Hà Nguyễn - Dân Chủ, Nhân Quyền: Một lời giải cho nhiều vấn đề

  • Bởi Admin
    05/10/2012
    5 phản hồi

    Hà Nguyễn

    Dân Luận: Xin trân trọng giới thiệu tới độc giả bài dự thi mã số QCN&T000003 của cuộc thi "Quyền Con Người và Tôi" do Con Đường Việt Nam tổ chức. Cuộc thi kéo dài từ ngày 9/9/2012 tới 12/12/2012, với nhiều giải thưởng hấp dẫn như Macbook Air, iPad III và iPhone 4S...

    Xin độc giả quan tâm đọc thể lệ cuộc thi tại đây!

    Dân chủ là điều kiện để thực thi và bảo vệ nhân quyền

    Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người (Human Rights) hay nhân quyền, từ những định nghĩa hàn lâm nhất thì nhân quyền là “những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người” [1]. Theo định nghĩa trên thì chính quyền được lập ra để bảo vệ nhân quyền bằng luật pháp chứ không phải ban phát hay hạn chế các quyền ấy.

    image001_0.jpg

    Tuy nhân quyền và dân chủ là hai khái niệm khác nhau về đối tượng trung tâm hướng tới nhưng chúng có mối quan hệ hỗ tương lẫn nhau. Trong khi dân chủ nhắm tới quyền của mọi người với tư cách là công dân của một quốc gia thì nhân quyền nhắm tới quyền của mọi người với cách hiểu rộng hơn, thoát ly khỏi quan niệm của từng quốc gia, rào cản về chính kiến, tôn giáo, chủng tộc… mang giá trị phổ quát mà bất kỳ đâu trên thế giới người ta đều được hưởng bình đẳng như nhau. Sở dĩ nhân quyền mang ý nghĩa rộng hơn dân chủ bởi do trước khi là công dân của một quốc gia, người ta đã là con người, nghĩa là người ấy đã có những quyền cơ bản như một con người. Anh ta có thể bị cầm tù, bị trục xuất hay bị tước quyền công dân… nhưng quyền làm người thì không ai có thể tước đoạt của anh ta được.

    Trong mối tương quan giữa hai khái niệm trên, nhân quyền vừa là nền tảng vừa là lý tưởng mà dân chủ hướng tới hay nói theo cách mà lãnh tụ dân chủ Miến Điện Aung San Suu Sky thì “thể chế dân chủ là cần thiết để đảm bảo thực thi nhân quyền” [2].

    Thật vậy, một chính quyền được bầu lên qua các cuộc bầu cử công bằng cùng với các thiết chế quản lý xã hội hữu hiệu sẽ là một công cụ đắc lực để người dân cất lên tiếng nói của họ nhằm thay đổi, cải biến xã hội để các quyền con người được bảo vệ một cách trọn vẹn nhất có thể. Do vậy, đấu tranh cho nhân quyền bao giờ cũng đi đôi với đấu tranh để đòi hỏi có được một nền dân chủ thực sự, một chính quyền “của dân, do dân và vì dân”.

    Khi an ninh quốc gia bị diễn giải tùy tiện

    Nhóm Quyền dân sự, chính trị bên cạnh nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội là những nhóm quyền cơ bản trong Bộ luật Nhân quyền Quốc tế quy định về quyền tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội: quyền bầu cử; ứng cử; tự do tư tưởng; ngôn luận… Đây là những công cụ quan trọng để xây dựng một xã hội dân chủ. Trong những quyền ấy, tôi nhấn mạnh đến quyền tự do tư tưởng, ngôn luận bởi chúng là nền tảng cho việc thụ hưởng một cách đầy đủ nhiều quyền con người khác. Ví dụ, không có tự do ngôn luận thì không thể thụ hưởng các quyền như tự do hội họp, lập hội, thực hành quyền bầu cử…

    image003.png

    Khi nhắc tới “tự do” thì mặc nhiên nên hiểu không hề có tự do tuyệt đối theo nghĩa ai muốn làm gì cũng được. Tự do của một cá nhân bị giới hạn bởi tự do của người khác hay nói cách khác, người ta được hưởng tự do của mình cho đến khi nào chưa xâm phạm đến quyền của người khác vì thế pháp luật hiện hữu. Quyền tự do ngôn luận cũng không ngoại lệ.

    Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền… thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ.” [3] Mặc dù vậy, tự do ngôn luận cũng có giới hạn nhất định nhằm “tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.” [4]

    Quan điểm của chính quyền Việt Nam về sự giới hạn của tự do ngôn luận bằng việc viện dẫn những điều luật an ninh quốc gia mà thực chất là nhằm giữ vững chế độ chính trị XHCN nhiều khuyết tật. An ninh quốc gia được chính quyền VN hiểu không chỉ là đảm bảo độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà còn đặt nhiệm vụ bảo vệ chế độ XHCN lên hàng đầu [5]. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, bạn được quyền tự do ngôn luận cho tới khi nào bạn chưa chỉ trích chính quyền hay đòi thay đổi chế độ chính trị.

    Đánh đồng an ninh quốc gia với sự tồn vong của chế độ chính trị có phải là cách nhìn nhận đúng đắn? Tất nhiên bất kỳ sự thay đổi chế độ chính trị nào không dựa trên quyền tự quyết, ý chí nguyện vọng của dân đều bất hợp pháp và có nguy cơ phá hoại an ninh quốc gia nhưng vấn đề đặt ra là chế độ chính trị XHCN có phải được xác lập bằng quyền tự quyết của dân VN thông qua trưng cầu dân ý rộng rãi, công bằng, minh bạch hay chưa? Đó là chưa kể luật bảo vệ an ninh quốc gia của VN đi ngược lại với điều 1 của ICCPR “các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình”. Như vậy, quyền “tự quyết” sẽ được thực thi như thế nào nếu quyền tự do ngôn luận bị giới hạn không cho phép bàn tới chuyện thể chế chính trị nào khác hơn là thể chế chính trị hiện hành?

    Mặt khác, XHCN là một học thuyết chính trị tuy hiện đang được đảng cầm quyền đơn phương áp đặt là nền tảng chính thức cho chế độ chính trị của Việt Nam nhưng cũng phải tuân thủ đầy đủ diễn giải của LHQ về quyền tự do tư tưởng rằng “một học thuyết chính trị được coi là nền tảng chính thức cho thể chế chính trị ở một quốc gia thành viên cũng không được sử dụng để làm ảnh hưởng đến các quyền tự do nêu ở điều 18 và các quyền khác trong ICCPR, cũng như không được tạo ra sự phân biệt đối xử với những người không chấp nhận hay phản đối học thuyết chính trị đó” [6].

    Hơn nữa, ngay cả việc đánh đồng khái niệm quốc gia tương đương với một học thuyết chính trị trong cụm từ “Tổ quốc XHCN” đã là một điều khá lố bịch bởi từ trước khi chủ nghĩa xã hội du nhập vào Việt Nam thì Tổ quốc Việt Nam chẳng lẽ không hề tồn tại? Cũng cần nhắc thêm rằng đã có khá nhiều ý kiến biện minh rằng CNXH là mong mỏi của biết bao xương máu chiến sĩ, đồng bào ngã xuống để giành lấy độc lập cho dân tộc. Quan niệm này bất hợp lý ở chỗ khi phất cao ngọn cờ MTDTGPMN, đoàn kết giai cấp vì mục tiêu độc lập dân tộc (cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân) chứ chưa phải là giai đoạn cách mạng XHCN sau này. Ngay cả chính cố thủ tướng Võ Văn Kiệt từng khẳng định trong lần trả lời phỏng vấn với BBC lúc cuối đời đại ý rằng: Tham gia mặt trận giải phóng có những người không chấp nhận CNXH nhưng họ chiến đấu vì mục tiêu độc lập Tổ quốc.

    Tóm lại, việc đặt các điều luật về an ninh quốc gia mơ hồ và mâu thuẫn với chuẩn mực quốc tế thể hiện một chính sách cố tình diễn giải sai lệch dựa vào các ngoại lệ an ninh quốc gia để bảo vệ chế độ hiện hành vốn không được dựng lên bằng ý chí, nguyện vọng của người dân.

    Nhân quyền tại Việt Nam

    Hậu quả tai hại của việc xem tồn vong của chế độ là ưu tiên hàng đầu, chính quyền VN đã tự trói buộc mình vào một thế kẹt nhất là khi những yếu kém về thể chế chính trị ngày càng bộc lộ rõ ràng kèm theo đó là những vòng lẩn quẫn không lối loát.

    image006.jpg

    Nền kinh tế Việt Nam bị tàn phá bởi những núi nợ nghìn tỷ của các tập đoàn quốc doanh vốn được xem là đầu tàu kinh tế hay “đóng vai trò chủ đạo” theo lý luận của học thuyết chính trị trong thời kỳ quá độ lên XHCN bất chấp những khuyến nghị bãi bỏ quan niệm sai lầm này của các kinh tế gia trong nước bởi sự quản lý yếu kém của một bộ máy quan liêu, thiếu minh bạch.

    Mặc dù tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng theo đánh giá của cả chính quyền lẫn quốc tế nhưng tham nhũng sẽ không thể bị đẩy lùi chừng nào vẫn không có sự độc lập của tư pháp để xét xử bởi ĐCS vẫn kiên quyết không theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà các quyền này hoạt động thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng [7], vẫn kiên quyết chỉnh đốn nội bộ bằng phê và tự phê mà kết quả đạt được rất ít. Mục tiêu chống tham nhũng, chỉnh đảng vẫn đặt sự tồn vong của chế độ lên hàng đầu chứ không phải trao trả cho dân quyền làm chủ.

    Mặc dù đã có hơn 700 tờ báo, kênh truyền thông và số lượng phóng viên ngày càng tăng nhưng tuyệt nhiên không có lấy một tờ báo tư nhân nào và không có một tờ báo nào mà không đặt dưới sự kiểm duyệt nghiêm ngặt của tổng biên tập mà hều hết đều là đảng viên ĐCS.

    Mặc dù số lượng người sử dụng Internet ngày càng tăng nhưng những trang mạng bất đồng với chính quyền bị đánh phá, ngăn chặn cùng với số blogger bày tỏ quan điểm ôn hòa trên mạng bị bỏ tù bởi các điều luật liên quan đến an ninh quốc gia cũng gia tăng.

    Mặc dù luôn khẳng định chế độ bầu cử là tự do, dân chủ nhưng luật bầu cử Quốc hội VN đòi hỏi người tự ứng cử phải được Mặt trận Tổ quốc – một tổ chức ngoại vi của ĐCSVN - thông qua. Ủy ban này kiểm soát và sàng lọc gắt gao các ứng cử viên thông qua các vòng “hiệp thông” – giai đoạn mà ĐCSVN chứ không phải là cử tri là người quyết định ứng viên nào đủ tư cách để được chốt danh sách bầu cử. Sau cùng cử tri chỉ được bỏ phiếu cho những ứng viên nào đã qua sự chọn lọc kỹ càng của ĐCS, điều mà ở VN gọi là “đảng cử, dân bầu”, ngay chính cựu bộ trưởng tư pháp VN cho đó là một thứ “dân chủ hình thức” [8]. Thực trạng này khiến cho cố chủ tịch QHVN Nguyễn Hữu Thọ pháp cay đắng thốt lên vào cuối đời: “Điều đau lòng là trong nhiều năm liền trôi qua, chúng ta vẫn còn duy trì những thứ [dân chủ] hình thức, hữu danh vô thực đó. Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự” [9].

    Mặc dù khẳng định ở VN không có ai bị bỏ tù vì lý do bất đồng chính kiến hay bày tỏ quan điểm; nhưng với cách diễn giải sai lầm về an ninh quốc gia, hàng loạt án tù hình sự đã tuyên với những nhà hoạt động chính trị đối lập chỉ bởi vì họ bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa, đòi hỏi dân chủ hóa đất nước theo con đường dân chủ, đa đảng, tam quyền phân lập,…

    Đâu là giải pháp?

    Nhân quyền chỉ có thể được bảo vệ trong một xã hội tự do, dân chủ; muốn bảo vệ nhân quyền thì không thể không dân chủ hóa đất nước bằng cách sử dụng chính cách các quyền tự do căn bản.

    image008.jpg

    Các nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược hồi hè 2011 đã gây chú ý của quốc tế vì sự hiếm có trong một xã hội mà trước nay vẫn chỉ thường diễn ra các cuộc mít-tinh, tuần hành ủng hộ, tung hô. Biểu tình, viết blog, hội họp… đều là những hình thức lên tiếng, đấu tranh để giành có được dân chủ. Giản đơn hơn hết, nhân quyền là khi người dân có quyền nói và dân chủ là khi chính quyền biết lắng nghe. Nhưng “Đừng có ảo tưởng rằng những người quan liêu, bảo thủ sẽ tự giác trao nhân dân quyền dân chủ… vấn đề tùy thuộc rất nhiều vào sự đấu tranh.” [10] Do vậy nói đến dân chủ trước hết phải nói đến cơ chế, cách thức tổ chức của chính quyền phải được bầu lên tự do và công bằng. Cơ chế ấy chỉ được bảo đảm khi hội đủ các điều kiện như: quyền phổ thông đầu phiếu; quyền được sử dụng mọi phương tiện để tuyên truyền cho quan điểm, vận động tranh cử. Các điều kiện này chỉ được bảo đảm khi sinh hoạt chính trị đặt trên nền tảng đa nguyên, đa đảng – điều tuyệt đối cấm kỵ tại VN trước nay. Bầu cử đa đảng cũng sẽ vô nghĩa như ở Nga nếu thiếu đi các yếu tố công bằng, minh bạch, tôn trọng kết quả bầu cử, ngăn ngừa chi sự chi phối của nước ngoài…

    Tuy nhiên trước khi đạt được những điều kiện lý tưởng như trên, phải từng bước hướng tới dân chủ bằng sự tham gia tích cực và sự quan tâm ngày càng nhiều của từng cá nhân vào các vấn đề chung của xã hội. Chỉ có thể bằng sự hiểu biết, trao đổi thông tin công khai dưới nhiều hình thức, người ta mới ý thức được quyền lợi của mình, của đất nước để sẵn sàng trả một cái giá (cũng có thể là rất đắt) để có được dân chủ.

    Tình thế buộc ĐCSVN phải dân chủ hóa đất nước, phải ôn lại bài học lòng dân mà họ đã vận dụng thành thạo trong quá khứ để giải quyết hàng loạt vấn đề từ đối nội lẫn đối ngoại. Để Việt Nam đủ sức giữ vững chủ quyền quốc gia; ổn định, phát triển kinh tế, xã hội để vươn lên thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, chạy đua trở thành một nước tiên tiến để bù lấp những sai lầm do ý thức hệ bó buộc trong nhiều chục năm qua, cách duy nhất chỉ có thể là dân chủ hóa đất nước; bảo vệ quyền con người.

    Hà Nguyễn

    ________________________

    [1] Định nghĩa quyền con người của Cao ủy nhân quyền LHQ.

    [2] Aung San Suu Kyi phát biểu tại lễ nhận giải Nobel hòa bình 1991 tại Oslo, Nauy năm 2012.

    [3] Khoản 1,2 Điều 19 của ICCPR.

    [4] Khoản 3, Điều 19 của ICCPR.

    [5] Điều 14 luật an ninh quốc gia Việt Nam thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005.

    [6] Bình luận chung số 22 về điều 19 của ICCPR thông qua tại phiên họp lần thứ 48 năm 1993 của Ủy ban nhân quyền LHQ.

    [7] Cựu TBT Nông Đức Mạnh
    http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Tong-Bi-thu-Nong-Duc-Manh-tiep-xuc-cu-tri-tai-Thai-Nguyen/20106/32910.vgp

    [8] Cựu bộ trưởng tư pháp TS.Nguyễn Đình Lộc trả lời phỏng vấn Vietnamnet
    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-08-29-cuu-bo-truong-tu-phap-ban-ve-dan-chu-va-phap-quyen

    [9] Cố phó chủ tịch QHVN Nguyễn Hữu Thọ http://phapluattp.vn/20111224010410576p0c1013/khong-the-song-chung-voi-dan-chu-hinh-thuc.htm

    [10] Cố phó chủ tịch Quốc hội, LS Nguyễn Hữu Thọ
    http://www.donghuonglongan.vn/ngi-long-an/182-nguyn-hu-th-va-lch-s-v-vang-ca-mt-trn-dan-tc-thng-nht-vit-nam-.html

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Đâu là giải pháp?

    Nhân quyền chỉ có thể được bảo vệ trong một xã hội tự do, dân chủ; muốn bảo vệ nhân quyền thì không thể không dân chủ hóa đất nước bằng cách sử dụng chính cách các quyền tự do căn bản.

    Các nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược hồi hè 2011 đã gây chú ý của quốc tế vì sự hiếm có trong một xã hội mà trước nay vẫn chỉ thường diễn ra các cuộc mít-tinh, tuần hành ủng hộ, tung hô. Biểu tình, viết blog, hội họp… đều là những hình thức lên tiếng, đấu tranh để giành có được dân chủ. Giản đơn hơn hết, nhân quyền là khi người dân có quyền nói và dân chủ là khi chính quyền biết lắng nghe. Nhưng “Đừng có ảo tưởng rằng những người quan liêu, bảo thủ sẽ tự giác trao nhân dân quyền dân chủ… vấn đề tùy thuộc rất nhiều vào sự đấu tranh.” [10] Do vậy nói đến dân chủ trước hết phải nói đến cơ chế, cách thức tổ chức của chính quyền phải được bầu lên tự do và công bằng. Cơ chế ấy chỉ được bảo đảm khi hội đủ các điều kiện như: quyền phổ thông đầu phiếu; quyền được sử dụng mọi phương tiện để tuyên truyền cho quan điểm, vận động tranh cử. Các điều kiện này chỉ được bảo đảm khi sinh hoạt chính trị đặt trên nền tảng đa nguyên, đa đảng – điều tuyệt đối cấm kỵ tại VN trước nay. Bầu cử đa đảng cũng sẽ vô nghĩa như ở Nga nếu thiếu đi các yếu tố công bằng, minh bạch, tôn trọng kết quả bầu cử, ngăn ngừa chi sự chi phối của nước ngoài…

    Tuy nhiên trước khi đạt được những điều kiện lý tưởng như trên, phải từng bước hướng tới dân chủ bằng sự tham gia tích cực và sự quan tâm ngày càng nhiều của từng cá nhân vào các vấn đề chung của xã hội. Chỉ có thể bằng sự hiểu biết, trao đổi thông tin công khai dưới nhiều hình thức, người ta mới ý thức được quyền lợi của mình, của đất nước để sẵn sàng trả một cái giá (cũng có thể là rất đắt) để có được dân chủ.

    Tình thế buộc ĐCSVN phải dân chủ hóa đất nước, phải ôn lại bài học lòng dân mà họ đã vận dụng thành thạo trong quá khứ để giải quyết hàng loạt vấn đề từ đối nội lẫn đối ngoại. Để Việt Nam đủ sức giữ vững chủ quyền quốc gia; ổn định, phát triển kinh tế, xã hội để vươn lên thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, chạy đua trở thành một nước tiên tiến để bù lấp những sai lầm do ý thức hệ bó buộc trong nhiều chục năm qua, cách duy nhất chỉ có thể là dân chủ hóa đất nước; bảo vệ quyền con người.

    Định Tường

    Đọc bài này tôi thấy thích ba phần đầu, còn phần cuối sẽ không thực tế nếu đòi hỏi "ĐCSVN phải dân chủ hóa đất nước".Nếu bỏ đi đối tượng này (phần in đậm, gạch dưới)thì phần đúc kết sẽ chặt chẽ, nêu bật giải pháp rất thuyết phục cho vấn đề nhân quyền tại VN nêu ở trên và cũng không bị mâu thuẩn với câu này: "“Đừng có ảo tưởng rằng những người quan liêu, bảo thủ sẽ tự giác trao nhân dân quyền dân chủ… vấn đề tùy thuộc rất nhiều vào sự đấu tranh.” [10]

    Bài số 3 viết:
    QCN&T000003 có lẽ là bài số 3
    Vậy hai bài số 1 và 2 đâu ?

    Các bài số 1 và số 2 bác có thể tìm đọc trên một trong 2 trang sau:

    conduongvietnam.org

    hoặc

    facebook.com/quyenconnguoi

    Dân Luận không đăng hết tất cả các bài dự thi, chỉ chọn các bài mà chúng tôi thấy phù hợp với DL để giới thiệu thôi :D

    Bác Admin, HG, Innova, Tâm Như nên xếp các bài dự thi vào một chương mục (folder) để dễ tìm

    Các độc giả có quyền góp ý không hay là phải đợi đến hết thời hạn nộp bài ?

    http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20121004-mien-dien-dan-chu-hoa-de-thoat-gong-kem-trung-quoc

    Tiến trình dân chủ không thể đảo ngược và đất nước sẽ hài hòa . Đây là lời khẳng định của Tổng thống Miến Điện với toàn thể thế giới vào ngày 27/09/2012 tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong một thông điệp vinh danh công lao của nhà lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi. Ba hôm sau, Tổng thống Thein Sein tuyên bố không loại trừ khả năng giải Nobel hòa bình 1991 lên làm Tổng thống. Theo giới phân tích, thành phần quân nhân yêu nước xem dân chủ hóa là giải pháp cứu nước.

    Lãnh đạo đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi đã thực hiện một chuyến viếng thăm đầy thành công rực rỡ tại Hoa Kỳ hồi cuối tháng 9. Bà nhận giải thưởng Huy chương vàng của Quốc hội, phần thưởng cao quý nhất của Mỹ mà một người dân sự có thể nhận được. Bà cũng được Tổng thống Obama tiếp kiến tại Nhà Trắng. Cùng lúc đó, Tổng thống Miến Điện, Thein Sein, người đã ban hành liên tục những biện pháp cải cách từ khi làm nguyên thủ quốc gia vào tháng ba năm nay, đọc một bài diễn văn lịch sử tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

    Tổng thống Miến Điện Thein Sein đã dành những lời tốt đẹp nhất để vinh danh bà Aung San Suu Kyi người mà cách nay hai năm còn bị xem là kẻ thù của chế độ. Trong bài diễn văn 15 phút được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình nhà nước, ông tuyên bố « với tư cách là một công dân Miến Điện, tôi thành thật chia vui với bà Aung San Suu Kyi đã nhận được những vinh dự và lòng biết ơn về những nỗ lực then chốt đóng góp vào tiến trình dân chủ ».

    Tổng thống Miến Điện cam kết là sẽ xây dựng một « xã hội hài hòa » theo chuẩn mực « quốc tế ». Cũng từ diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ông khẳng định « tiến trình dân chủ không thể đảo ngược » và liệt kê những biện pháp cụ thể như thả tù chính trị, hủy bỏ kiểm duyệt báo chí, tổ chức bầu cử quốc hội bổ khuyết tháng 4/2012 một cách dân chủ, chấp nhận đa nguyên đa đảng để dân chúng tham gia việc nước…

    Ba ngày sau, trả lời phỏng vấn đài truyền hình Anh BBC, Tổng thống Miến Điện tuyên bố sẽ chấp nhận bà Aung San Suu Kyi làm tổng thống nếu bà được dân bầu.

    Tuy nhiên ông nhấn mạnh là mọi tu chính Hiến pháp 2008 để lãnh đạo đối lập, có chồng và con là người nước ngoài, ra tranh cử tổng thống, phải do Quốc hội quyết định. Vấn đề là hiện nay, 25% ghế nghị viện nằm trong tay sĩ quan quân đội và Hiến pháp hiện hành do của chính quyền tiền nhiệm soạn thảo quy định « quân đội có vai trò chính trị ». Cựu bộ trưởng quốc phòng Hla Ming từng tuyên bố là sẽ « giảm trọng lượng » quân nhân trong quốc hội khi cần thiết.

    Con đường dân chủ hóa Miến Điện còn rất nhiều bất trắc. Cho đến nay, Hoa Kỳ không bao giờ đưa ra những lời tuyên bố lạc quan mà ngược lại luôn giữ thái độ thận trọng, đề phòng tình hình đảo ngược.

    Vì theo nhận định của giới tình báo phương Tây thì với vị trí địa lý và tài nguyên dồi dào, Miến Điện là một thế cờ địa chiến lược cực kỳ quan trọng đối với Trung Quốc. Bắc Kinh không thể để cho quốc gia Đông Nam Á này ngả theo Ấn Độ hay Tây phương. Trung Quốc lệ thuộc vào Miến Điện từ khí đốt cho đến thủy điện, từ kinh tế cho đến quốc phòng và đặc biệt là đầu cầu triển khai hải quân trong Ấn độ dương.

    Trong 20 năm qua, song song với công trình xây ống dẫn khí đốt xuyên qua Miến Điện, từ vịnh Bangale đến tận Vân Nam, Bắc Kinh đã tiến hành kế hoạch cài « đạo quân thứ năm » tại Miến Điện. Chỉ riêng tại thành phố Mandalay, chiếc nôi của nền văn hóa Miến Điện, người Trung Quốc chiếm gần phân nửa dân cư địa phương. Tiếng Miến Điện tuy còn là ngôn ngữ chính thức nhưng tiếng quan thoại được sử dụng trong giao dịch thương mại.

    Từ thập niên 1990, Trung Quốc cũng là nguồn cung cấp vũ khí cho quân đội Miến Điện. Ảnh hưởng nhân sự, kinh tế và quân sự đã làm cho dân chúng Miến Điện rất bực bội và xem Trung Quốc là « thực dân xâm lược ». Hàng loạt vụ tấn công phá hoại ống dẫn khí đốt đã xảy ra trong tháng 5 năm 2010. Cũng trong bối cảnh này, dự án đập thủy điện Myitsone do thầu Trung Quốc xây dựng trở thành mục tiêu bài Hoa của người dân địa phương. Chính vì thế mà ngày 30/09/2011, tân tổng thống Thein Sein tuyên bố đình chỉ dự án để « tôn trọng ý dân ».

    Trong tầm nhìn nầy, Jean-Bernard Pinatel, một chuyên gia tình báo Pháp nhận định : sự kiện bà Aung San Suu Kyi vinh quang trở lại chính trường thể hiện quyết tâm của một bộ phận quân nhân Miến Điện muốn lật qua trang sử độc tài để thoát khỏi hiểm họa « thực dân » Trung Quốc.

    Theo phân tích của phóng viên Arnaud Dubus từ Bangkok, phe cải cách trong chính quyền Thein Sein và đối lập đang hợp tác với nhau để dân chủ hóa đất nước.Tiến trình này có nhiều tương đồng với những bước chuyển hóa tại Indonesia.

    RFI : Thân chào Arnaud Dubus, từ khi Aung San Suu Kyi trở lại chính trường, nhà lãnh đạo đối lập này có nhân uy tín quốc tế của mình tranh giành ảnh hưởng với tổng thống Miến Điện hay là hai bên hợp tác với nhau để phục vụ tiến trình dân chủ hóa ?

    A. Dubus : Tổng thống Thein Sein và lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi hành xử một cách rõ ràng bổ sung cho nhau. Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ là một chứng minh cụ thể. Khi bà Aung San Suu Kyi, trong bài diễn văn đầu tiên tại đất Mỹ, kêu gọi Washington ngưng cấm vận triền miên Miến Điện chính là bà đã dọn đường cho Tổng thống Thein Sein. Kế tiếp, mọi việc diễn ra như một bài hợp tấu. Ngoại trưởng Hillary Clinton thông báo bỏ lệnh cấm nhập cảng hàng hóa Miến Điện vào thị trường Hoa Kỳ, đây là biện pháp trừng phạt kinh tế cuối cùng. Tiếp theo đó, Tổng thống Thein Sein đã có thể đọc bài diễn văn tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc với nội dung tập trung vào thành quả dân chủ hóa và ông được cử tọa nhiệt liệt hoan nghênh.

    Nếu so sánh chuyến viếng thăm Hoa Kỳ với những sự kiện nhân chuyến xuất ngoại đầu tiên tại Thái Lan của bà Aung San Suu Kyi vào tháng 6 năm nay thì sự phối hợp giữa bà và Tổng thống Thein Sein rất rõ rệt. Tại Bangkok, chương trình của hai người « va chạm » nhau và tổng thống Miến Điện đã hủy bỏ chuyền đi của ông để không bị cuộc tiếp đón huy hoàng mà Diễn đàn Kinh tế Thế giới dành cho nhà nữ đối lập làm lu mờ. Sau vụ này, hai bên đã rút tỉa kinh nghiệm.

    RFI : Từ tháng ba đến nay đã có hàng loạt biện pháp cải cách từ việc thả tù chính trị, nới lỏng kiểm duyệt báo chí, đối lập vào quốc hội … Chúng ta có thể biết một cách chính xác Miến Điện đang ở trong giai đoạn nào trong tiến trình dân chủ ?

    A. Dubus :Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể so sánh tình hình Miến Điện với Indonesia sau năm 1998. Sau 30 năm cai trị với bàn tay sắt, nhà độc tài Suharto bị lật đổ. Trong ba năm đầu tiên sau biến cố lịch sử này, tính chất ù lì của chế độ cũ vẫn đè nặng trong sinh hoạt chính trị. Ví dụ, quân đội vẫn chiếm một số ghế cố định trong Quốc hội như tình trạng hiện nay ở Miến Điện. Đảng Golkar, do Suharto thành lập vẫn tiếp tục áp đảo chính trường nhờ vào bộ máy kinh tài khổng lồ. Giới tướng lãnh tiếp tục chi phối chính trị.

    Mãi đến khi bà Megawati Sukarnoputri lên làm tổng thống từ năm 2001 đến 2004 thì Indonesia mới bắt đầu tiến trình dân chủ hóa thật sự và lúc đó quân đội mới rời chính trường quay về doanh trại. Nhưng để tiến được tới giai đoạn này, thì trước đó, tức là từ 1999 đến 2001, Tổng thống Abdurahma Wahid, bằng tinh thần can đảm vượt bực, đã ép được quân đội chấp nhận thối lui.

    Cũng tương tự như vậy , chính quyền Thein Sein phải bắt đầu bằng những biện pháp ít khó khăn nhất : như là thả tù chính trị, bỏ kiểm duyệt thông tin …. Nhưng giai đoạn khó nhất vẫn chưa được tiến hành. Giai đoạn này sẽ tiến hành khi quyền lợi kinh tế và chính trị của giới quân sự bị đe dọa trực tiếp. Điều đáng chú ý là trong diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, ông Thein Sein nhấn mạnh rằng quân đội vẫn còn vai trò chính trị.

    Hiện nay, chưa có cơ hội để tạo đối đầu trực tiếp giữa chính phủ và đối lập vì vấn đề nhạy cảm nhất, kiểm soát quyền lực chính trị và kinh tế, chưa được đề cập đến và sẽ không được đề cập trước bầu cử quốc hội 2015. Giai đoạn sau 2015 sẽ là thời kỳ đổi mới thật sự.

    RFI : Quân đội có từ bỏ bớt quyền lợi kinh tế và quyền lực chính trị hay chưa?

    A. Dubus : Về mặt chính trị, như chúng ta đã biết, quân đội Miến Điện chiếm 1/4 ghế đại biểu trong 2 viện quốc hội và ở các nghị viện cấp vùng. Cũng ở cấp vùng ảnh hưởng của các tư lệnh địa phương rất lớn; không một chuyện gì mà không có sự đồng ý của họ. Tuy nhiên cũng cần phải tương đối hóa vấn đề này, chẳng hạn như các sĩ quan trong nghị viện đã đóng một vai trò khá tích cực trong chiều hướng dân chủ hóa và đã nhiều lần bỏ phiếu cùng với đối lập.

    Mới đây họ đã biểu quyết cách chức một số thẩm phán của Viện Bảo Hiến. Dường như các quân nhân trong nghị viện bầu theo một hướng . Các đại biểu mặc áo nhà binh rất hăng hái tham gia các cuộc tranh luận. Quân nhân Miến Điện kiểm soát hầu hết các lãnh vực kinh tế qua hai đại tập đoàn xí nghiệp quân đội và các công ty "chân rết" của quân đôi. Giới quân nhân thường sử dụng biện pháp thô bạo để giành hợp đồng. Mới đây, tập đoàn Myanmar Holding Economics của quân đội hợp tác đầu tư với một công ty Trung Quốc khai thác mỏ đồng ở phía bắc Miến Điện. Quân đội đã dùng sức mạnh đuổi nông dân ra khỏi làng mạc, đe dọa dân và đốt chùa chiền. Tuy nhiên, dân làng cùng các tổ chức xã hội dân sự đã chống cự lại cùng với sự tiếp tay trợ lực của báo chí khiến cho phe quân đội không thể muốn làm gì thì làm như trước đây.

    RFI : Anh vừa nói đến vai trò của các xí nghiệp Trung Quốc. Là phóng viên nhiều năm trong khu vực, anh có chia sẻ ý kiến cho rằng dân chủ hóa cũng là một giải pháp ngăn chận ảnh hưởng Trung Quốc, ít ra là theo quan điểm của một bộ phận quân nhân yêu nước ?

    A Dubus : Vấn đề này khá phức tạp. Nhưng chúng ta có thể nói là phe « cứng rắn » trong guồng máy nhà nước, nhất là trong tập đoàn quân sự cho đến khi rút lui vào đầu năm 2011, đều có quan hệ mật thiết với Bắc kinh từ quyền lực chính trị đến quyền lợi kinh tế. Chính thành phần này đã thiên vị các công ty Trung Quốc nhất là trong bối cảnh cấm vận làm các công ty Mỹ đứng ngoài. Ở miền bắc Miến Điện, giáp giới với Trung Quốc, người dân rất lo âu trước tình hình càng ngày càng có đông người Trung Quốc sang lập nghiệp. Nhiều khu phố ở Mandalay hoàn toàn thuộc di dân Trung Quốc mới từ Hoa lục kéo qua. Khi chính phủ dân sự được thành lập, công việc đầu tiên của Tổng thống Thein Sein là đình hoản công trình xây đập tủy điện Myitsone ở bang Kachin do Trung Quốc thầu và tài trợ và dường như không báo trước cho Trung Quốc. Chuyện này đã làm nức lòng dân chúng địa phương và góp phần làm đẹp hình ảnh của tân tổng thống.

    Từ nay, Miến Điện không còn là cánh cửa mở toang cho Trung Quốc như trong những năm 1998-2010.

    Tuy nhiên cũng phải lưu ý là nhiều dự án của Thái Lan cũng bị đình hoãn. Do vậy, không thể kết luận một cách vội vã là có một phong trào chống Trung Quốc trong nội bộ tập đoàn quân sự. Đúng hơn là quân đội có một quyết tâm muốn Miến Điện quân bình quan hệ đối ngoại chẳng hạn như dành thị phần rộng rãi hơn cho Tây phương.

    RFI : Miến Điện là quốc gia có nội chiến sắc tộc triền miên và dài nhất trên thế giới. Nhiều sắc dân tranh đấu võ trang hàng nửa thế kỷ để đòi được đối xử bình đẳng. Liệu tiến trình dân chủ hóa sẽ có tác động tích cực đem lại hòa bình giửa 60% người Miến và 40% sắc dân thiểu số ?

    A. Dubus : Điều đáng chú ý là về lãnh vực sắc tộc thiểu số tổng thống Thein Sein có vẽ bỏ xa bà Aung San Suu Kyi một đoạn đường dài. Phần nói về số phận các sắc dân thiểu số trong diễn văn tổng thống tại New York rất hay. Ông nói rằng những thỏa thuận ngưng chiến đã ký với hàng chục tổ chức nổi dậy không đủ. cần phải có hiệp định hoà bình, thỏa mãn những "nguyện vọng chính trị" của dân thiểu số. Một cách gián tiếp, ông cho là phải tiến tới một chế độ tự trị.

    Từ xưa đến nay, chưa bao giờ một lãnh đạo Miến Điện đưa ra một lập trường tiến bộ như vậy đối với dân tộc thiểu số. Về hồ sơ người Rohingya theo đạo hồi, bà Aung San Suu Kyi nhiều lần bị chỉ trích vì quan điểm mơ hồ của bà. Lãnh đạo đối lập chỉ tuyên bố chung chung là phải giải quyết trong khuôn khổ nhà nước pháp trị. Trong khi đó thì tổng thống Thein Sein tận tình tìm giải pháp mặc dù ông đã một lần bị chỉ trích mạnh vì đề nghị cho sắc dân theo đạo hồi này di cư sang một quốc gia khác .

    Ít ra là ông không 'nửa nạc nửa mỡ' vấn đề này thật tình thì rất phức tạp vì người hồi giáo ở bang Rakhine không phải là thuần nhất. Tuy là có một phần đông định cư tại đây từ nhiều thế hệ nhưng phần khác là di dân mới từ nơi khác nhập cư. Người Miến Điện thì lại lẫn lộn vàng thau.

    Đây là vấn đề quan trọng vì thật tình mà nói, đây là vấn đề cơ bản buộc người dân Miến Điện phải chọn một "mô hình xã hội". Hoặc họ chọn một xã hội tập quyền, trong đó sắc dân chiếm đa số áp đặt ý chí của mình và đồng hóa các dân tộc ít người. Đây là mô hình xã hội gần giống Thái Lan.

    Hay là họ theo một mô hình xã hội tương đối tản quyền trong đó mỗi địa phương có ít nhiều quyền tự trị về hành chánh và mỗi sắc dân có thể bảo vệ văn hóa truyền thống của mình. Mô hình này gần giống với tổ chức xã hội của Indonesia. Đây là lúc mà Miến Điện phải lựa chọn.

    Nhưng hiện tại họ có vẽ nghiên về mô hình người Miến trước đã. Có lẽ cùng cần nhắc lại là chính vấn đề " địa phương tự trị" đã gây ra hai cuộc nội chiến, lần đầu xảy ra ngay sau khi độc lập vào cuối thập niên 1940 và lần thứ nhì vào đầu thập niên 1960. Cũng vì viện lý do "toàn vẹn lãnh thổ" mà quân đội đã đảo chính năm 1962. Biến cố này mở đường cho 50 năm độc tài quân phiệt.