Trần Vinh Dự - Làn sóng vượt biên lần thứ hai

  • Bởi Khách
    29/01/2013
    5 phản hồi

    Trần Vinh Dự

    Tôi có hai người bạn thành đạt. H là tổng giám đốc trong một quỹ đầu tư lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng đi du học và lập gia đình ở nước ngoài. Cách đây 8 năm, anh bỏ việc ở nước ngoài để về nước với niềm phấn khích cao độ. Giờ đây, anh đang tính nộp hồ sơ xin di trú cho gia đình sang Bắc Mỹ. Anh chưa tính sẽ sang Bắc Mỹ sống ngay, nhưng với anh, đó là một cách bảo hiểm.

    T là chủ một doanh nghiệp cổ phần cũng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng bán một công ty trước đây do anh gây dựng và thu về một khoản tiền lớn. Giờ đây anh vẫn còn hai công ty nữa ở Việt Nam. Tuy nhiên hiếm khi anh ở Việt Nam. Anh dành phần lớn thời gian ở Mỹ với gia đình, nơi anh mới mua một căn biệt thự giá hơn 3 triệu USD hồi đầu năm 2012.

    Trở thành thường trú nhân, hay còn gọi là người có “thẻ xanh”, hoặc trở thành người song tịch, tức là vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch một nước khác, đang trở thành một xu thế thời thượng. Có nhiều hãng tư vấn di trú đang hoạt động tích cực ở Việt Nam như IMG, Kornova, USIS, Harvey Law Group (HLG), Immigration (IMM), US Investment (USI), ImmiCa… để phục vụ những khách hàng tiềm năng như H và T. Một số đang trong tình trạng chạy hết công suất vì khách hàng quá đông.

    Hợp pháp và hợp lý

    Việc làm thủ tục xin định cư ở nước ngoài là việc hoàn toàn hợp pháp ở Việt Nam. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó nó còn được khuyến khích. Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, Luật Quốc tịch mới của Việt Nam có hiệu lực và luật này quy định công dân Việt Nam có quyền có hai quốc tịch. Theo Bộ Tư pháp, kể từ ngày đó, người Việt Nam ra định cư, nhập quốc tịch ở nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký. Điều đó có nghĩa là người Việt Nam có thể xin quốc tịch nước khác như Mỹ hay Canada mà không cần phải sợ mất quốc tịch Việt Nam.

    Với nhiều người, việc có quốc tịch thứ hai cũng không quá quan trọng. Điều họ cần là quyền được định cư lâu dài ở nước mà họ lựa trọn ngoài Việt Nam. Và như vậy, chỉ cần là thường trú nhân (có thẻ xanh) là đủ. Điều đó có nghĩa là việc có hay không có quyền có hai quốc tịch theo luật Việt Nam không phải là yếu tố thúc đẩy họ xin định cư nước ngoài.

    Xét về mặt cá nhân, việc thu xếp để có thêm một lựa chọn về nơi ở là chuyện bình thường và hợp lý. Cả H và T đều muốn con cái khi lớn lên được sống trong một môi trường an toàn và được hưởng thụ một nền giáo dục tốt. Ngay cả nếu không định cư dài hạn ở một nước khác, thì có được tự do trong việc đi lại và thay đổi môi trường sống theo sở thích cũng là một quyền lợi thú vị, mặc dù tốn kém. Đó là chưa kể việc một số người trở nên giàu có như T muốn đa dạng hoá tài sản của mình, vì thế, giữ một số tài sản bất động sản ở nước ngoài cũng là một lựa chọn thông minh.

    Xã hội Việt Nam đang giàu lên. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, Việt Nam ngày càng có nhiều người giàu. Đi kèm với nó là ngày càng nhiều những người có nhu cầu làm thường trú nhân ở các nước phát triển như H và T. Điều này xem ra có vẻ rất bình thường.

    Không có số liệu chính thức về số hồ sơ xin định cư mà các hãng tư vấn định cư hoạt động ở Việt Nam đang giải quyết. Vì nhiều lý do tế nhị, cũng ít có người công khai tự nhận mình đang xin quyền định cư ở nước khác. Thế nhưng có nhiều bằng chứng gián tiếp cho thấy phong trào này hiện nay đang phát triển mạnh. Ngày càng có nhiều hãng tư vấn di trú quốc tế tham gia vào thị trường Việt Nam, ngày càng có nhiều đại lý độc lập mọc lên phục vụ khách hàng trên thị trường này. Một số hãng lớn trong năm 2012 thậm chí đã bị quá tải và phải outsource ra bên ngoài để có đủ nhân lực xử lý hồ sơ.

    Thậm chí đã xuất hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ngấp nghé đầu tư vào Bắc Mỹ hoặc Úc trong các ngành liên quan đến nông - lâm nghiệp với mục đích tạo càng nhiều công ăn việc làm ở các nước này càng tốt. Lý do là số lượng công ăn việc làm tạo ra càng nhiều thì các chủ dự án này càng xin được nhiều xuất thẻ xanh. Các xuất thẻ xanh này sau đó có thể bán lại cho các “nhà đầu tư”- thực chất là những người bỏ tiền ra mua thẻ xanh vào các nước phát triển.

    Nhiều câu chuyện có vẻ hợp lý về mặt cá nhân nhưng khi gộp với nhau lại là tín hiệu cho thấy nhiều sự bất bình thường về mặt xã hội. Và câu truyện xin di trú ồ ạt này cũng vậy.

    Bất bình thường về xã hội

    Thông thường những đợt di cư ồ ạt ra nước ngoài thường là chỉ dấu cho thấy những vấn đề về mặt xã hội. Lý do thông thường nhất là sự khó khăn về kinh tế, hiểm hoạ chiến tranh, bất ổn chính trị, phân biệt chủng tộc… Làn sóng vượt biên ở Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 trước đây là một thí dụ. Nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới đã rơi vào tình trạng kiệt quệ và điều này đã làm cho nhiều người Việt tìm cách vượt biên với hi vọng tìm được miền đất hứa.

    Thế nhưng trào lưu di cư lần này của người Việt khác xa với trào lưu vượt biên trước đây, mặc dù có nhiều người gọi vui là phong trào vượt biên lần thứ hai. Khác biệt cơ bản nhất là phong trào hiện nay là phong trào di cư của những người giàu, những người thực sự có tiền để trở thành các nhà đầu tư và lấy thẻ xanh qua hình thức đầu tư. Nếu trước đây các thuyền nhân vượt biên nghèo đói chen chúc trên những thuyền cá nhỏ bé, thì những người di cư lần này đi máy bay trên ghế hạng C (hạng sang) và trong tài khoản đầy tiền.

    Lý do thông thường khiến những người giàu muốn định cư ở nước phát triển là tìm đến một môi trường xã hội tốt hơn cho gia đình khi họ trở thành những người có khả năng chi trả cho một cuộc sống tốt hơn. Thế nhưng đây không phải là lý do tạo ra các đợt di cư đột biến.

    Lý do thường được nghe đến nhiều nhất trong số các chủ doanh nghiệp muốn di cư ra nước ngoài ở Việt Nam là sự bế tắc về cơ hội kinh doanh hiện nay cũng như sự bi quan về triển vọng trong tương lai. Các doanh nhân luôn muốn tìm kiếm môi trường kinh doanh nơi họ có thể kiếm tiền nhiều nhất. Khi thấy Việt Nam không phải là nơi họ có thể kiếm nhiều nhất nữa, họ đương nhiên muốn kiếm tìm một chân trời mới.

    Cũng từ sự bi quan về hiện trạng và tương lai của nền kinh tế khiến nhiều chủ doanh nghiệp lo lắng về các bất ổn xã hội có thể xảy ra trong tương lai. Điều này dẫn họ tới chuyện lo xa cho gia đình. Từ những mối lo sợ có thật như môi trường xã hội ngày càng kém an toàn, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, tới những mối lo xa xôi như bất ổn và rối loạn xã hội hoặc chiến tranh. Trong khi còn có điều kiện về tài chính, việc thu xếp để gia đình có quyền thường chú ở nước khác xem ra là một dạng mua bảo hiểm khôn ngoan.

    Ẩn sau câu chuyện đó, còn có những lý do tế nhị hơn. Việt Nam trong một giai đoạn dài phát triển rất mạnh. Do hệ thống luật pháp và chính sách không hoàn thiện và phải thay đổi thường xuyên, các lỗ hổng pháp lý rất nhiều và dẫn đến một thực tế là có nhiều người làm giàu dựa vào sự lỏng lẻo của quản lý hoặc các bất cập trong hệ thống pháp luật. Kết quả là các rủi ro pháp lý luôn luôn tồn tại, mặc dù không dưới các hình thái cụ thể. Ý thức về rủi ro pháp lý đối với các chủ doanh nghiệp Việt Nam thường không được rõ ràng lúc “thái bình” nhưng lại được làm sâu sắc hơn mỗi khi có các vụ bắt giữ hoặc điều tra quy mô lớn liên quan đến các chủ doanh nghiệp. Năm 2012 vừa qua là một năm như vậy.

    Ra đi không tay trắng

    Cuộc di cư của những người giàu thường là tai hại cho nền kinh tế nếu nó diễn ra trên diện rộng. Đầu tiên là sự thất thoát về chất xám. Không phải ai giàu có cũng giỏi, nhưng nhiều trong số những người này là những người có kinh nghiệm, có khả năng kinh doanh, hiểu biết, và thông minh. Sự ra đi của những cá nhân này là một thiệt thòi lớn cho nền kinh tế xét về mặt chất xám trong kinh doanh.

    Thứ hai là sự thất thoát về của cải. Những người ra đi không phải với hai bàn tay trắng như phần lớn những người vượt biên bằng tàu cá hồi 30 năm trước. Những người ra đi lần này mang theo những khối tài sản lớn, thường là hàng triệu USD, ra nước ngoài. Rất nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều đã có bất động sản và số dư tài khoản tiền mặt lớn ở nước ngoài.

    Thứ ba, đó là các phong trào này tạo ra hiệu ứng tâm lý, làm tăng sự dao động, làm sâu sắc thêm tâm lý lo ngại, cũng như làm giảm nhiệt huyết của những người còn ở lại. Nó cũng đồng thời làm nản lòng những người muốn tới Việt Nam đầu tư và làm ăn. Đây cũng là một bất lợi nghiêm trọng mà các phong trào di cư của người giàu gây ra cho thị trường.

    Dù có những tác động bất lợi như vậy, việc lựa chọn di cư là một quyền hợp pháp của người dân. Vì thế không thể ngăn chặn xu hướng này bằng các mệnh lệnh hành chính. Cũng không thể ngăn chặn nó bằng những lời kêu gọi suông.

    Giữ chân người tài bằng cách tạo niềm tin

    Để chống lại xu hướng “vượt biên lần thứ hai” này cần phải giải quyết tận gốc nguyên nhân khiến nhiều người có tiền đang muốn dứt áo ra đi. Đó là niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam và niềm tin vào sự an toàn của bản thân họ và gia đình ở Việt Nam. Việc này không dễ dàng. Để khôi phục lại lòng tin vào tương lai phát triển của đất nước, điều quan trọng là nhà nước phải chứng minh được cho thị trường và công chúng thấy khả năng dẫn dắt, lộ trình và giải pháp cụ thể, và uy tín chính trị của lãnh đạo.

    Liên quan đến lộ trình và giải pháp cụ thể, đưa Việt Nam ra khỏi vũng lầy hiện nay không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Ngược lại, tất cả các vấn đề này đều có giải pháp. Khủng hoảng kinh tế không phải là một câu chuyện xa lạ mà nó đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi hình thái kinh tế mà loài người đã trải qua. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Thực tế là các lời giải này đã được bàn đến nhiều, trong giới chuyên gia, trong các cơ quan tư vấn, từ các tổ chức hỗ trợ quốc tế, tới cả các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt Nam.

    Vì thế, vấn đề còn lại nằm ở việc chứng tỏ năng lực cũng như uy tín chính trị của người lãnh đạo.

    Uy tín này phải được khôi phục và nó chỉ được khôi phục khi người dân nhìn thấy các động thái quyết đoán của Đảng và nhà nước liên quan đến tư cách, trình độ, đạo đức, phẩm chất, tính chuyên nghiệp, tinh thần phụng sự đất nước, và cái nhìn viễn kiến của bộ máy lãnh đạo.

    Phải từ việc khôi phục uy tín này, lãnh đạo quốc gia mới có thể vực dậy lòng tin của người dân về tính khả thi của sự đổi thay tích cực. Đi kèm với lòng tin này, các quyết sách thực tế của nhà nước nhằm thẳng vào các vấn đề giai góc nhất đang tồn tại mới có thể giúp Việt Nam vượt qua khó khăn hiện tại.

    Chỉ khi làm được như vậy, lòng tin của thị trường cũng như của giới doanh nhân vào tương lai ở Việt Nam mới được khôi phục. Và chỉ có thế, câu chuyện “vượt biên lần thứ 2” của những người có tiền và những người có tài mới giảm bớt và dần dần đảo ngược giống như thời kỳ các doanh nhân Việt kiều lũ lượt về nước làm ăn hồi 10 năm trước.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Rạch Chanh viết:
    Bài này không đúng chút nào. Trong cái làn sóng đó có bao nhiêu người sẵn sàng đi, không kể mạng sống? Dân quê tui còn yêu quê hương yêu sông nước lắm.

    Làn sóng của ông Trần Vinh Dự bự cỡ nào? Tui không thấy sóng nào ở đây hết. Dân đen tay trắng nhiều lắm, còn như có tiền xây nhà bên tây thì bao nhiêu phần trăm?

    Trong lúc người ta đang mong hòa giải và hòa hợp dân tộc, ông đừng so sánh khập khiễng như vậy. Tên bài viết nên là "Người giàu bỏ xứ mà đi", nghe được hơn và tui cũng không nhiều chuyện làm gì.

    2 xu.

    Bình tĩnh , bình tĩnh !!

    Lượng thì vứt , chất mời bàn !

    Phân tích tý nhớ : Mấy thằng khố rách áo ôm đi được cho đi tất , đi nhiều càng tốt . Xã hội đang nghèo mạt rệp , hơi sức đâu ôm đồm mấy thằng đó !! Cứ thả , cho mấy thằng giàu nuôi , nhưng khổ cái thằng nào ngu nhận chúng bây giờ ?!! Tự dưng chã phải nuôi , chã phải dạy , lại còn được ...lại quả cái khoảng thu nhập gởi về . Ai lời ?

    Mấy thằng giàu bỏ đi mới đáng ngại . Phải phân loại . Giaù ở đây bao hàm cả kinh tế lẫn chất xám , mà chất xám lẫn kinh nghiệm của cả 1 tầng lớp đều phắn tuốt thì có nghĩa tài sản , nền tảng kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường bị thất thoát nặng đó sao ? Lỗ không ?

    Liếc qua cũng biết hậu quả khôn lường . Nếu hiện tượng nảy xảy ra ồ ạt thì sao ? 3 triệu thằng và một đám khu đen trong 1 nước kiệt kệ về tài nguyên , tan hoang về môi trường và đek có lực lượng xây dựng kinh tế !? Lỗ nặng .

    Về mặt bản chất , hiện tượng " cột đèn thứ 2 " nguy hiểm hơn đối với xã hội so với " cột đèn thứ nhất " , bởi vì đất nước đang trong giai đoạn xây dựng , chứ ko còn trong mảng tối um như thời hậu chiến !

    Bài này không đúng chút nào. Trong cái làn sóng đó có bao nhiêu người sẵn sàng đi, không kể mạng sống? Dân quê tui còn yêu quê hương yêu sông nước lắm.

    Làn sóng của ông Trần Vinh Dự bự cỡ nào? Tui không thấy sóng nào ở đây hết. Dân đen tay trắng nhiều lắm, còn như có tiền xây nhà bên tây thì bao nhiêu phần trăm?

    Trong lúc người ta đang mong hòa giải và hòa hợp dân tộc, ông đừng so sánh khập khiễng như vậy. Tên bài viết nên là "Người giàu bỏ xứ mà đi", nghe được hơn và tui cũng không nhiều chuyện làm gì.

    2 xu.

    Cuộc sống của con người nói chung (không riêng gì người Việt) luôn tuân theo xu hướng "Đất lành chim đậu". Nếu mảnh đất hình chữ S có một cuộc sống ổn định về mọi mặt (cho dù có nghèo một chút so với các nước khác) thì người Dân Việt đâu có muốn tha hương. Nếu xã hội Việt Nam vẫn cứ đi theo chiều hướng hiện nay thì VN sẽ là mảnh đất "dữ" và sẽ có những đợt vượt biên lần thứ 3,4,5,..... Đừng trách từng cá nhân đã phải bỏ Tổ Quốc ra đi, hãy trách và lên án những kẻ nào đã biến VN thành mảnh đất "dữ".

    Tác giả cố gắng phân tích các hiện tượng và hệ lụy của làn sóng di dân. Nhưng những điều mà tác giả đã nói ở trên, nhà nước VN cũng đã biết và cố gắng ngăn chặn và hạn chế. Một trong những hạn chế chính thức là họ chỉ cho phép người di dân ra khõi VN mang ra được tối đa 7 ngàn đô la /đầu người.

    Thực tế thì số tiền và tài sản của những người di dân đưới dạng chính thức đều đã chuyển đi hoặc sẽ được chuyển đi bằng cách này hoặc cách khác dưới mọi hình thức. Nước Mỹ mổi năm nhận vào hơn 120 tỉ USD từ các di dân người có quốc tịch Trung Quốc và nhóm di dân này thường là các thương nhân, thành phần trí thức và cán bộ, con cháu của cán bộ cộng sản TQ.

    Từ bức tranh TQ "Lạ" thì ta cũng có thể hình thành được bức tranh VN. Đa phần những người di dân ra khõi VN cũng đa dạng và có hình thức giống như Trung Quốc.

    Điều đáng mừng cho nước Mỹ và các nước tây Âu hoặc tiên tiến có số người thuộc thành phần trí thức di dân đế là kinh nghiệm, văn hóa, bản sắc của họ. Đặc biệt là những gene thông minh hoặc cực kỳ thông minh, mang đầy tính mạo hiểm của họ. Chỉ những điểm này chính là tài sản vô cùng quý báu cho một quốc gia.

    Bác nào có ý muốn đi và chưa biết nên phải đi đâu thì nên chọn Mỹ để đến, đất lành chim đậu và có nhiều cơ hội. Song song vào đó là có các luật pháp được đặt ra để bảo vệ người di dân và thiểu số hẳn hòi.

    Luật được áp dụng và thực thi triệt để. Nước Mỹ luôn cần và mong đợi được tiếp nhận những người thích mạo hiểm và nghĩ về tương lai cho con cháu đời sau của mình như các bác, không phân biệt các bác là cộng sản hay là tư bản hoặc phó thường dân dưới bất kỳ gốc cạnh và tư tưởng nào. Nước Mỹ sẽ đều chấp nhận và ứng xử công minh, đối xử công bằng theo luật pháp dựa trên hiến pháp Hoa kỳ.

    Tất cả mọi di dân đến Mỹ đều có chung một tư tưởng là họ chấp nhận hy sinh tất cả, thậm chí bỏ hết mọi thứ dù là không biét nói hay viết tiếng Anh, để mang con cái của họ đến một nền văn hóa thông minh hơn, nền giáo dục văn minh hơn, môi trường an toàn không ô nhiễm hơn, hệ thống giao thông tốt hơn, giáo dục tốt hơn.

    Các bác hãy nghĩ rằng nếu một thằng nông dân, một em chài lưới nói tiếng Việt không xong, viết Việt ngữ chẳng được và không biết đọc nhưng lại vẩn ít nhất sống được và nhiều trường hợp là thành công ở Hoa Kỳ thì các bác, các cụ nếu biết đọc những dòng này chắc chắn là sẽ thành công hơn vượt bậc hơn nhiều.

    Thế các bác lại sẽ hỏi rằng hóa ra bọn nông dân cũng thế thì USA làm sao cường mạnh ? Câu trả lời rằng chính 2% đỉnh (top 2%) của toàn dân làm cho nền kinh tế , chính trị văn hóa của Mỹ hùng cường. Họ kiểm soát và ảnh hưởng rất mạnh và rất là nhân văn. Họ dù có bóc lột giai cấp bần nông thì vẩn để bần nông sống sót có nhà lầu xe hơi cơm ăn áo mặc, bảo hiểm y tế, các nhu cầu văn hóa giải trí. Nghèo quá và lười lao động thì đi xin trợ cấp xã hội cũng đủ sống và không phải gây bạo loạn. Biết đâu trong 10 năm, 20 năm sau thì con cháu của các bác lại nằm trong 2% đó. Lại sẽ hãnh diện vì con rồng cháu tiên dám mạo hiểm tìm cơ hội cho thế hệ mai sau của mình.

    Điều đáng ghi nhận là giai cấp tinh hoa và trí thức của Mỹ dám nhìn nhận và ghi nhận học hỏi mọi tư tưởng mới lạ từ mọi nơi. Họ thậm chí được dạy dổ về tư tưởng cộng sản và nghiên cứu chủ nghĩa tư tưởng của Mác và Ăng ghen.

    Thú thật với các đồng chí rằng cách đây không lâu , anh Cẩn có bẩu tên Ỉn rằng anh đương biên cái hiện tượng này cho DL , hiện tượng " cột đèn thứ 2 " , thế mà có đứa mần trước rồi !!

    Ko sao ko sao , 1 hiện tượng nhớn và đang âm thầm diễn ra đì đùng tinh mắt phát thấy ngay . Âm mưu ấp ủ từ năm 2009 , lừng khừng 2010 , manh nha 2011 , quyết tâm 2012 và 2013 , có nhẽ ....quyết liệt !!

    Nguyên nhân nhớn nhất : Kinh tế , chính trị !!

    Tý rỗi , anh Cẩn sẽ đi sâu vào kinh tế .