Đỗ Kim Thêm - Tinh thần thượng tôn luật pháp (2)

  • Bởi Khách
    03/10/2012
    1 phản hồi

    Đỗ Kim Thêm

    Các vi phạm luật pháp của nhà nước

    Nếu cá nhân vi phạm luật pháp vì thiếu ý thức và đạo đức, thì vi phạm luật pháp của chính quyền lại đến từ hệ thống chính trị mà Hiến pháp là văn bản quy định cao nhất, một lĩnh vực thuộc công pháp, không thuộc tội phạm học. Do đó, các vấn đề tâm lý và trí thức không thể đặt ra mà vi phạm Hiến pháp của nhà nước cần thảo luận.

    Các thảo luận về thay đổi Hiến pháp thường dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập của mô hình dân chủ phương Tây, thường được coi là chuẩn mực hơn để đem lại niềm tin của dân chúng vào sự vận hành cuả luật pháp. Thực ra, không cần bàn đến các khái niệm này để so chiếu mà Hiến pháp hiện nay có những nghịch lý nội tại, một thực trạng không liên hệ đến các mô thức ngoại lai mà là do kỷ năng lập hiến, tình thế và duy ý chí chuyên chính tạo ra. Những đặc điểm này đã được nói nhiều nên chỉ tóm lựợc như sau:

    Đảng quyền và luật pháp

    Nghịch lý thứ nhất là Hiến pháp quy định là mọi hoạt động của Đảng phải nằm trong khuổn khổ cuả Hiến pháp và luật pháp. Điều khoản này chỉ có giá trị tuyên bố nhưng không đem lại ràng buộc pháp lý. Vì không có luật pháp làm cơ sở nên hậu quả là Đảng có quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối nhưng không chịu trách nhiệm pháp luật: tất cả các nghị quyết của Đảng đứng ngoài và đứng trên luật pháp, mọị sinh hoạt nội bộ của Đảng không theo nguyên tắc dân chủ và mọi kỷ luật Đảng dựa trên đạo đức cách mạng và lương tâm tập thể.

    Có lập luận cho rằng quyền làm chủ cuả nhân dân sẽ được phát huy khi Đảng chứng tỏ là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Mối quan hệ chủ tớ chỉ có trong thời phong kiến, không còn thể hiện đúng được mối quan hệ chính trị giửa người dân và nhà nước trong sinh hoạt dân chủ văn minh hiện đại. Ngày nay, dân chúng chờ đợi Đảng cầm quyền làm việc có hiệu năng kinh tế và trách nhiệm trước luật pháp; mọi ràng buộc xã hội phải dựạ trên luật lệ, nhất là nhân phẩm con phải được tôn trọng và người phục vụ cũng có quyền lợi và nghiã vụ do luật lao động. Sự tái lập quan hệ chủ tớ, dù chỉ trong phong cách văn hoá Việt, là đi ngược trào lưu và không thuyết phục. Tinh thần công bộc và những khái niệm khác như chuyên chính NNPQXHCN, lơị ích tổ quốc và nhân dân, phản động và diển biến hoà bình là những đặc thù trong văn hoá luật pháp cuả Việt Nam cần làm rỏ để thay đổi tư duy.

    Tạo ra một khuôn khổ pháp chế cho Đảng hoạt động và đề ra mối quan hệ giữa Đảng trong vai trò lảnh đạo và chức năng điều hành Nhà nước là một nhu cầu khách quan thời đại, mà không nhất thiết dựa vào mô thức nào của phương Tây.

    Thẩm quyền lập hiến

    Nghịch lý thứ hai là chủ quyền của nhân dân và vai trò của Quốc hội. Tất cả quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân và Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân. Nhưng làm sao người dân thực hiện quyền này trong thực tế? Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp và chỉ có Quốc hội mới quyền sửa đổi Hiến pháp.

    Hiến pháp đề cao chủ quyền cuả nhân dân, nhưng không minh thị thẩm quyền lập hiến và phúc quyết hiến pháp, biểu hiện sự thiếu nhất quán trong quy định quyền lực của nhân dân. Hiến pháp mặc nhiên không phát huy đúng mức quyền làm chủ của nhân dân vì cho phép Quốc hội không thực hiện trưng cầu dân ý, đây là một lổi hệ thống.

    Xác định thẩm quyền lập hiến và phúc quyết hiến pháp của nhân dân qua các hình thức dân chủ trực tiếp, tổng tuyển cử và trưng cầu dân ý chính là khởi điểm cải cách.

    Kỹ năng lập pháp và lập quy

    Nghịch lý thứ ba là nguyên tắc quyền lực nhà nước. Trên lý thuyết, quyền này phải được thống nhất và do phân công và phối hợp giửa các cơ quan nhà nước. Trong thực tế, mức vi phạm của các văn bản quy phạm luật pháp đến mức độ báo động vì các cơ quan ban hành không có kỹ năng và cơ quan kiểm tra cũng không thể hoàn thành chức năng.

    Lý giải chủ yếu là do nguyên tắc phân công nội bộ của Đảng và không theo hệ thống hành chính tổng quát. Vấn đề kiểm soát thẩm quyền lập hiến, lập pháp và lập quy không được đặt ra đúng mức, nên trùng lấp thẩm quyền trong khi ban hành các văn bản quy phạm luật pháp là chuyện thông thường. Nhiều Nghị Định quy định các quyền tự do hiến định của người dân mà không hề dựa vào Hiến pháp, chỉ căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ để ban hành, một vi phạm trầm trọng về luật thủ tục, vì quá quen thuộc nên không ai phản ứng.

    Triển vọng cải cách lại khó khăn hơn vì nhiều lý do khác. Một là, Việt Nam chưa có Toà Bảo Hiến để xét vấn đề vi hiến hay vi luật của các quyết định hành chính trong khi Toà án Hành chính hay Toà án Nhân dân lại không có thẩm quyền. Quyền giải thích luật pháp thuộc về Uỷ ban Thường Vụ Quốc hội, một cơ chế kiểm tra nhưng không bảo đảm tính thống nhất cuả hệ thống luật pháp và một số Đại Biểu Quốc Hội phải dồn sức trao dồi kỷ năng viết, đọc và chất vấn.

    Hai là các cảnh báo cuả Cục Kiểm tra thuộc Bộ Tư Pháp về các văn bản vi phạm cũng không có tác dụng, vì cơ quan vi phạm không có trách nhiệm giải trình trực tiếp theo luật, mà giám sát nội bộ do Đảng ủy cơ sở chi phối, nên mọi vi phạm phát hiện đều dể dải thông qua. Một văn bản quy phạm luật pháp được coi là có chất lượng khi phù hợp quan điểm chính trị của Đảng, một tiêu chí không bị luật pháp ràng buộc. Nâng cao kỷ năng lập pháp và lập quy và phân công và phân quyền rỏ ràng là giải pháp cho vấn đề, nhưng nguyên tắc thống nhất quyền lực không cho phép, nghịch lý sẽ kéo dài.

    Do đó, phân biệt mục tiêu chính trị của Đảng, tính hợp hiến, tính hợp pháp các văn bản phạm quy phạm luật pháp trong tiến trỉnh lập quy là bước đầu để thay đổi.

    Tôn trọng nhân quyền

    Nghịch lý thứ tư liên hệ đến lập luận cho rằng Việt Nam có những hoàn cảnh đặc thù mà giá trị phổ quát của Bảng Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền không thể áp dụng. Thực ra, Hiến pháp vi phạm nhân quyền do từ kỹ năng lập hiến và duy ý chí chính trị, tự tạo ra khó khăn nội tại và không liên hệ gì đến các cam kết quốc tế hay điều kiện khả thi.

    Hiến pháp không phân biệt dân quyền và nhân quyền, hai phạm trù cần áp dụng riêng biệt. Hiến pháp công nhận nhân quyền như một ban phát của nhà nước, không nằm trong ý nghĩa cao cả cuả nhân quyền là một quyền tự nhiên nội tại, một thành tựu văn minh chung của nhân loại và có giá trị phổ quát. Hiến pháp công nhận tổng quát nhưng không liệt kê cụ thể các nhân quyền căn bản để tuân thủ, không có một cơ chế tranh tụng khi vi phạm, không công nhận tố quyền trực tiếp của nạn nhân để khởi động và không có cơ quan theo dỏi các vi phạm để cảnh báo khi cần thiết. Khái niệm tập trung dân chủ và làm chủ tập thể không đem lại một cơ chế tôn trọng nhân quyền mà quyền sở hữu toàn dân gây nhiều thiệt haị kinh tế. Đây là một vi phạm nặng nề nhất.

    Tựu chung, dân chủ tập trung và làm chủ tập thể không thể hoà hợp để phát huy nhân quyền và dân quyền; Đảng và Nhà nước dùng chính sách để quản lý thay cho pháp luật; luật pháp là phương tiện chuyên chính dùng để kiểm soát các vi phạm của dân chúng, nhưng không thể chế tài nhà nước và quyền cá nhân phải hy sinh trước quyền lợi của tập thể, một hình thức cưỡng chế ngoài phạm vi luật pháp. Trong khi Hiến pháp chưa tu chỉnh thì nhà nước sẽ tiếp tục vi phạm pháp luật, trật tự xã hội không được duy trì và tự do cá nhân của người dân không được bảo vệ, nhưng người dân có thể tin vào đạo đức nhà nước như là một lý do giải trình cho các vi phạm này không?

    Đạo đức nhà nước

    Luật giới phưong Tây không quan tâm đạo đức nhà nước vì theo quan điểm Rule of Law nhà nước cần phải có trách nhiệm giải trình theo luật pháp, một loại trách nhiệm chính trị không dựa theo quan điểm đạo đức. Ngược lại, các nhà đạo đức đã tìm cách đề ra những phương thức ứng xử cho từng loại vấn đề chuyên biệt thành một mô thức đạo đức đồng thuận có giá trị hướng dẫn cho cá nhân (người tiêu thụ), tổ chức (doanh nghiệp, ngân hàng), hay xã hội (bảo vệ môi sinh).

    Phương Tây hiện nay đang gặp nạn suy thoái kéo dài, tham nhũng lan rộng, giá trị dân chủ và luật pháp bị lạm dụng. Ngoài ra, các vấn đề như chống khủng bố, kiểm soát thị trường tư bản tài chính và giải quyết nợ công cần những biện pháp mạnh, hữu hiệu và nhanh chóng. Nhưng vì thủ tục phức tạp, thảo luận bị chuyên môn hoá và giải pháp tìm ra lại là thoả hiệp chính trị tạm thời trong một cơ chế ngắn hạn, đôi khi quá chậm trể, nên không thể đem lại một căn bản đạo đức nhà nước với giá trị phổ quát trong khi đạo đức của Thiên Chúa giáo không còn chiếm ưu thế trong sinh hoạt chính trị như trong quá khứ. Do đó, công luận đòi hỏi nhà nước cần một trách nhiệm chung và tinh thần đạo đức của một nhà nước thế tục, hơn là theo đạo đức tôn giáo để đáp ứng tình thế. Nghịch lý vẫn còn là vấn đề phải giải quyết.

    Thực ra, một biện pháp nhanh chóng và không dân chủ không luôn luôn có nghiả là hữu hiệu, đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Ngược lại, các nước chậm tiến không có cơ sở nghiên cứu với kỷ năng chuyên môn cao độ và thiết chế hạ tầng cần thiết, nên duy ý chí chính trị không thể đem lại giải pháp tốt đẹp. So sánh mức độ tín nhiệm và đạo đức của các vua quan thời phong kiến với hoàn cảnh hiện nay là thiếu thực tế. Các nước Á Đông vừa không có kinh nghiệm quản lý nhà nước hiện đại và không muốn áp dụng trách nhiệm giải trình theo luật định mà thường dựa vào truyền thống văn hoá và thành công trong lịch sử để lập luận, mà trưòng hợp Việt Nam là một thí dụ.

    Lịch sử Việt Nam đã chứng minh là đạo đức nhà nước phong kiến đã ăn sâu vào tâm khảm của dân chúng. Tinh thần đạo đức của vua quan đã gây được lòng trung quân ái quốc của dân chúng và là tấm gương sáng về đạo đức nhà nước. Tìm sự đồng thuận để giải quyết vấn đề hệ trọng của đất nước không quá phức tạp như ngày nay.

    Qua thời gian và tình thế mà đạo đức nhà nước trở thành đạo đức cách mạng. Người Việt cho rằng sự thay đổi khái niệm này là cần thiết vì truyền thống luân thường Khổng Mạnh phải phù hợp với tình huống đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp. Ý niệm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, công bộc cho dân, hy sinh vì đại cuộc rất dể thu phục lòng người trong hoàn cảnh bấy giờ. Đạo đức cách mạng chi phối triệt để đời sống Đảng viên, kể cả đến chuyện lập gia đình và tổ chức lể cưới cũng phàỉ có ý kiến của Đảng. Đến ngày nay, sự phân biệt đạo đức cá nhân và cách mạng vẩn chưa rỏ ràng.

    Thời kỳ toàn cầu hoá và sau ngày Đổi Mới, giá trị về đạo đức cách mạng không còn phù hợp để làm một khuôn khổ thảo luận về truyền thông đạo đức của đất nước. Từ năm 2008 Việt Nam đã triển khai khái niệm đạo đức công vụ trong sinh hoạt hành chính. Về nội dung, khái niệm này cũng không thể mang luận chứng mới lạ, mà là tiếp nối tinh thần công bộc xưa củ trong bối cảnh kinh tế thị trường. Thực ra, đây là một giáo trình cho sinh viên, nên giá trị thuyết phục trong công luận bị hạn chế. Giá trị đạo đức, cũng như giá trị văn hoá khác, cần rầt nhiều thời gian để được dân chúng công nhận và áp dụng. Đạo đức công vụ chỉ là một khởi đầu nên chưa đi vào cuộc sống để trở thành đạo đức nhà nước, mà trở ngại chính cho sư phát triển này là quốc nạn tham nhũng đang hoành hành.

    Trong hoàn cảnh hiện nay, dù có nhiều chiến dịch học tập đaọ đức cách mạng để làm sống lại các giá trị đạo đức nhà nước trước đây, nhung không thể là biện luận thuyết phục cho các vi phạm pháp luật của Nhà nước ngày càng trầm trọng.

    Kết luận

    Cá nhân và nhà nước phải tuân thủ luật pháp để duy trì trật tự xã hội. Một nền văn hoá giáo dục trọng pháp sẽ làm giảm đi vi phạm của cá nhân. Thay đổi hiến pháp, tôn trọng chủ quyền nhân dân và cải thiện đạo đức nhà nước sẽ đem lại niềm tin về giá trị của luật pháp. Đạo đức cá nhân, tôn giáo, truyền thống giáo dục gia đình, trong chừng mực nhất định, vẫn còn có thể tạo nên nền tảng cho sự tuân thủ. Đó là những chủ đề đã thảo luận trong tiểu luận này và chỉ là những lý giải thuần lý thuyết, hy vọng sẽ có những công trình khác nghiên cứu nghiêm túc hơn và đem lại nhiều thực chứng để bổ sung.

    Tinh thần thượng tôn luật pháp của Việt Nam là tương lai cuả một ảo ảnh hay là một hy vọng tìm thấy? Có thể là cả hai. Triển vọng về một nền luật pháp nghiêm minh chỉ là một ảo ảnh vì giáo dục đang xuống cấp và thành tựu cải cách không thể tìm thấy trong một sớm một chiều. Trước những biến chuyển liên tục của thời cuộc làm băng hoại mọi giá trị tinh thần, một thiểu số ưu tư về tiền đồ đất nước đang cố tìm ra trong truyền thống cao đẹp của dân tộc những chân giá trị cần cứu vớt để bảo tồn và phát huy. Can đảm chìm đắm trong thế giới viễn mơ này có thể đem lại một cảm giác ấm áp về một thuở văn minh xa xưa của đất nước thanh bình và hài hoà như là một giấc mộng êm đềm. Đa số người Việt đều lạc quan và tự tin, nhưng cũng cần thêm một chút lãng mạn để chúng ta cùng nhau cứu vớt giấc mộng này, một hy vọng khởi đầu cho tương lai huy hoàng về tinh thần thượng tôn luật pháp của Việt Nam./.

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Xác định thẩm quyền lập hiến và phúc quyết hiến pháp của nhân dân qua các hình thức dân chủ trực tiếp, tổng tuyển cử và trưng cầu dân ý chính là khởi điểm cải cách.

    -------------------

    Việc này rất cần thiết và phải làm ngay

    Ngoài ra phải thể hiện qua ứng cử tự do, tranh cử công bằng qua các cuộc bầu cử tại địa phương và cả nước

    Bầu cử hiện nay là bầu cử cuội, gian lận