Đào Tuấn - Tiền và lòng tự trọng

  • Bởi Hồ Gươm
    26/10/2012
    5 phản hồi

    Đào Tuấn


    Không thể có một nền khoa học công nghệ hiệu quả, ở sự phụng sự, nếu như các giáo sư tiến sĩ thiếu đi phẩm chất tối thiểu của một nhà khoa học, một “kẻ sĩ”: Lòng tự trọng.

    Một ngày trước khi Luật Khoa học công nghệ được trình bày tại Quốc Hội, báo Tuổi trẻ đưa ra con số: Việt Nam có tới 24.300 tiến sĩ, trong đó 7.924 tiến sĩ đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng. 24.300 tiến sĩ! Và cùng với khoảng 9.000 GS, PGS. Việt Nam có lẽ là một trong những quốc gia bằng cấp nhất thế giới.

    Tuy nhiên, con số khủng này được đưa kèm với một con số còn khủng (khiếp) hơn: Với 7.924 tiến sĩ này, mỗi năm nền khoa học giáo dục Việt Nam chỉ công bố được trên dưới 2 bài nghiên cứu về giáo dục theo chuẩn quốc tế. Và nói đến nghiên cứu khoa học, không thể không nói về một con số xấu hổ: “Tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo (nghiên cứu) của Việt Nam đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia”.

    Câu hỏi “vì sao”, đối với nền khoa học giáo dục nói riêng, cũng như nền khoa học công nghệ nói chung, được người nông dân đặt ra mỗi khi loay hoay chọc tô vít sửa chiếc máy cày “made in China”. Được những vị phụ huynh ngửa mặt hỏi giời khi mỗi vài năm Sách Giáo Khoa lại “điều chỉnh” một lần. Và, có lẽ, được chính các giáo sư tiến sĩ hỏi nhau.

    Và câu hỏi đó, sáng nay, được giải thích là vì tiền.

    Mức đầu tư cho Khoa Học - Công Nghệ được ấn định ở mức 2% tổng chi ngân sách nhà nước, tương đương 0,5-0,6% GDP. Con số quy tiền, năm 2012, vào khoảng hơn 13.168 tỷ. Con số này tuy chưa nhiều nhưng bảo ít cũng không hẳn là ít. Nó chỉ ít ở con số thực xuống với khoa học, ít ở những đồng tiền thực tế đầu tư cho khoa học - Điều mà TS Phạm Bích San gọi “nôm na là cách trả tiền cho những người làm công tác khoa học”. “Trả tiền bình quân như nhau cho tất cả mọi người sẽ không còn khoa học” - ông nói. Nhưng đó chỉ là một thực tế rất nhỏ, trong một thực trạng ngành tài chính quyết định, “một cách hết sức chân tay”, từ mức chi, sự “thế nào là hợp lý” và cả cách trả tiền bất biết nó có đủ hay không, có kịp hay không và thậm chí, nó được sử dụng như thế nào.

    Thôi thì cũng coi như có cớ để kỳ vọng chuyện tiền khi Dự thảo Luật Khoa học công nghệ sửa đổi được trình bày trước Quốc hội đã nói đến việc tháo gỡ các vướng mắc trong công tác kế hoạch, đầu tư, tài chính, đặc biệt là cơ chế cấp phát, thanh quyết toán kinh phí cho các hoạt động khoa học và công nghệ.

    Nhưng vấn đề hiệu quả của nghiên cứu khoa học công nghệ không hẳn chỉ có nguyên nhân từ tiền. Khi được hỏi “cảm nghĩ” khi đi dự các hội thảo quốc tế trong khi mặt bằng nghiên cứu, sáng chế của ta đang ở mức thấp như vậy. TS Phạm Bích San đã trả lời trên Tuổi trẻ: Nói thật là tôi rất xấu hổ.

    Hình như ít người dám nói tới chuyện xấu hổ như ông San. Những vị tiến sĩ đã cóp nhặt của người khác trong báo cáo đánh giá về động đất ở dự án thủy điện Sông Tranh, để đến nỗi tác giả phải kêu lên “Họ liều thật”, là một ví dụ.

    Không thể có khoa học nếu như cách trả tiền không khoa học.

    Nhưng cũng không thể có một nền khoa học công nghệ hiệu quả, ở sự phụng sự, nếu như các giáo sư tiến sĩ thiếu đi phẩm chất tối thiểu của một nhà khoa học, một “kẻ sĩ”: Lòng tự trọng, mà biểu hiện đầu tiên là biết xấu hổ.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Đào Tuấn viết:
    Việt Nam có tới 24.300 tiến sĩ, trong đó 7.924 tiến sĩ đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng. 24.300 tiến sĩ! Và cùng với khoảng 9.000 GS, PGS. Việt Nam có lẽ là một trong những quốc gia bằng cấp nhất thế giới.

    Tôi đồng ý là số lượng công bố khoa học của Việt Nam hoàn toàn không tương xứng với số lượng những người có học hàm, học vị. Nhưng tác giả muốn thuyết phục ai với nhận xét cảm tính rằng "Việt Nam có lẽ là một trong những quốc gia bằng cấp nhất thế giới"?

    Về số lượng 24.300 tiến sĩ mà ông cho là quá nhiều, xin thưa, ở Pháp 1 năm "xuất xưởng" trung bình 10.000 tiến sĩ trong đó số người nước ngoài chiếm khoảng 20%, như vậy số tiến sĩ người Pháp là tầm 8000/năm. Con số này tương đối ổn định từ gần 20 năm nay. (Tham khảo : )
    Dân số Pháp là khoảng hơn 65 triệu. Vậy thử so sánh tỉ lệ người có học vị tiến sĩ/1000 dân của hai nước để xem Việt Nam nằm ở đâu.

    Về số lượng GS và PGS. Riêng trường đại học Kyoto, Nhật Bản đã có hơn 1700 GS và PGS rồi. (Đây là professor và associate professor. Nếu tính cả senior lecturer và assistant professor thì con số này là gần 3000) Số sinh viên của trường là khoảng 22000. Tức là khoảng 1GS,PGS/13 sinh viên (Tham khảo : .
    Chúng ta có gần 1.500.000 sinh viên (tham khảo . Vậy là trung bình khoảng 1GS,PGS/150 sinh viên. Chúng ta có quá nhiều GS, PGS không?

    Mới đây tôi được tham dự một buổi trình bày đề cương nghiên cứu khoa học (xin phép không nói rõ), trong nhóm trình bày đề cương nghiên cứu có 4 tiến sĩ, 2 trong đó là giáo sư vậy mà cứ ra sức bảo vệ cho cái đề cương ...... lạc đề.
    Chả là thế này, tỉnh muốn đặt hàng cho một đề tài nghiên cứu khoa học tại 1 huyện (vì còn tiền sắp hết năm mà chưa tiêu hết). Huyện thì họ chẳng quan tâm tới đề tài đề tiếc gì cả vì đa phần viết xong thì vứt vào tủ nên họ chỉ quan tâm đến việc có sản phẩm cụ thể có ích cho người dân đó là một trạm cấp nước và hệ thống ống phân phối. Thế là các bố cố nhét 1 trạm cấp nước vào cái đề tài nghiên cứu với đầy đủ công nghệ, dự toán được trình bày. Vấn đề đặt ra là đã nghiên cứu khoa học thì nó phải là vấn đề mới, trong khi đó cái trạm cấp nước thì kỹ thuật, công nghệ của nó có từ đời tám hoánh rồi. Các bố cố đánh lận giữa "đề tài nghiên cứu khoa học" với "dự án" thành ra lạc đề. Cuối cùng phải chấp nhận đi đường vòng, chia 2 giai đoạn, giai đoạn 1 sẽ nghiên cứu và kết quả chắc chắc sẽ có 1 trạm cấp nước cần xây dựng (với công nghệ có từ tám hoánh), giai đoạn 2 sẽ là xây dựng trạm cấp nước với tên gọi "mô hình biểu diễn".
    Thôi thì tất cả cũng tại vì tiền, tự trọng tính sau.

    Lo ngại cho nghiên cứu khoa học VN

    Quốc Phương

    BBC Tiếng Việt

    Giáo dục và nghiên cứu của VN đứng thấp ở khu vực theo xếp hạng

    Kết quả mới công bố của viện nghiên cứu xếp hạng tổ chức giáo dục, khoa học SCImago của Tây Ban Nha năm 2012 cho thấy vị trí của các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam có xu hướng đứng thấp mà một số chuyên gia trong nước cho là đã "tụt hạng."

    Theo nội dung xếp hạng, về mặt số lượng, ở lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục, công bố xếp hạng thực hiện với 3.290 đại học, viện nghiên cứu quốc tế của SCImago cho hay Việt Nam đứng hạng 14 trong 21 quốc gia ở khu vực Đông Á, xếp sau các nước như Malaysia (hạng 8), Thái Lan (hạng 9), Philippines (hạng 11).

    Ở chỉ tiêu này, số lượng bài nghiên cứu về giáo dục của Việt Nam chỉ bằng 1/37 so với Đài Loan (hạng nhất) và 1/30 so với Hồng Kông (hạng nhì), với tổng số các bài báo khoa học trong ngành khoa học giáo dục của Việt Nam được công bố quốc tế là 39 trong khoảng thời gian 14 năm được so sánh từ 1996-2010 và có chỉ số trung bình là 2 bài mỗi năm.

    Xếp hạng của SCImago về một chỉ số về việc được trích dẫn công bố quốc tế của bài báo, công trình khoa học, hay chỉ số H, cho thấy chỉ số này của Việt Nam đứng thứ 13 và ở mức 4 điểm, xếp dưới Philippines, quốc gia láng giềng Đông Nam Á vốn xếp thứ 10 với 6 điểm, sau Thái Lan (hạng 9, 8 điểm) và chỉ đứng trên Campuchia vốn xếp hạng 14 với 2 điểm.

    Báo cáo xếp hạng trên ba nghìn trường, viện đại học, nghiên cứu thế giới cho hay có 4 tổ chức của Việt Nam lọt vào danh sách được xếp đợt này, nhưng đứng ở vị trí khiêm tốn, là Viện khoa học và công nghệ, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội.

    Xếp hạng của SCImago trong báo cáo năm 2012 về mặt công bố khoa học được bổ sung chỉ báo "lãnh đạo" ngầm chỉ định về tỷ lệ phần trăm tác giả chính của công trình khoa học công bố quốc tế là người trong biên chế của một cơ sở, trường viện được xếp hạng.

    Chỉ số này đặt bên cạnh một số tiêu chí được đem ra so sánh, đánh giá khác đã biết như đầu ra, hợp tác quốc tế (với đồng nghiệp quốc tế), chỉ số tác động (đo ảnh hưởng của nghiên cứu), chỉ số chất lượng khoa học (nhắm vào tỷ lệ bài báo được công bố trên các tập san, tạp chí khoa học hàng đầu thế giới), chỉ số chuyên biệt hóa, chỉ số xuất sắc...

    'Không ngờ tệ như thế'

    Phản ứng về kết quả xếp hạng mới công bố của báo cáo 2012 của nhóm nghiên cứu thuộc SCImago, tờ Dân trí đăng bài báo của nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Văn Tuấn từ Đại học New South Wales Úc và đồng nghiệp, coi đây là một "báo động" và "tụt hạng" về nghiên cứu khoa học và nghiên cứu giáo dục của Việt Nam.

    Tôi không hình dung là (kết quả) tệ đến như thế này. Với tư cách là một người đứng đầu một viện nghiên cứu về giáo dục, tôi thấy đây là một nỗi đau mà chắc chắn là phải khắc phục

    » PGS TS Đặng Thị Thanh Huyền

    Một số chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục mà BBC Việt ngữ hỏi ý kiến hôm 26/10/2012 có phản ứng khác nhau về công bố xếp hạng của SCImago.

    Một trong số đó, PGS. TS Đặng Thị Thanh Huyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Quản lý Giáo dục cho rằng đây là một kết quả "rất tệ" đối với lĩnh vực nghiên cứu giáo dục nói riêng, nghiên cứu khoa học và ngành giáo dục nói chung của Việt Nam.

    Trong khi cho rằng báo cáo của CSImago có thể chưa khảo sát đầy đủ kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục của các trường Đại học sư phạm và Viện Nghiên cứu khoa học Giáo dục quốc gia ở Việt Nam, bà nói:

    "Tôi không hình dung là (kết quả) tệ đến như thế này. Với tư cách là một người đứng đầu một viện nghiên cứu về giáo dục, tôi thấy đây là một nỗi đau mà chắc chắn là phải khắc phục."

    "Không biết là các lãnh đạo cấp trên có đọc thông tin này không, nhưng chắc chắn là đọc, phải có những chiến lược để khắc phục vấn đề này."

    "Và nếu muốn giáo dục thay đổi, thì đúng là nghiên cứu khoa học về giáo dục phải thay đổi đi. Nếu với quy mô, số lượng và chất lượng như thế này, nó sẽ là một cản trở cho sự cải tổ giáo dục"

    Lãnh đạo của Viện nghiên cứu trực thuộc Học viện Quản lý Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho rằng cần phải xem xét tới khâu kinh phí và đầu tư nguồn lực cho nghiên cứu khoa học.

    Vì theo bà đây là một trở lực rất lớn đối với chất lượng, trong khi cải tiến phương pháp giảng dạy, đào tạo từ cấp giáo dục mầm non, phổ thông cho đến Đại học cũng có vai trò giúp cải thiện giáo dục trong tương lai.

    Còn một chuyên gia về kiểm định chất lượng thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, người không muốn tiết lộ danh tính, cho rằng bảng xếp hạng của SCImago chỉ nhằm mục đích xếp hạng, không sử dụng đầy đủ các chỉ báo tổng quát cho phép đánh giá khách quan cũng như kiểm định về giáo dục, cũng như nghiên cứu khoa học. Ông nói:

    "SCImago chỉ tính đến chỉ báo công bố quốc tế, không tính tới công bố trong nước, bỏ qua nhiều chỉ số kỹ thuật quan trọng, chi tiết và đặc trưng trong kiểm định giáo dục, khoa học.

    "Chúng tôi không phủ nhận xếp hạng. Xếp hạng có ý nghĩa về động lực, nhưng không nên chủ trương coi xếp hạng là đánh giá cao nhất và duy nhất."

    'Đào tạo quá tạp'


    Giáo sư Lâm Quang Thiệp từng cho rằng một số cơ sở như đại học quốc gia cần xem xét lại mục tiêu đào tạo của mình

    Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng việc các trường, viện của Việt Nam xuất hiện trên các đánh giá quốc tế cần phải được coi là một ghi nhận ban đầu và không nên 'quá khắt khe' như một số nhà nghiên cứu người Việt Nam từ nước ngoài.

    "Vấn đề là đưa ra giải pháp. Hiện trạng Việt Nam chỉ có vậy, làm sao có thể yêu cầu Việt Nam theo kịp ngay được với các trường, viện hàng đầu quốc tế?"

    "Phải có thời gian. Liệu chúng ta có kinh phí đủ để cải cách không? Nhân sự có dám thay toàn bộ hay hàng loạt không? Ở đây còn có vấn đề bài toán xã hội nữa."

    Riêng về cải thiện việc công bố quốc tế các công trình bài báo, khoa học, một trong các chỉ báo được nhóm xếp hạng của SCImago căn cứ, chuyên gia này đưa ra kiến nghị:

    "Theo tôi cần cải tiến văn hóa công bố. Ở Việt Nam nhiều tác giả, nhóm tác giả còn chưa chú trọng công bố quốc tế.

    "Việc đánh giá các đều tài, công trình nhiều khi coi nặng việc bảo vệ kết quả đề tài, nộp hồ sơ nghiệm thu, mà nhiều trong số đó thực ra có thể cân nhắc chỉ cần yêu cầu xuất trình bài báo công bố và công bố quốc tế là được.

    "Việt Nam cần mạnh dạn với vấn đề 'chủ đề nhạy cảm', ở đâu có thể mời được chuyên gia, học giả quốc tế, như những người đoạt giải Nobel, thì nên mời họ vảo làm Tổng biên tập, Chủ tịch Hội đồng các tờ báo, tạp chí khoa học, và các tạp chí cũng nên song ngữ hóa, để quốc tế có thể theo dõi, tham khảo khoa học, giáo dục Việt Nam"

    Riêng về vấn đề vai trò "hàng đầu" và "đạt chuẩn quốc tế, khu vực" của một số trường đại học, viện nghiên cứu, và trước một số chỉ trích cho rằng một số Viện đại học Quốc gia của Việt Nam chưa đạt được các kỳ vọng đặt ra, Giáo sư Lâm Quang Thiệp, nguyên Vụ trưởng Vụ Đại học, trợ lý Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo, trong một trao đổi trước đây với BBC nói:

    "Việt Nam cần xem lại quy hoạch phát triển đại học và bài toán chất lượng. Ngay một số Đại học được cho là hàng đầu như Đại học Quốc gia cũng xuất hiện khuynh hướng đào tạo quá tạp,"

    "Từ đào tạo tại chức tới du học quốc tế, du học nội địa, đều làm, mà lẽ ra nên để cho các trường khác làm và tập trung vào các nhiệm vụ xứng đáng tầm vóc của mình hơn," cựu thành viên Hội đồng Giáo dục Quốc gia bình luận.

    Nguồn: BBC

    Đọc bài này mới thấy xấu hổ cho ngành giáo dục của ta. Tác gài dặt vấn đề "tiền và lòng tự trọng". Đó là 2 thứ đối lập nhau trong đời sống hàng ngày. Tiền thì đau đâu cũng thấy nhưng lòng tự trọng thì chẳng hiểu nó đi "sơ tán" tận đâu mà nay đã hòa bình 37 năm rồi mà nó vẫn chưa về? Hay nó lại sợ công an và lưu manh côn đồ đàn áp như đàn sá người dân biểu tình chống trung quốc? Chính những người đó có lòng tự trọng dan tộc, không muốn dân tộc mình phải làm nô lệ cho dân tộc khác.
    Đã bao nhăm qua trong các nhà trường, chỉ thấy dạy chính trị và lý tưởng, chứ có thấy thầy cô nào dạy "tự trọng" đâu. Nếu thầy cô giáo biết tự trọng thì chắc không tìm cách moi tiền của phụ huynh học sinh bằng những khoản đóng góp hết sức vô lý.
    Nay thì thiếu "tự trọng" nhưng lại thừa "Trọng lú". Hay "Trọng lú" đã át cả tự trọng? Nếu cân bộ kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ cao cấp nếu biết tự trọng thì đã không dùng bằng giả để tiến thân.

    Bỗng dưng thấy toát mồ hôi

    (Dân trí) - Tại cuộc thảo luận tổ về tình hình kinh tế - xã hội và thu chi ngân sách năm 2012 - 2013 sáng ngày 24/10, nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ thái độ không đồng tình với kiến nghị giãn tiến độ tăng lương của Chính phủ.

    (Minh họa: Hồng Anh)

    Đại biểu Trần Du Lịch phân tích: Tăng lương là xu hướng cần thiết để đảm bảo cuộc sống của công chức cũng như bộ máy chính trị. Để đảm bảo tăng lương đúng lộ trình, tôi đề xuất cắt giảm các khoản chi thường xuyên khác ngoài lương và trợ cấp xã hội, ít nhất 10% so với thực chi của năm 2012. Vì tôi thấy rằng, chi ngoài lương còn nhiều khoản vô tội vạ. Các vị đại biểu phát ngôn trên nền của thực tiễn cuộc sống. Như đại biểu Cù Thị Hậu, thẳn thắng cho rằng nếu không đủ sống thì sẽ dễ dẫn đến tham nhũng và các vấn đề xã hội khác.

    Nhưng trong 22 triệu người nhận lương ngân sách, có mấy ai có “cơ hội” để tham nhũng? Những cán bộ công chức bình thường ngày 8 tiếng cần mẫn với công việc, chỉ chờ đợi vào đồng tiền lương thiện, chắc chắn sẽ rất khó khăn nếu như không được tăng lương trong năm tới theo đúng lộ trình.

    Ngay cả khi có thông tin lạc quan về lộ trình tăng lương trước đây, nhiều chuyên gia cũng e ngại về giá trị thật của đồng tiền được tăng lên mang lại. Bởi vì nếu như để tái lạm phát thì chênh lệch tăng đó chưa chắc đã đủ bù. Vậy thì, đề xuất hoãn tăng lương thực sự làm cho người dân vô cùng thất vọng.

    Hậu quả những thất bại của nền kinh tế trong thời gian qua làm ảnh hưởng đến đời sống của mỗi người dân, doanh nghiệp. Doanh nghịêp sập tiệm tất nhiên nhà nước không thu thuế được. Nhà nước không có đủ tiền thì không thể tăng lương. Người dân không được tăng lương sẽ không có tiền tiêu xài. Dân không tiêu xài thì đình đốn sản xuất. Đình đốn sản xuất dẫn đến doanh nghịêp chết. Cái vòng luẩn quẩn thật khó có thể thoát ra nếu như không có những giải pháp đột phá quyết liệt và hiệu quả.

    Lấy tiền đâu ra để tăng lương? Nếu chỉ dựa vào khoản thu ngân sách để cân đối thì quả là vô phương vì con số âm đã rõ rành rành. Nhưng như các đại biểu đã chỉ ra, đó là còn có các khoản chi “vô tội vạ”. Vậy thì, nhiều dự án công như tượng đài, bảo tàng cũng nên tạm thu xếp lại để dành tiền cứu khó cho dân và kích thích sản xuất tiêu dùng. Các cơ quan nhà nước bớt chi tiêu, mua sắm ôtô, cán bộ nhà nước bớt liên hoan tiệc tùng, đừng đi tham quan nước ngoài kết hợp du lịch như vẫn thường làm.

    Tiền ở đâu ra ư! Nếu tăng lương theo đúng lộ trình thì ngân sách phải chi thêm từ 60.000 – 65.000 tỉ đồng. Nghe mà bỗng dưng thấy toát mồ hôi. Nhưng toát mồ hôi không phải vì số tiền 65.000 tỉ đồng phải chi thêm để trả lương cho người lao động, mà vì số tiền thất thoát, lãng phí, thua lỗ của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước cao hơn con số này gấp nhiều lần.

    Mời các bạn tham gia hiến kế xem có cách gì để giảm chi để tăng lương cho dân mình không?

    Lê Chân Nhân

    Nguồn: Dân Trí