Nguyễn Sĩ Dũng - Khế ước xã hội

  • Bởi Admin
    04/01/2013
    3 phản hồi

    Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng

    Khế ước xã hội là học thuyết lý giải về nguồn gốc ra đời của nhà nước, với những đại diện tiêu biểu là John Locke (1632-1704), Charles Louis Montesquieu (1689-1775), Jean Jacques Rousseau (1712-1778)...

    John Locke (1632–1704), nhà triết học người Anh, đã chỉ ra rằng nhà nước ra đời là mong muốn của những con người có lý trí. Điểm khởi đầu trong quan điểm của Locke là "mọi người đều tự do, bình đẳng". Thông qua một khế ước xã hội (Gesellschaftsvertrag) người dân ủy quyền một phần quyền tự do của mình cho nhà nước nhằm mục đích sống một cách an toàn, hòa thuận với nhau và được bảo vệ. Vì vậy, chủ quyền trong nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội. Nếu nhà nước không thực hiện đúng các cam kết, khiến cho các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ trở nên mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước, đồng thời ký kết một khế ước mới.

    Như vậy, điểm tích cực nổi bật của thuyết khế ước xã hội là đã giải thích được nguồn gốc của quyền lực nhà nước. Khế ước có mục đích là liên kết giúp con người vượt qua sự sợ hãi hay nguy cơ bị cướp mất tài sản bởi những kẻ mạnh hơn v.v.

    Con người sinh ra đều tự do, bình đẳng. Nhà nước ra đời là do được người dân ủy quyền, chứ không tự nhiên mà có. Người dân ủy quyền cho nhà nước, nhưng đồng thời người dân cũng có quyền giám sát lại nhà nước. Người dân trao một phần quyền cho nhà nước, đồng thời giới hạn, khống chế, giám sát nhà nước.

    Có thể nói thuyết khế ước xã hội là học thuyết có tính cách mạng và giá trị to lớn trong lịch sử. Đây là học thuyết lý giải nguồn gốc ra đời của nhà nước dựa trên lý tính, mới mẻ và đầy tính nhân bản. Về mặt lịch sử, đây cũng là bệ đỡ tư tưởng cho cách mạng tư sản lật đổ ách thống trị phong kiến trong thời kì cận đại.

    Bài viết dưới đây của TS. Nguyễn Sĩ Dũng, đăng trên Tạp chí Tia sáng góp bàn về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, gợi nhắc lại thuyết khế ước xã hội như một vấn đề có tính nguyên lý rằng khi xây dựng Hiến pháp cần trở về đúng với cội nguồn của Hiến pháp là một bản "khế ước xã hội" nhằm giới hạn, ràng buộc trách nhiệm của nhà nước và bảo vệ chủ quyền nhân dân. Đây là một vấn đề theo tôi nghĩ là rất đáng bàn trong đợt sửa đổi Hiến pháp tới đây.

    Nguyễn Minh Tuấn
    Theo blog Nhà Nước và Pháp Luật

    Về mặt kỹ thuật, nói Hiến pháp là một khế ước xã hội, thì không có nghĩa là cả xã hội phải tham gia soạn thảo văn bản này. Việc soạn thảo Hiến pháp vẫn phải do giới tinh hoa của dân tộc đảm nhận.

    Hiến pháp trước hết cần được nhìn nhận như một bản khế ước xã hội. Dưới đây là những lý do cơ bản vì sao.

    Trước hết, nếu tất cả chúng ta đều sinh ra tự do, nhưng đều phải phối hợp hành động để tồn tại, thì những nguyên tắc, những khuôn khổ hành xử chung là bắt buộc phải có. Vấn đề là chúng ta bắt buộc phải có những nguyên tắc, những khuôn khổ chung này bằng cách nào. Cách thứ nhất là chúng ta tự thỏa thuận về chúng. Cách thứ hai là chúng ta bị áp đặt về chúng. Theo cách thứ nhất, chúng ta vẫn tiếp tục là những con người tự do. Theo cách thứ hai chúng ta không còn là những con người tự do nữa. Hiến pháp là đạo luật cơ bản với những nguyên tắc, những khuôn khổ hành xử chung nhất (kể cả những nguyên tắc, khuôn khổ hạn chế quyền tự do của cá nhân). Vì vậy, chúng ta chỉ có thể vẫn là những con người tự do nếu chúng ta được tự thỏa thuận về Hiến pháp.

    Thứ hai, một bản Hiến pháp chỉ thực sự hiệu năng khi nó trở thành một thứ “kinh thánh” thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Muốn được như vậy thì nó không thể bị áp đặt. Bạn yêu tha thiết đứa con của mình nhiều khi không hẳn chỉ vì nó xinh đẹp, mà chủ yếu là vì nó do bạn sinh ra. Thế thì Hiến pháp cũng vậy. Bản Hiến văn phải là đứa con tinh thần của chúng ta, là sự kết tinh của trí tuệ, đạo đức và văn hóa tâm linh của tất cả những công dân sống trên đất nước Việt Nam. Chúng ta sản sinh ra Hiến pháp, thỏa thuận với nhau về các quy định của Hiến pháp, về các quyền và nghĩa vụ của mình, thì chúng ta tuân thủ và đấu tranh đến cùng để bảo vệ Hiến pháp.

    Ba là, chúng ta là gần 90 triệu người, 54 dân tộc, nhiều tôn giáo và thành phần xã hội khác nhau. Chúng ta rất chung, mà cũng rất riêng. Lợi ích của chúng ta cũng có nhiều điểm rất chung và có những điểm rất riêng. Chỉ một bản khế ước xã hội với sự tham gia xây dựng và thỏa thuận của tất cả mọi người và giữa tất cả mọi người, cái chung và cái riêng của tất cả chúng ta mới được cân nhắc đủ thận trọng, đủ cân bằng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới củng cố được khối đại đoàn kết của mình và có được sự phát triển bền vững, hài hòa. Không có Hiến pháp tốt một cách chung chung, chỉ có Hiến pháp tốt theo nghĩa được tuyệt đại đa số người Việt chúng ta chấp nhận.

    Bốn là, với tư cách là một bản khế ước xã hội, Hiến pháp mới có thể tạo cho tất cả người Việt chúng ta một vị thế bình đẳng- bình đẳng với nhau và bình đẳng với Nhà nước. Tất cả chúng ta đều có những quyền và nghĩa vụ như nhau. Nhà nước được chúng ta phân chia quyền lực chỉ ở mức độ và trong phạm vi cần thiết để phụng sự cho công chúng. Nhà nước được chúng ta phân chia cho quyền lực và phải chịu trách nhiệm trước chúng ta, chứ không phải Nhà nước ban phát quyền cho chúng ta và chúng ta phải phục vụ Nhà nước. Đây cũng là lý do tại sao Hiến pháp thường quy định cụ thể hơn chế tài đối với các cơ quan Nhà nước hơn là các công dân.

    Về mặt kỹ thuật, nói Hiến pháp là một khế ước xã hội, thì không có nghĩa là cả xã hội phải tham gia soạn thảo văn bản này. Việc soạn thảo Hiến pháp vẫn phải do giới tinh hoa của dân tộc đảm nhận. Vấn đề là những người này phải thể hiện bản hiến văn như một khế ước xã hội, và người dân phải được tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và phê chuẩn bản hiến văn đó.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Khế ước này thường là giữa nhà nước và người dân. Nhưng ở VN, cái khế ước này được thiết lập dưới sự bảo kê, giám sát của 'bố già' ĐCS. Thế nên nó khó có thể là một bản khế ước minh bạch, phản ánh đúng nguyện vọng của người dân được.

    Thực tế hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp ở VN đã chứng tỏ điều này. Ngay cái gọi là 'cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất' là QH cũng chỉ dám thảo luận nhũng gì mà BCT ĐCS cho phép, hay làm luật phù hợp với nghị quyết, cương lĩnh của Đảng.

    Muốn bảo vệ được Hiến Pháp thì phải có cơ chế giám sát Quyền Lực, hay cái phanh để không ai có thể chiếm quyền lực làm của riêng.

    Điều này cần có đa đảng, tam quyền phân lập, các ràng buộc đảm bảo quyền con người (như tự do báo chí, lập hội, biểu tình v.v...), các ràng buộc về quy tắc lập hiến và bảo hiến (để không ai có thể tuỳ tiện thay đổi hiến pháp mà không có sự đồng thuận của nhân dân, và không ra các luật vi hiến) v.v...

    Các cơ chế này đã có trong dự thảo Hiến pháp hiện hành chưa, và nếu chưa thì làm sao để đưa nó vào dự thảo lần này?

    Vấn đề khó nhất vẫn là bảo vệ Hiến pháp.

    Tại Hoa Kỳ, hơn 200 năm nhưng không một thế lực nào có thể nổi lên chiếm đoạt Hiến pháp làm của riêng (dù chắc chắn nhiều kẻ đã muốn và rắp tâm làm điều đó).

    Tại Việt Nam, Hiếp pháp - bản khế ước chung đã dần bị chiếm đoạt. Nguyên nhân? Do dân ta mất cảnh giác? Do trí thức ta ngây thơ chính trị? Do đồng bào ta bị lừa? Do đối lập hèn nhát bỏ chạy?

    Mà cũng có khi, do dân Việt ta nguồn gốc lúa nước, chất phác hiền lành quá. Không quyết liệt ngay từ đầu, để đến lúc chuyện đã rồi thì quá muộn. Những kẻ độc tài đã đủ thời gian lèo lái nền chính trị theo ý chúng. Đòi lại một thứ đã bị cướp là việc khó, nhưng không phải không làm được. Bọn cướp ở trên thuyền, còn dân ta là nước.