấy trong đó nguy cơ của một "công dân trong suốt", có nghĩa thông qua những dữ liệu thu được qua việc điều tra dân số, nhà nước biết hết mọi thông tin về anh ta.

    Một số công dân ngay sau đó đã kháng cáo lên tòa Bảo Hiến Liên Bang, và tòa đã xác định rằng Nhà nước không được phép thu thập và xử lý thông tin cá nhân về công dân của mình một cách không giới hạn, nó phải được giới hạn chặt chẽ. Tính đặc biệt của pháp lý trong trường hợp này là luật cơ bản lúc đó không có quy định về bảo mật thông tin cá nhân.

    Vào năm 1949 Hội Đồng Lập Hiến chưa thể nhìn thấy những nguy cơ xẩy ra do việc xử lý thông tin hiện đại. Tòa Bảo Hiến Liên Bang đã chắn khe hở này bằng cách, thêm vào quyền cơ bản "Tự quyết về thông tin". Quyền cơ bản này phát sinh từ các quyền cơ bản đã có sẵn, quyền cá nhân nói chung và quyền đảm bảo về nhân phẩm.

    Ngày nay ở Đức chủ đề bảo vệ thông tin cá nhân được đề cập khắp nơi và hiện diện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nếu như tòaBảo Hiến Liên Bang không kịp thời diễn giải luật cơ bản một cách phù hợp dưới sự lưu tâm đến việc xử lý thông tin tự động vừa mới khởi phát lúc đó, thì có lẽ việc bổ sung hiếp pháp về trung hạn là cần thiết.

    Một quyết định có tính định hướng cho tương lai, liên quan đến tính hợp hiến của các điều luật, cho phép cơ quan an ninh Đức trong những trường hợp nhất định thông qua Internet xâm nhập vào máy tính cá nhân. Tòa chỉ cho phép một hành động như vậy dưới những điều kiện rất nghiêm ngặt.

    Như trong phán quyết về điều tra dân số đã nảy sinh ra vấn đề: Luật Cơ Bản không có các quy định liên quan đến những nguy cơ khi các công dân sử dụng Internet gặp phải. Tòa Bảo Hiến Liên Bang đã tiếp tục bổ sung hiến pháp dựa vào quyết định từ năm 2008. Cho ra luật cơ bản về - tôi trích dẫn - "Bảo đảm độ tin cậy và tính toàn vẹn của các hệ thống thông tin", hoặc ngắn gọn, "quyền cơ bản về máy tính".

    Cả hai quyết định nói trên tạo ra một ấn tượng, nhờ có tòa Bảo Hiến Liên Bang nên đến ngày nay bộ Luật Cơ Bản chỉ có rất ít thay đổi hoặc bị chỉnh sửa. Các Thẩm Phán của tòa Bảo Hiến Liên Bang đã đưa sự sống vào các điều khoản của Luật Cơ Bản, diễn giải theo nhãn quang của những thay đổi trong xã hội với sự lưu tâm đến các phát triển mới, đem vào áp dụng và tiếp tục phát triển. Tòa đã ý thức nhiệm vụ của mình là "người bảo vệ hiến pháp" một cách đầy ấn tượng.

    Thưa quý vị,

    Quý vị cũng đang thảo luận về thay đổi hiến pháp và một chủ đề trong đó là vai trò của Tòa Án và công tố viên. Bởi vậy ở điểm này tôi muốn có vài lời về tòa án và công tố viện ở Đức, về cơ bản là do các tiểu bang thiết lập. Hiến Pháp của chúng tôi quy định tất cả các Thẩm Phán phải độc lập. Ngược lại, hiến pháp lại không quy định là các công tố viên phải độc lập.

    Vì thế tuy rằng mỗi một bộ Tư Pháp có quyền chỉ đạo đối với các công tố viên của mình. Nhưng không thể sử dụng nó "tùy thích". Bởi vì quyền chỉ đạo cũng không thay đổi được nghĩa vụ của công tố viện, tiến hành điều tra khi có tình nghi. Một chỉ thị trong trường hợp đơn lẻ, nếu như chống lại nghĩa vụ theo luật định này, bản thân cũng sẽ là một hành động vi phạm về luật.

    Thưa quý vị,

    Ở đầu bài phát biểu tôi đã nêu lên những câu hỏi đến nguyên nhân làm nên sự bền vững của bộ Luật Cơ Bản trong những thời gian có thay đổi và khủng hoảng. Nếu ta nhìn lại lịch sử và phát triển từ khi thành lập Cộng Hòa Liên Bang Đức đến nay, thì thành công của bộ luật cơ bản theo quan điểm của tôi chủ yếu là do những điểm sau đây:

    - Thứ nhất, nước Đức đã học được từ những kinh nghiệm của nền cộng hòa Weimar và thời gian Quốc Xã.

    - Thứ hai, bộ Luật Cơ Bảnđược trang bị với một tòa Bảo Hiến có quyền hạn mạnh mẽ. Với sự trợ giúp của tòa Bảo Hiến Liên Bang các quyền cơ bản được bảo đảm bằng pháp luật được thi hành nghiêm túc.

    - Và thứ ba, luôn luôn phản ứng kịp thời với những tiến triển mới bằng những diễn giải mới một điều khoản có sẵn, hay bổ sung thêm như trường hợp gần đây nhất, đưa vào áp dụng điều khoản
    "giảm nợ" đã chỉ ra.

    Tôi hy vọng đã làm quý vị hiểu rõ hơn về bộ luật cơ bản và thậm chí mang đến một vài gợi ý cho việc cải cách hiến pháp hiện nay ở đất nước quý vị, và cám ơn cho sự quan tâm của quý vị.

    *

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Rất cám ơn bác Lỗ Trí Thâm đã góp ý kiến!!!

    1. Tôi đồng ý ngay với bác là Beitritt=Gia nhập, dịch là sáp nhập là không đúng.

    2. Verfahren, bản thân tôi cũng lúng túng khi tìm từ tiếng Việt tương đương, mặc dù hiểu ngay tiếng Đức là phải làm gì!!! Trong kỹ thuật có thể hiểu là phương pháp, quy trình. Nhưng tôi lại không nghĩ ra và vì đây về luật nên tôi dịch là thủ tục. Tôi đồng ý với bác nên dịch là quy trình!!!

    3. abstrakt dịch là nói chung tôi cũng đồng ý!!! Nhưng Normenkontrolle tôi nghĩ dịch là kiểm định chuẩn mực không hay bằng kiểm định vi hiến như tôi dịch, vì bản chất của nó trong trường hợp này là như thế.

    Trong 3 điểm nêu trên mong các bác, đặc biệt là các bác ở Việt Nam thông cảm vì vốn tiếng Việt của Mai Lê và tôi bị hạn chế hơn các bác do ít dùng hàng ngày. Tôi đã từng kể ở đây 1 lần là chỉ biết có đảm bảo mà không biết có cả cam kết hay cam đoan nữa!!!

    4. Riêng đoạn này "Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt und Rechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht" thì tôi lại không hoàn toàn đồng ý với bác!!!

    Bác dịch là:

    Buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp coi Các quyền cơ bản sau đây như là những quyền có hiệu lực bất di bất dịch

    cũng hay.

    Trong tranh luận với thành viên Phan Minh Ngọc trên DL, tôi cũng có giải thích tương tụ như bác dịch, và có lấy ví dụ giống bà Grundmann (nhưng không hay bằng) là quyền cơ bản không thay đổi (bất di, bất dịch như bác nói), còn các luật khác thì thay đổi theo tình hình. Ví dụ của tôi là Film, Video, ảnh trước đây mấy chục năm có thể coi là bằng chứng chống tội phạm. Nhưng ngày nay thì không được, vì kỹ năng làm giả rất cao, khó nhận ra!!!

    Câu dịch của tôi:

    "Các quyền cơ bản sau đây có giá trị áp dụng trực tiếp và ràng buộc quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp"

    Bác nhắc lại tôi mới phát hiện ra tôi thiếu 2 chữ là luật, có lẽ trong đoạn đó nhiều chữ luật quá nên tôi tự động bỏ đi mất. Nó phải là:

    "Các quyền cơ bản sau đây là luật có giá trị áp dụng trực tiếp và ràng buộc quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp."

    unmittelbar geltendes Recht nó là luật áp dụng trực tiếp/có hiệu lực trực tiếp=tức là anh không được thay đổi, kêu ca gì, trực tiếp dùng luôn ở thể original, dịch theo kiểu của bác là bất di, bất dịch.

    Cám ơn bác 1 lần nữa.

    Đây là bài viết về luật mà bác VN2006 dịch trôi chảy thì quả là đáng khâm phục .

    Nhưng do bác là dân kĩ thuật nên về luật không rành lắm nên tôi muốn nói rõ hơn.

    Chức vụ của bà ta là Chánh Văn Phòng Bộ

    *

    "Never change a winning team" – Đừng bao giờ thay đổi đội hình khi đang thi đấu tốt.

    *

    also der Beitritt der Deutschen Demokratischen Republik zur Bundesrepublik Deutschland im Jahr 1990,- dịch là sáp nhập CHDC Đức vào CHLB Đức năm 1990 là không đúng về nghĩa từ vựng mà còn làm vô hiệu hoá toàn bộ Luật Cơ Bản của Đức, Ta thường nói, ví dụ, Thổ Nhĩ Kì-Beitritt zur NATO, Mein Beitritt in AOK, tức là Thổ ra nhập NATO, tôi xin vào Quĩ bảo hiểm sức khoẻ chứ không phải tôi sáp nhập vào nó. Hồi thống nhất, quốc hội Tây và Đông Đức đàm phán căng thẳng trong một tuần để tranh cãi chọn từ sáp nhập hay ra nhập, sau Kohl đã thuyết phục được Đông Đức chọn từ ra nhập. Bởi vì, theo Bộ Luật Cơ Bản, thì nếu sáp nhập là thuộc vào điều 146 GG, trong đó nói rõ, Toàn Bộ Bộ Luật Cơ Bản lúc đó sẽ mất hiệu lực, nhân dân Đức sẽ làm bộ Hiến Pháp mới thông qua trưng cầu dân ý. Còn chọn từ Ra Nhập thì thuộc vào điều 23GG, nghĩa là nước Cộng Hoà Liên Bang Đức có quyền nhận thành viên mới, lúc đó bộ luật cơ bản vẫn tiếp tục có hiệu lực. Và như vậy, Đông Đức khi ra nhập phải chấp nhận toàn bộ luật chơi sẵn có của phía Tây Đức, đổi lại, Tây Đức sẽ trả hết nợ cho Đông Đức. Trong tiếng Việt ra nhập và sáp nhập cũng khác nhau. Sáp nhập xong có thể thay tên hay có thể thay luật chơi nhưng ra nhập thì người mới phải tuân thủ theo phía bên kia.

    *

    Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt und Rechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht" dịch là "Các quyền cơ bản sau đây có giá trị áp dụng trực tiếp và ràng buộc quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp" thì hoàn toàn không chính xác.

    *

    Unmittelbar trong Umgangsprache có nghĩa là trực tiếp, ngay tức thì, ngay sau đó. Nhưng trong khoa học xã hội, về luật và triết, thì có nghĩa khác. Nó có nghĩa là nguyên trạng, có thế nào để nguyên như thế không mông má làm đổi dạng. Trong từ điển nói rõ:

    Als "unmittelbar" wird dabei generell dasjenige bezeichnet, was ohne vorherige Verarbeitung oder Ursache gegeben ist. Unmittelbar ist also alles, was durch keinen Prozess und keine anderweitige Erklärung verständlich gemacht und daher ursprünglich ist.

    Như vậy, câu luật trên có nghĩa là, kể cả quốc hội cũng không được phép đụng chạm, sửa đổi hay uốn nắn những luật cơ bản của bộ luật này, có thế nào để nguyên như thế. Họ rút kinh nghiệm hiến pháp của Cộng Hoà Weimar bị Hitler lạm dụng.

    Ngay trong giáo trình học kì hai trường luật cũng có giải thích:

    Erläuterungen zu den Absatz 3 Artikel 1 des Grundgesetzes:
    .. Dies bedeutet, dass die Grundrechte Rechtsansprüche des Einzelnen gegenüber dem Staat begründen..Eingriffe in die Grundrechte, die Grundrechte nicht selbst vorsehen und die sich nicht aus anderen Verfassungswerten ergeben, sind daher unzulässig......

    Nên dịch là

    Buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp coi Các quyền cơ bản sau đây như là những quyền có hiệu lực bất di bất dịch

    • das Organstreitverfahren, Thủ tục chỉ là một phần của Verfahren, nên dịch là qui trình hay quá trình. Ví dụ một quá trình tố tụng (Gerichtsverfahren)

    Bước một: Thủ tục. Gồm có chuẩn bị hồ sơ, nhân chứng, luật sư ...và hẹn ngày ra tòa.

    Bước hai, tranh cãi luận tội tại toà, sau đó toà phán quyết .

    Bước ba, tống đạt phán quyết của toà bằng văn bản nếu không có kháng cáo sau một thời gian thì Bản án có hiệu lực.

    Qua ba bước đó gọi là một Verfahren

    die abstrakte und die konkrete Normenkontrolle sowie um. Abstrackte trong trường hợp này không có nghĩa trừu tượng, nó nghĩa là cái chung, tổng quát. Từ gốc từ tiếng La Tinh abstractus

    Normenkontrolle là kiểm định chuẩn mực (Việc thực thi Hiến Pháp)