Chủ nghĩa toàn trị trong cơn khủng hoảng: Liệu có thể chuyển biến êm thấm để đến với dân chủ? (III)

  • Bởi Admin
    09/09/2012
    0 phản hồi

    Vladimir Bukovsky<br />
    Mọt Sách Già chuyển ngữ

    III. Xem xét dưới góc độ con người và thiên nhiên

    Ngoài một xã hội biến dạng, một nền kinh tế tiêu điều, và tài nguyên cạn kiệt, những người cộng sản còn để lại những di sản gì? đó là đất đai nứt nẻ, những đầm lầy hôi thối, một cộng đồng dân cư bị băng hoại, mà trong đó những công dân lao động hăng say chăm chỉ gần như bị tuyệt chủng. Bởi không như một chế độ độc tài thông thường, chế độ toàn trị không chỉ đơn thuần là dùng khủng bố để bám lấy quyền lực (tất nhiên điều này thì nó thường làm rất tốt) mà còn tạo ra một công nghệ xã hội đạt được bằng khủng bố. Tất cả mọi mặt trong cuộc sống, tâm lý của xã hội đều phải tuân theo công nghệ xã hội này. Chẳng phải vì chúng gây hại cho những kẻ cai trị, mà vì chế độ toàn trị luôn mong muốn thay đổi đến từng tế bào của xã hội. Đó là một kiểu “chọn lọc không tự nhiên” (“unatural selection”) với “sự tồn tại của những phần tử không mạnh khoẻ (“survival of the unfittest” – ngược với thuyết chọn lọc tự nhiên (natural selection) của Darwin với sự tồn tại của những phần tử mạnh khoẻ biết thích nghi (survival of the fittest) – ND). Nhiều kỹ năng và ngành nghề bị biến mất, sự sợ hãi dường như đã ăn vào Gene. Chúng ta không nên quên rằng ở Liên Xô đã có ba thế hệ sinh ra và lớn lên trong chế độ hiện tại, họ được chứng kiến sự huỷ hoại từ từ đất nước, nền văn hoá, và con người (đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác là khoảng hai thế hệ). Không giống như ở Hungary hay Trung Quốc, ở Liên Xô không có nông dân, chỉ có xã viên hợp tác xã trong ngành nông nghiệp. Thế hệ những người nông dân biết cách tự canh tác trên đất đai của mình đã chết hết. Đó chính là một trong những lý do tại sao cuộc cải tổ và tháo dỡ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực nông nghiệp có thể thành công ở Trung quốc, nhưng khó có thể ở Liên Xô.

    Không ai có thể biết được chính xác con số những nạn nhân bị sát hại của chế độ cộng sản ở Liên Xô kể từ cách mạng tháng 10: 30, 50, thậm chí có thể là 60 triệu, nhưng chắc chắn con số đủ lớn để gọi bằng từ “diệt chủng”. Và chúng ta cũng không nên quên một lượng khổng lồ những công dân đã bị giam cầm trong các trại lao động khổ sai, mà ở đó lao động là cưỡng bức, là theo luật, cho nên mọi lao động ở đó đối với họ đều là sự trừng phạt. Ngay cả các điều kiện lao động ở ngoài xã hội cũng không khác mấy so với lao động cưỡng bức, nó tạo ra những thói quen tương tự của người lao động.

    Bên cạnh đó chính quyền Xô viết luôn tìm cách làm cho dân chúng thấy rằng họ không thể chiến thắng được chính quyền toàn trị, không có lối thoát nào ra khỏi cuộc sống đau khổ hiện tại của họ cả về mặt thể xác lẫn tâm hồn, không có phương cách cải thiện cuộc sống cho họ kể cả việc chốn ra nước ngoài. Mọi cố gắng đều bị chế độ toàn trị làm cho thành vô vọng. Điều này cũng tương tự như hiện tượng “bất lực do huấn luyện” (learned helplessness) trong tâm lý học thực hành. Trong đó khi một sinh vật thí nghiệm bị ngăn cản và trừng trị mỗi khi nó tìm cách chốn chạy, dẫn đến làm cho sinh vật này lâm vào tình trạng tâm lý bất lực và không có khả năng tìm cách chốn chạy ngay cả khi có cơ hội. Sự thật là đã ba thế hệ qua, người dân Xô viết bị buộc phải nghe và chỉ nghe những điều giả dối trên các phương tiện thông tin tuyên truyền. Sự mẫu thuẫn trái nghịch thường xuyên giữa thực tế xã hội và thông tin tuyên truyền trong quốc gia toàn trị, bản thân nó, đã có thể tạo ra những cú âp tâm lý ghê gớm, chưa nói đến những nỗi sợ hãi bất tận, sự nghi kỵ và nỗi khổ đau.

    Hiện trạng con người hiện nay ở Liên Xô (và đúng với tới một mức độ nào đó với các nước toàn trị khác), không phải chỉ là thờ ơ và lãnh cảm, mà là suy kiệt về mặt tâm lý, một sự mệt mỏi thân xác đến tận cùng. Dấu hiệu của nó được thể hiện ở tỷ lệ trẻ sơ sinh chết cao, tỷ lệ sinh thấp (số âm ở một số nước công hoà và gần 0 ở Nga), tuổi thọ trung bình là 60. Một tỷ lệ rất cao trẻ sơ sinh khi sinh ra đã bị dị dạng cả về thể xác lẫn trí não (6-7% ở cuối thập niên 70 và nếu ngoại suy đến cuối thập niên 90 con số này sẽ là 15%). Đó là hậu quả của sự ô nhiễm môi trường và tệ nạn nghiện rượu. Một tài liệu mật bị đánh cắp và đưa ra ngoài Liên Xô vào năm 1985 đã công bố con số 40 triệu người được “cấp chứng nhận y tế vì nghiện rượu”, con số ngoại suy cho năm 2000 sẽ là 80 triệu.

    Thậm chí ngay cả thiên nhiên cũng đã quá cạn kiệt sau 73 năm cai trị của chính quyền cộng sản. Không giống như trong các nước phương Tây, nơi mà ý kiến và phong trào của quần chúng có thể ngăn không cho các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp gây ô nhiễm môi trường một cách quá đáng, ở Liên Xô, không có một lực lượng nào dám đứng ra để đấu tranh với chế độ toàn trị để bảo vệ môi trường. Bởi vì mệnh đề “con người bảo vệ thiên nhiên” là quá xa lạ đối với triết lý của cách mạng. “Chúng ta đừng đợi thiên nhiên ưu ái, mà hãy lấy sự ưu ái từ thiên nhiên thông qua việc biến đổi nó” - đấy là một khẩu hiệu phổ biến trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mà ý nghĩa có nó được cho là, nếu điều kiện cho phép, chúng ta có thể biến quá lê thành quả táo, biến con gà trống thành ngài bộ trưởng. Sáu mươi năm sau, cái triết lý đó đã để lại cho đất nước một thảm hoạ môi trường.

    Vào cuối những năm 70, ô nhiễm không khí đã lên cao đến mức “rất nguy hiểm” ở hơn 1000 thành phố, “mức đe doạ sức khoẻ” ở hơn 100 thành phố, cao hơn gấp 10 lần so với mức “nguy hiểm” ở 10 thành phố. Sự tổn hại cho ô nhiễm không khí và nguồn nước gây ra, theo con số chính thức của chính quyền Xô viết, là 20 tỷ rúp, và con số này đến năm 1990 có thể là 120 tỷ. Những con sông của Liên Xô mang ra biển Baltic lượng chất ô niễm cao hơn 20 lần so với sông Rhine (ở Đức - ND) mang ra biển bắc. Do việc khai khẩn đất đai rất tốn kém, nên chỉ có 8-12% diện tích đất đai bị phá huỷ do khai thác hầm mỏ được khai hoang hàng năm. Vậy nên vào cuối những năm 70 đã có 77,200 dặm vuông đất đai bị phá huỷ vì khai khoáng mà không được khai khẩn trở lại, hàng năm con số này được tăng lên 400 dặm vuông.

    Lượng đất đai còn bị phá huỷ nhiều hơn nữa với việc xuất hiện những biển, hồ nhân tạo nhằm phục vụ cho các nhà máy thuỷ điện. Tổng số diện tích những hồ nhân tạo kiểu này là 46,320 dặm vuông, kéo theo sự xói mòn đất đai làm cho 243,180 dặm vuông những vùng đất phì nhiêu, những đồng cỏ, trở nên gần như không thể canh tác được nữa (với năng xuất mùa màng bị giảm từ 80 đến 90%). Những dự án thuỷ điện khổng lồ nói trên không những phá huỷ những diện tích canh tác phì nhiêu khổng lồ mà còn huỷ hoại cả những con sông, biến chúng thành những cái đầm hôi thối và ô nhiễm. Và cuối cùng những trạm thuỷ điện này vẫn không cung cấp đủ lượng điện cần thiết khi mực nước hạ thấp. Quá trình bay hơi, việc dùng nguồn nước và việc tưới tiêu cho nông nghiệp, và sự bành trướng của các ngành công nghiệp càng làm vấn đề chở nên tồi tệ thêm. Những biển và hồ tự nhiên Aral, Azov, Caspi có thể sẽ biến mất trong thế kỷ tới. Hệ sinh thái biển đen đã bị huỷ hoại rất nhiều và sẽ tiếp tục bị huỷ hoại thêm nữa. Việc thiếu nước trầm trọng sẽ gây ảnh hưởng đến việc trồng các cây nông nghiệp và công nghiệp.

    Một vấn đề nghiêm trọng nữa là nạn phá rừng bừa bãi. Ngay cả chính quyền Xô viết cũng thừa nhận rằng diện tích rừng bị biến mất do con người chặt phá ngang bằng với do cháy rừng, con số đó là khoảng 100,000 dặm vuông mỗi năm. Và hậu quả là ngày càng nhiều vùng đất bị xói mòn hay bị biến thành đầm lầy.

    Diện tích đất bị mất bằng cả diện tích của Anh, Pháp, Italy, Tây Đức, Thuỵ Sỹ, Lucxembua, Bỉ, Hà Lan cộng lại (17). Phải cần khoảng từ 100 đến 200 năm để phục hồi lại chúng.

    * * *

    Kết luận, chúng ta chỉ có thể cố gắng lạc quan hơn. Nếu con người có thể chịu đựng được sự huỷ hoại, đau khổ, trầm luân kéo dài đến thế mà không bị hoàn toàn khuất phục vẫn dám đứng lên vì tự do và phẩm giá, vì sự thật và sự trung thực, thì họ sẽ chịu đựng được cả giai đoạn cuối của cuộc khủng hoảng. Nó có thể phải mất một thế hệ hay hai thế hệ, có thể phải trả một giá rất đắt, nhưng cuộc đấu tranh giải trừ chế độ toàn trị phải chiến thắng. Bởi nếu tâm hồn của con người đã sống sót quá muôn vàn tăm tối, như những ngọn nến không tắt trong gió, thì nó phải là trường tồn.

    Sự im lặng tuyệt đối đã tưởng như là sự phản ứng duy nhất của nhân dân khi chế độ toàn trị bắt đầu thoái trào. Nhưng không phải như vậy, từ biển Baltic đến miền núi vùng Capcadơ, từ sông Danube đến Siberia, những quốc gia thành phần đã đứng lên đòi lại quyền độc lập dân tộc. Ngay cả tại Nga, trong những cuộc “bầu cử” gần đây dù đầy những toan tính, cưỡng bức và dối lừa, lá phiếu của người dân vẫn cho thấy, Đảng cộng sản đã hoàn toàn bị nhân dân tẩy chay. Làn sóng lạm phát, đình công đang gia tăng. Gần đây ngay cả cảnh sát ở Leningrad cũng chuẩn bị đình công. Nói tóm lại tất cả mọi nơi, mọi người dân đều đồng thanh lên tiếng: Chúng tôi muốn có dân chủ. Cái họ muốn không phải thứ “dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà là thứ dân chủ truyền thống cho tất cả mọi người. Không ai còn có thể ngăn cản được họ nữa.

    Vết sẹo do một chế độ toàn trị để lại cho xã hội vừa sâu vừa lâu dài. Thật bất hạnh cho một quốc gia nào mà việc nói lên sự thật đã được coi là một hành động anh hùng, thật nhục nhã cho một quốc gia mà việc nói lên sự thật bị coi là hành động điên rồ, bởi ở những nơi đó, những cánh đồng sẽ không thể sản xuất ra bánh mỳ. Thật thống khổ cho một dân tộc nếu tất cả mọi người đã mất đi ý niệm về phẩm hạnh, bởi ở đó sẽ chỉ có thể sinh ra những đứa trẻ què quặt về tâm hồn. Nhưng nếu trong những xã hội ấy, chỉ cần có một người sống khác đi thì nó sẽ không bị diệt vong.

    Đó là lý do tại sao không bao giờ có thể tìm được một định nghĩa đầy đủ cho chế độ toàn trị, bởi mức độ tồi tệ nó gây ra đối với một dân tộc còn hơn cả một cuộc thảm sát hạt nhân.

    ___________________________

    Về tác giả: Vladimir Bukovsky là một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng người Nga đang sống tại phương Tây. Ông được xem như là một chuyên gia, một nhà tiên tri nền kinh tế chính trị Liên Xô đương đại. Sau khi tốt nghiệp đại học tổng hợp Matxcơva, Bukovsky đã tích cực tham gia đấu tranh vì quyền con người và đòi tự do cho những tù nhân chính trị đang bị giam cầm ở Liên Xô. Chính vì vậy ông nhanh chóng trở thành cái gai trong mắt chính quyền. Trong vòng 14 năm từ năm 21 tuổi đến 34 tuổi, ông đã nhiều lần bị bắt, bị giam trong các nhà tù, trại lao động khổ sai, và cả bệnh viện tâm thần. Cuối cùng ông bị trục xuất khỏi Liên Xô vào năm 1976.

    Sau khi rời khỏi Liên Xô, Bukovsky đã học qua các trường Cambridge và Standford và tham gia nghiên cứu tại khoa tâm lý học thuộc đại học Standford. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách như: Short Stories of Russian Other Writers (1970), Oposition – Eine Neue Geisteskrandheit in des USSR (1972); A Manual on Psychiatry for Dissenters (1974); cuốn tiểu sử tự viết: To Build a Castle: My Life as a Dissenter (1978); Cette lacininante douleur de la liberte (1981) [Bản dịch tiếng Anh: “To choose freedom” (1987)]; và The Peace Movement and the Soviet Union (1982).

    ____________________________

    Chú thích

    1. Karl Marx, Tư bản luận, tập 1 (nhà xuất bản Maxcơva 1974), trang 474-475.

    2. Trong buổi trả lời phỏng vấn đài Châu âu tự do vào ngày 29-5-1989.

    3. Karl Marx, Một đóng góp vào việc phê phán kinh tế chính trị, Marx & Angels tuyển tập, tập 1 (nhà xuất bản Maxcơva 1973), trang 504.

    4. Tư bản luận, trang 454.

    5. Tư bản luận, trang 714-715.

    6. Tư bản luận, (nhà xuất bản Penguin Books, 1976), trang 129.

    7. Phê phán cương lĩnh Gotha, Marx & Angel tuyển tập, tập 2, (nhà xuất bản Maxcơva 1962), trang 33.

    8. Các con số lấy từ cuốn The Statesman’s Year-Book: Statistical and Historical Annual of the State of the World for the Year 1988-1989, nhà xuất bản Macmillan.

    9. Trud, 26-6-1989.

    10. V. Selyunin, “Tempy Rosta na Vesakh Potreblenia”, Socialisticheskaya Industria, 5-1-1988.

    11. V. Tomashkevich, Socialisticheskaya Industria, 30-8-1988.

    12. Kommunist, 11 (1985), trang 22.

    13. Tài liệu Novosimbirk, thư viện Samizdat #5042, trang 3.

    14. Tài liệu Novosimbirk, thư viện Samizdat #5042, trang 4.

    15. Tài liệu Novosimbirk, thư viện Samizdat #5042, trang 4.

    16. Novy Mir, #1, 1989.

    17. Boris Komarov, Sự huỷ hoại thiên nhiên ở Liên Xô, (White Plains: Sharpe 1980).

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi