Mai Xuân Dũng - Ý thức hệ và điều 4 Hiến Pháp

  • Bởi Admin
    08/03/2013
    3 phản hồi

    Mai Xuân Dũng

    Để trả lời câu hỏi: Tại sao đảng cộng sản Việt nam vẫn kiên quyết “cố thủ” điều 4 hiến pháp, nhiều nhà nghiên cứu lý luận đã có những bài viết phân tích về vấn đề này. Ở đây tôi chỉ muốn đưa ra vài suy nghĩ nhỏ về việc đảng đang cố bấu víu vào ý thức hệ cộng sản (Marx) ở Việt nam như chiếc phao cứu sinh cho thể chế độc tài (thực chất là quyền lợi phe nhóm) mà hy sinh quyền lợi dân tộc.

    Amartya Kumar Sen là nhà kinh tế học, triết gia Ấn Độ. Năm 1998, ông giành được giải Nobel kinh tế (tức giải thưởng về khoa học kinh tế được trao bởi Ngân hàng Thụy Điển) bởi những đóng góp về: kinh tế phúc lợi, công trình về sự khan hiếm các nguồn lực, nguyên lý phát triển con người, những cơ chế nằm bên dưới sự nghèo nàn và lý thuyết về chủ nghĩa tự do chính trị.

    Khi quan sát hiện tượng chậm tiến, nghèo đói và xã hội vô chính phủ ở những nước Á, Phi và Nam Mỹ trong vòng nửa thế kỷ qua, ông Amartya Sen đã thấy rằng hễ nơi nào có độc tài là nơi đó có chậm tiến. Qua công trình nghiên cứu này, ông đã đi đến kết luận là có sự liên hệ ( corrélation) giữa độc tài và chậm tiến. Ông tuyên bố : “Qua nửa thế kỷ qua, người ta thấy dân tộc các nước Á châu, Phi châu, Nam mỹ chậm tiến ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai và các tác động khách quan mà nguyên nhân chính là do những chính quyền độc tài bản sứ.” Công trình nghiên cứu này đã đưa ông đến giải Nobel kinh tế năm 1998.

    Không ai phủ nhận Việt nam là một quốc gia nghèo. Thậm chí còn là một quốc gia đứng trong số những nước nghèo nhất thế giới. So sánh với các nước khác có điều kiện địa chính trị, hoàn cảnh lịch sử như Việt nam, nước ta là quốc gia chậm tiến. Có thể nói rằng sự chậm tiến này liên quan hữu cơ, nếu không nói là yếu tố quyết định cho sự cho sự chậm tiến, kém phát triển của Việt nam chính là sự vận hành của chế độ hiện hữu: một thể chế độc tài theo ý thức hệ cộng sản.

    Thế nào là “Ý thức hệ”? Theo tôi hiểu ý thức hệ là tư tưởng có hệ thống được tác tạo bởi một (hoặc) nhóm người được xã hội tự giác hoặc bị cưỡng bức (thông qua tuyên truyền) thừa nhận, trở thành một trào lưu, ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội.

    Việt nam chưa bao giờ có một hệ tư tưởng của mình. Ngay cả Trung quốc hoặc Liên xô trước đây cũng không có một hệ tư tưởng mà thực ra họ đã chọn lựa đi theo ý thức hệ của Marx, một hệ tư tưởng được thai nghén từ một nước tư bản châu Âu, lớn lên ở một nước phong kiến quân chủ nửa Tây nửa Đông là nước Nga Sa hoàng, biến thể ở một nước phong kiến phương đông hoang dã là Trung quốc và trở nên già cỗi, quặt quẹo ở Việt nam, Cu ba, Bắc Triều Tiên.

    Nếu nhìn lại lịch sử Việt nam từ khi thành lập đảng cộng sản đến nay ta thấy có ba giai đoạn của sự du nhập, phát triển ý thức hệ cộng sản ở Việt nam. Từ năm 1930 đến năm 1945, các lãnh tụ đảng CS Việt nam nhiệt thành với ý thức hệ Marx. Từ năm 1945 đến năm 1990, họ bị (được) ý thức hệ Marx cưỡng dâm thông qua các bàn tay lớn từ Liên xô, Trung quốc. Từ năm 1990 đến nay, ý thức hệ Marx chỉ còn tồn tại trong các văn bản của đảng, nhà nước trên danh nghĩa còn trong thực tế ý thức hệ hoang tưởng này đã trở thành tấm áo tả tơi trước cơn bão thông tin toàn cầu.

    Nói như vậy không có nghĩa ý thức hệ Marx là thứ vứt đi mà nó vẫn còn rất quý giá bởi trong hoàn cảnh của vài nước XHCN còn sót lại trên thế giới, nó là chiếc pháo cứu sinh cho giới cầm quyền bám víu khi con tàu “Titanic thể chế” đã đâm vào núi băng sự thật.

    Đứng trước nguy cơ bắc thuộc trước mắt, đảng cộng sản Việt nam không hề lưu tâm trước chủ quyền đất nước bị xâm phạm mà chỉ lo giữ thể chế. Chẳng thế mà một ông tướng của quân đội “nhân dân” Việt nam, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc Phòng khẳng định tính cách tương đồng của Hà Nội và Bắc Kinh cùng chung một ý thức hệ Cộng sản sẽ giúp cho sự nghiệp xây dựng CNXH dễ dàng hơn.

    Thứ trưởng Vịnh công nhận rằng “Nền tảng di sản đó chi phối cách ứng xử của hai nước. Một trong những đặc trưng của ý thức hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nếu có được một người bạn XHCN rất lớn bên cạnh ủng hộ và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.”

    Trên thực tế, đảng CS Trung Quốc đâu có còn theo đuổi ý thức hệ Marx trên con đường CNXH. Vậy mà Việt Nam lúc nào cũng xác tín “kiên định chủ nghĩa Marx-Lê”. Chúng ta đã biết, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh một nhà ngoại giao lão thành từng giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Bắc Kinh cho hay:

    “Truyền thống ông cha đến giờ thì thời kỳ nào Trung Quốc cũng xâm lược Việt Nam thì làm gì có truyền thống hữu nghị? Chẳng qua là bịa ra thôi. Hai nữa là cái Ý thức hệ tương đồng cũng không đúng bởi vì từ khi ông Đặng Tiểu Bình ông ấy phát biểu câu “mèo trắng mèo đen mèo nào bắt được chuột thì là mèo tốt” thế nghĩa là ông ta đã đi theo con đường tư bản rồi, đã bỏ con đường Xã hội chủ nghĩa mặc dầu ông ấy vẫn nói XHCN mang mầu sắc Trung Quốc.

    Trong thực tế ông ta đã đi con đường tư bản chủ nghĩa và hiện giờ xã hội Trung Quốc là một xã hội tư bản, phát triển chưa đầy đủ chứ không phải là xã hội chủ nghĩa, không tìm thấy cái gì gọi là XHCN. Tôi cho ông Nguyễn Chí Vịnh nói thế là không đúng, là cố nói lấy được mà thôi”.

    Sự thật là: Người ta nói ở VN chủ nghĩa cộng sản chỉ là chủ nghĩa phong kiến thời hiện đại, cha truyền con nối. Con vua thì được làm vua, không có bất kỳ cơ hội nào cho nhừng ai không phải là đảng viên cộng sản mà muốn làm lãnh đạo! Ở VN các vị trí cao trong chính phủ đã được sắp xếp chia chác bởi những người chủ chốt trong đảng, là sự thoả hiệp giữa các lãnh tụ để bảo đảm cho con cháu họ thừa kế.
    Trước đây, ông Nông Đức Mạnh đưa conn trai Nông quốc Tuấn vào TƯ với chức Bí thư tỉnh uỷ. Ông Lê Đức Anh thu xếp để con trai Lê Mạnh Hà làm Phó chủ tịch UBND TPHCM, con dâu là Nguyễn Thị Doan (hỗn danh là Doan chém gió) làm Phó chủ tịch nước. Ông Nguyễn Tấn Dũng có con là Nguyễn Thanh Nghị làm Thứ trưởng Bộ Xây dựng làm bước đệm cho chức Bộ trưởng sau này và con trai thứ Nguyền Minh Triết mới vào Trung ương Đoàn…vân vân.

    Vì vậy nên có mất nước, đảng vẫn phải bám lấy điều 4 Hiến pháp để bảo đảm quyền lực cho con cháu của Đảng.

    Bất kỳ quốc gia nào cũng phải đổi mới cho phù hợp với sự vận động của lịch sử để đi lên. Bất cứ hành động nào cũng được hướng dẫn bởi tư tưởng. Đất nước nào cũng cần được dẫn hướng bởi một ý thức hệ. Tuy nhiên nó phải được đối chiếu với thực tế và cần phải được sửa sai, (nếu nó không phù hợp với thực tế). Nay đóng khung tư tưởng thành ý thức hệ Marx, “kiên định điều 4 hiến pháp” như khuôn vàng, thước ngọc nhằm đổ bê tông cho chiếc ghế lãnh đạo đất nước của đảng cộng sản, nhất định bắt thực tế phải đi theo tư tưởng bằng bất cứ giá nào, thì khác gì “đẽo chân cho vừa giày”. Đó cũng là quy luật, là thảm trạng của ý thức hệ Marx và những người áp dụng nó. Sự độc tôn độc tài đã gây ra quá nhiều sai lầm trong quá khứ và tạo nên sự tụt hậu của đất nước ngày nay, chưa kể nguy cơ sẽ đưa dân tộc Việt nam đến chỗ trở thành con tin của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán.

    Mai Xuân Dũng

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Hiến Pháp là gi? Có quá nhiều người tham gia thảo luận cho chủ đề này. Hai từ "Hiến Pháp" gần như đã trở thành thời thượng và "hot" nhất trong diễn đàn hiện nay. Đến nỗi, một thường dân như tôi, trình độ học vấn dưới trung học cảm thấy quá bối rối với một phạm trù hình như chỉ để dành cho học giả và cho chính trị gia chân chính.
    Nhưng thục sự HP không phải là vấn đề, mà khó khăn hiện nay chỉ tựu chung ở cái điều 4 của nó. Điều 4 quá nhạy cảm, nó gây tranh cãi nhiều nhất, nó cũng có thể gây xung đột nặng nề nhất, nó gây chia rẽ thuận-chống nhiều nhất...Vậy nó là gì? Nó là một điều dùng để khẳng định quyền lãnh đạo của một đảng phái trong hiến pháp. Nó phát sinh rất nhiều điều khác trong đó mà sự dây dưa của chúng cũng sẽ tự biến mất nếu điều 4 không còn. Vậy tại sao nó có mặt trong hiến pháp? Và nó có thật sự cần thiết tồn tại không? Câu trả lời sẽ xuất hiện nếu như tất cả chúng ta định nghĩa chính xác được "Đảng phái" là gì?
    Vậy thì đảng phái là gì?
    Với thiển ý và một trình độ học vấn hạn chế của cá nhân, tôi xin định nghĩa sơ lược như sau. Đảng phái nói chung là công cụ, là phương tiện mà con người dùng để thực hiện ý đồ chính trị nhằm mục đích cải thiện và thúc đẩy tiến bộ cho xã hội con người. Đảng phái là tập hợp những con người có cùng ý tưởng, tư tưởng, mục đích, (không bao giờ tìm đâu ra thánh để kết nạp cho bất cứ đảng phái).
    Vì là công cụ, là phương tiện nên luôn có nhiều dạng thức và tính năng. Không bao giờ có một công cụ đa năng cho tất cả. Xin cho một thí dụ dù hơi ngô nghê. Trong chiến tranh, không có gì hữu hiệu hơn một cỗ xe tăng. Trong hòa bình, xe du lịch đi chơi là lý tưởng nhất. Trong sản xuất,chiếc máy kéo, máy cày là không có gì bằng. Không ai có thể phủ định công trạng hiển hách của chiếc xe thiết giáp. Nhưng cũng không thể thiếu khôn ngoan mà phủ định công năng của chiếc máy kéo để mang cái anh cồng kềnh đầy súng đạn kia ra mà đi cày ruộng. Và các bạn hãy thử tưởng tượng xem cái cảnh tượng có một ngày nào đó gia đình chúng ta đường hoàng cỡi nó bon bon trên đường ra Đà Lạt mà nghỉ hè! Mọi chuyện có thể xãy ra và đã xãy ra. Khi được nhân cách hóa, chiếc xe tăng đầy uy dũng kia luôn lý luận sắt đá, không, lý luận đầy sắt thép rằng không có gì có thể so sánh với những chiến công lừng lẫy chấn động địa cầu một thời. Mọi phủ nhận đều là cực kỳ vô lý, vô nghĩa, vô ơn. Lý luận của kẽ khạc ra lửa. Và nếu không được nhân cách hóa thì đó chỉ là lý lẽ của một kẽ đã bị trói chặt vào cỗ máy đó và phải sẽ chết sống với nó, chuyện đã từng xãy ra trong thời chiến tranh bom lửa.
    Vì là tập hợp những con người bằng xương bằng thịt, thì bản chất của đảng phái luôn phụ thuộc vào bản chất của con người hơn là phụ thuộc vào khẩu hiệu và biển hiệu của đảng phái đó. Cùng một đảng phái, nhưng trước đây nó may mắn kết nạp được nhiều anh hùng, có tính thời thế, thế thời, thì đó là một đảng anh hùng. Không may, đến thời nhiễu nhương nó bị kẽ xấu chui vào,mà lại vào quá nhiều thì cái đảng đó sẽ trở thành khó xài. Mọi viện dẫn về quá khứ và khẩu hiệu, biển hiệu chỉ là một sự cuồng tín, ngụy biện.Không có gì tồn tại vĩnh cữu và bất biến, kễ cả đảng phái. Vì được tập hợp bỡi con người nên mọi thành quả hay sai lầm đều là của con người và con người phải chịu trách nhiệm. Chỉ có dân tộc mới chịu mất mát hy sinh trong chiến tranh, nghĩa là con người chứ không phải đảng phái, ai nói khác mới là vô ơn, bạc nghĩa.
    Không định nghĩa được đảng phái là gì thì chúng ta sẽ luôn ngộ nhận không chỉ hôm nay, mà trong tương lai cũng sẽ không tránh khỏi việc một cá nhân hay một đảng phái khác nào đó nẫng mất thành quả và công trạng của cả dân tộc để rồi hãnh tiến, phè phởn thống trị, để rồi những trang sử như thế này cứ lập đi, lập lại mãi. Không có nhận thức đúng đắn cho khái niệm đảng phái lâu rồi nó trở thành văn hóa và con cháu của chúng ta chúng sẽ có một cái tên thật kêu, thật hùng vĩ, thật hoành tráng để ghi vào cái điều 4 tiếp tục. Mọi chuyện sẽ tiếp tục cũng như sắp tiếp tục.
    Nếu chúng ta cứ cố tình thiêng hóa đảng phái mà không thể khẳng định rằng nó chỉ là một phương tiện cho ta thì chúng ta sẽ mãi quanh quẫn với cái cối xay sửa chữa mãi. Nếu không nghĩ như thế thì ông Thủ Tướng Nhật đã không dõng dạc tuyên bố sẵn sàng đập bể cái đảng mà ông đang là đảng viên nếu vì nước Nhật vĩ đại của ông.
    Đảng phái là công cụ, là phương tiện. các bạn nào có thể định nghĩa khác, hãy giúp tôi.

    Uông Chung Lưu phát biếu trên truyền hình TV1 tối 8/3 đặc sệt giọng điệu của một uvtư Đảng chứ không phải của phó chủ tịch QH! (Nên nhớ rằng năm 1946 quyền chủ tịch nước là cụ Huỳnh Thúc Kháng-người quần chúng ngoài Đảng). Việc kéo dài thêm nhiều tháng nữa để toàn dân tham gia góp ý bản dự thảo hiến pháp là do luồng tư duy trái chiều nào hay chính do ông Lưu và QH của ông nghĩ ra? nếu vậy thì tầm tư duy tiền hậu bất nhất của QH -nơi họp triển khai NQ của Đảng-từ "đảng" được lặp đi lặp lại từ đầu đến cuối , từ người trả lời phát vấn vv- đã có nhiều bất cập! Tại sao chưa triển khai hỏi dân mà ông Lưu đã võ đoán là dân không đồng ý bỏ điều 4 của hiến pháp để bảo đảm tính thực tế điều 2 của họ? Đây lại một trò lái bịp lộ liễu nữa mà trên kênh thông tin chính thống mắc phải. Tại sao người dẫn chương trình Quang Minh không hỏi thay dân điều đó? Phải chăng các hậu quả yếu kém,thất bại của đất nước liên tiếp xảy ra thì bộ phận thông tin đại loại kiểu trên cũng phải chịu trách nhiệm không nhỏ- Nó còn có tác dụng làm ngu dân (ngu từ nghị viên như nghị Phước ngu ra đến ngoài)!

    NÊN HIỂU VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG QUA HIỆU QUẢ CỦA 123 ĐIỀU CHỨ KHÔNG PHẢI ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP!
    Điều 2 thực chất là Dân làm chủ quyền lực là mục đích của hiến pháp,đồng thời cũng là phương tiện khách quan vĩnh viễn.
    Điều 4 thực chất là Đảng làm chủ quyền lực chỉ là phương tiện chủ quan tạm thời chứ không phải mục đích.
    Vậy nếu Đảng muốn khảng định vai trò của mình thì phải tạo điều kiện cho điều 2 có tính khả thi cao chứ không lấn át nó đi! Vì nội dung điều 4 tự nó đã xung đột với điều 2 ! Điều 2 mọi quyền lực nhà nước thuộc về dân . Còn điều 4 thực chất cũng mọi quyền lực nhà nước thuộc về Đảng. Như vậy quyền của Dân và quyền của Đảng tỷ lệ nghịch với nhau!
    Do đó bỏ điều 4 chính là khảng định được hiệu quả vai trò lãnh đạo của Đảng và tự nó sẽ không mắc các khuyết điểm tương tự như đã xảy ra! Việc gỡ quyền lãnh đạo của Đảng CSTQ ra khỏi HP đã được Trung Quốc làm từ năm 1982 (cách đây đã 30 năm-tuy vẫn còn muộn do tầm tư duy về vai trò lãnh đạo của Đảng còn cứng nhắc, thiếu tầm phổ quát… nhưng vẫn còn may là có bài học thực tiễn nhiều năm trước đó chỉ ra và đã nhận thức được).
    Nếu không bỏ điều 4 thì vai trò của Đảng hóa ra lại làm nhỏ hay làm mờ nhạt , thậm chí làm teo,khó còn khả năng phục hồi chức năng vốn đã yếu của nó do hậu quả lịch sử Đảng lãnh đạo nhiều năm để lại- vai trò làm chủ của công dân! Những khuyết điểm muôn thuở, cố hữu của Đảng trước hết là tranh quyền quản lý nhà nước với Dân-là nguyên nhân của sự suy thoái nhân cách, các loại tham bao gồm cả tham nhũng của nhóm lợi ích và đảng viên. Do xung đột quyền lợi mà không nghe nhau, không tin nhau (đã qua cái mức giảm lòng tin rồi!) Đặc biệt sau đó,do chủ nghĩa Mác- Lênin chưa có tiền lệ về mặt thực tiễn-phải vừa làm vừa chỉnh sửa ,sáng kiến vừa ít lại bị cạn kiệt.Nếu toàn bộ XH chỉ quen trông chờ dựa dẫm vào Đảng thì tất yếu không tránh khỏi họ lại nhận được sự giáo điều,sai sót về đường lối hoặc về cách tổ chức thực hiện và các căn bệnh phát sinh khác của Đảng…Tất cả tạo nên sức ỳ, năng lực cạnh tranh hòa nhập quốc tế kém thêm, kìm hãm thậm chí phá hoại nền kinh tế XH…Lãng phí cho đất nước thêm một thời gian dài nữa. Việc muốn khắc phục chỉ là chủ nghĩa duy ý chí mà thôi. Biện pháp khắc phục càng phức tạp cồng kềnh bao nhiêu càng tốn kém bấy nhiêu. Sự kỳ vọng vào một vài ý câu chữ thêm vào điều 4 HP cùng với một vài biện pháp khắc phục trên sẽ không tránh khỏi thất vọng do hiệu quả kém dẫn tới hiệu ứng đômino lan tỏa toàn bộ mọi mặt của XH…điều này đã xảy ra mới ở mức Bộ chính trị tự xin kỷ luật,nhiều nhóm lợi ích và cán bộ quản lý đã lộ mặt, kèm theo nhiều doanh nghiệp nhà nước và tư nhân bị phá sản… Tóm lại trong mọi trường hợp không thể lấy ý chí chủ quan để can thiệp vào quy luật vận động có cơ sở là yếu tố vật chất và con người.
    Vì vậy,nhìn nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không phải ở chỗ Đảng sử dụng nhiều quyền, làm nhiều việc,trực tiếp hay gián tiếp… mà ở hiệu quả của nó,hàm lượng chiến lược của nó. Sao cho những tồn tại yếu kém của nó phải tự teo lại trong thời gian ngắn nhất.
    Việc Đảng rút bớt quyền lực ở điều 4 để trả lại quyền lực cho Dân và đứng ở vị trí tư vấn ( điều 106 hay điều 105 sau khi đã bỏ điều 4) vẫn với vai trò trách nhiệm đối với 1 Đảng duy nhất, thì sự phát triển mới về chất của XH chính là công lao và sự khảng định vai trò của Đảng với XH. Mà đã là thực tế thì thử hỏi còn ai có thể phủ nhận được thành quả mới này được nữa?