Osin Huy Đức - Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng

  • Bởi Admin
    07/09/2012
    14 phản hồi

    Osin Huy Đức

    Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị về “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.

    Kinh Doanh Đa Ngành

    Ý tưởng thành lập tập đoàn không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những người tiền nhiệm.

    Năm 1994, khi những nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận “cánh tay phải” của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

    Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô hình Cheabol của họ.

    Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.

    Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận, ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép kinh doanh đa ngành.

    Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt.

    Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

    Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.

    Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng, không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến bên bờ vực. Rất nhiều tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.

    Đại Nhảy Vọt

    Không có một vị thủ tướng nào thừa kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.

    Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông Phan Văn Khải nói: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

    Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.

    Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%, các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.

    Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỉ đồng. Áp lực tiền bạc của các ngân hàng lên tới hơn 40.000 tỉ đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần.

    Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. “Cơn khát” tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.

    Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay 24 - 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.

    Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, “đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng” vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày 5-12-2008, 299 điểm.

    Chính những “đại gia” gần gũi thủ tướng nhất lại “chết” đau thương nhất vì họ đã từng được vay tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/ năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.

    Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con. Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.

    Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào ngờ có ngày “hậu duệ” của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng, những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.

    Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.

    Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.

    Bẫy Việt Vị

    Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: “Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình”. Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là “gây rối Thủ đô”, là có “các thế lực chống đối trong và ngoài nước”.

    Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những “tác phẩm báo chí” bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.

    Mấy tháng sau, trong khi chính quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội “sớm có luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp”.

    Cũng thời gian đó, trong khi chính phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia đầu tiên của Hà Nội nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ năm 1974”. Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.

    Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ tai, “phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng”. Nhóm “13” hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.

    Sau khi các đại gia gần gũi ông như Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    14 phản hồi

    Trả lời bạn Nguyễn Jung:

    Ý tôi muốn nói là nếu ông trời (Đảng) bắt tôi, không thể tránh được, phải chọn giữa dịch hạch NPT và dịch tả NTD thì tôi chọn dịch nào. Với 1 chút hiểu biết về bệnh tật, tôi đành phải chọn dịch tả vì chỉ cần cữ ăn, nếu không chết đói thì cũng hi vọng có thể sống sót, chứ với dịch tả lan truyền từ chuột chũi TQ, thì chỉ có nước chết. Dịch hạch đen (la peste noire) thời Trung cổ làm chết 1 nửa dân Âu châu. Dịch hạch đỏ trong nửa thế kỷ cũng giết bằng 2 lần số dân thời ấy. Lẽ tất nhiên là nếu có thuốc chích ngừa (dân chủ) thì nói làm gì.

    Gửi bác Phong Uyên

    Với CS, điều tối thượng là phải duy trì sự cai trị dù có mâu thuẫn phe nhóm hầu đảm bảo có đất dung thân, sự kế thừa của con cháu và hưởng thụ phè phởn ngay chính quê hương mình sau khi rút về hậu trường. Mỹ và các nước dân chủ không ngây thơ để cho các chú CS lợi dụng, đu dây và dung dưỡng khi chúng tháo chạy. CS cũng biết rõ điều này, và hình ảnh Gaddafi, Mubarak, Assad…...là bài học đắc giá cho CS. Đó là, chỉ khi nào cùng nhau duy trì được quyền lực cai trị thì mới đảm bảo an toàn, quyền lợi cho phe nhóm và thân quyến ….Còn khi có biến thì không có Tàu, Mỹ....nào cứu nổi, chỉ có nhân dân mới cứu nổi CS thôi, nhưng….Vì vậy, chỉ có một style CS duy nhất đảm bảo sự tồn tại an toàn và lâu dài cho CS chính là CS THÂN HỮU….

    Phong Uyên viết:
    .

    Sự lựa chọn của tôi cũng giống như sự lựa chọn giữa dịch hạch và dịch tả. Là người miền Nam có thể chỉ là sự lựa chọn theo tình cảm địa phương với hi vọng là tâm thức người miền Nam như NTD, TTS cũng khác tâm thức những người miền Bắc nắm bộ máy Lãnh đạo Đảng như NPT.

    Tại sao lại lựa chọn giữa dịch hạch và dịch tả? Dịch nào cũng đưa đến cái chết. Ai chết thì đem chôn. Người mắc bệnh, có chữa được thì cũng ngắc ngoải, phải có thời gian mới phục hồi được sức khỏe. Còn những người mạnh khỏe, chưa nhiễm bệnh không lẽ cũng muốn bệnh, cũng muốn chết, chấp nhận cái chết sẽ đến, chỉ sớm hay muộn thôi?

    Tại sao không tiêm thuốc ngừa? Tẩy xóa, dọn dẹp môi trường, ăn ở sao cho có vệ sinh, sạch sẽ để khỏi mắc bệnh, để sống còn và sống khỏe?

    Không lẽ người VN nào cũng muốn lựa chọn giữa dịch hạch và dịch tả?
    Tôi chọn phương pháp tẩy rửa, dọn dẹp môi trường. Ăn ở vệ sinh, sạch sẽ, và sẵn sàng chịu chích ngừa.

    Nguyễn Jung

    Trả lời 2 bác Anh Tuấn và Dân nghèo VN:

    Hoàn toàn đồng ý là CSVN chả thân ai cả và chỉ thân Quyền và Tiền, nhưng cũng chính vì vậy mà phải dựa và phụ thuộc vào Tàu-Mỹ và bị thao túng bởi 2 nước này. Giữa NPT và NTD ai phụ thuộc Tàu, ai phụ thuộc Mỹ hơn ai là tùy sự mặc cả đổi chác với nhau giữa 2 nước này nên rất có thể hôm nay thì như vậy, ngày mai có thể đổi ngược lại: NPT hay TTS phải dựa vào Mỹ và NTD phải dựa vào Tàu trong sự tranh giành ưu thế. Cho tới nay những sự kiện đều chứng tỏ phe NPT dựa vào Tàu và phe NTD bám vào Mỹ (vi quyền lợi gia đình) và khi "hữu sự" ít người có thể nghĩ 3D và quý quyến sẽ chọn nơi sống ở Tàu mà không ở Mỹ (hay 1 nước Tây phương, Thụy Sĩ chẳng hạn).

    Sự lựa chọn của tôi cũng giống như sự lựa chọn giữa dịch hạch và dịch tả. Là người miền Nam có thể chỉ là sự lựa chọn theo tình cảm địa phương với hi vọng là tâm thức người miền Nam như NTD, TTS cũng khác tâm thức những người miền Bắc nắm bộ máy Lãnh đạo Đảng như NPT.

    Trích dẫn:
    Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.

    Hehe, tủ quần áo nào trong nhà ông Dũng có thể núp được để xem ông ấy "diễn"? Xin bác Osin mách giùm!

    Theo tôi, không có khái niệm CS thân Mỹ (hay thân Tàu…..) như nhiều người bình loạn và hy vọng, mà thay vào đó chỉ tồn tại một loại CS duy nhất là CS THÂN HỮU để cùng nhau cai trị Bờm lâu dài mà thôi.

    Osin Huy Đức viết:
    Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.

    Người Dân Việt Nam được sinh ra để sống bình thường như mọi con người khác trên quả đất này.

    Người Dân Việt Nam không phải là "con vật thí" trong phòng "thí nghiệm XHCN" bằng những trò chơi "thí điểm tập đoàn", "thí điểm nông trường", "thí điểm thị trường", "thí điểm thị trưởng", "thí điểm cho vay", "thí điểm dạy học", "thí điểm ăn, "thí điểm ngủ", thí điểm đụ", "thí điểm ỉa".

    Một số nhân vật được cộng đồng mạng tung hê khi chửi một cá nhân lãnh đạo nào đó cụ thể. Nhưng cộng đồng không hề có nhận thức rõ ràng rằng, dưới một chế độ công hữu tư liệu sản xuất thì bất kỳ hành động nào của bất kỳ lãnh đạo cấp cao nào cũng phải bị thông qua sự đồng thuận của bộ trên bộ là bê xê tê. Tớ đố bất kỳ cá nhân nào dám làm một mình mà không bị tập thể còn lại trùm mền đánh gục. Nên đi chỉ trích cá nhân ô ng này sai ông nọ bậy là chỉ vì động cơ cá nhân hơn là vì đất nước và dân tộc.

    BS Hồ Hải

    Đông A - Từ bóng tối bước ra ánh sáng

    Dự cảm của tôi về một cuộc chiến đang diễn ra dường như càng ngày càng khớp với những sự kiện đang diễn ra.

    Nếu trước kia biểu hiện của cuộc chiến chỉ thể hiện qua bóng tối qua những tin đồn đại trên mạng từ những nhân vật ảo, không có tên tuổi, thì nay cuộc chiến đã có biểu hiện thể hiện bước ra ánh sáng.

    Huy Đức, một nhà báo bị cho thất nghiệp, từng có liên quan trong vụ Năm Cam, vụ việc khiến ông Trương Tấn Sang bị BCH TW Đảng kỷ luật, theo tin đồn trên mạng hiện đang ở nước ngoài, vừa có bài viết Bẫy việt vị của Thủ tướng. Trong bài viết của mình, tác giả Huy Đức đã vạch trần những âm mưu, thủ đoạn cũng như khuyết điểm, yếu kém trong điều hành kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

    Bên cạnh đó tác giả Huy Đức cũng cung cấp thông tin vụ việc trấn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội năm ngoái có dính líu tới Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng. Những thông tin này, một mặt góp phần đập tan những tin đồn rằng phe chống Thủ tướng được Trung Quốc hậu thuẫn, mặt khác lại cho thấy phe của Thủ tướng không phải là không thân Trung Quốc, chỉ lấy chống Trung Quốc làm bình phong để bịt mắt dư luận, che đậy những khiếm khuyết khác.

    Điểm này cũng khớp với nhận xét của các chuyên gia nước ngoài trước đây về chuyện Chính phủ thúc đẩy mua sắm trang bị vũ khí chưa hẳn đã vì mục đích chống Trung Quốc mà còn chứa đựng những mục đích chồng chéo khác.

    Nếu trước đây, các thông tin chỉ ở dạng tin đồn, người đọc có thể bán tín bán nghi thì nay tác giả Huy Đức, từng là một nhà báo, có tên tuổi địa vị rõ ràng, thông tin do ông cung cấp chắc hẳn phải có một độ xác tín nhất định.

    Hôm qua tờ Petro Times có bài viết về ông Đặng Thành Tâm nhưng nay đã rút xuống. Liệu đây có phải là dấu hiệu cho thấy cuộc chiến đang chuyển từ bóng tối ra ánh sáng? Và liệu truyền thông Việt Nam có bị lôi cuốn vào cuộc chiến vô tiền khoáng hậu này không? Hay cuộc chiến sẽ mang tính giới hạn trong blogsphere nhưng với những tên tuổi, địa chỉ xác định?

    Theo blog Đông A

    Tôi xin phản biện lại bác Phong Uyên, căn cứ nào mà bác tin rằng TT NTD không thân TQ. Tôi chỉ là dân đen nhưng dưới sự điều hành của Chính phủ TT NTD tôi thấy CP này là Chính phủ thân và làm lợi cho TQ nhiều nhất: bán mỏ boxit Tây nguyên cho TQ khai thác, các gói thầu nhiệt điện, thủy điện để các nhà thầu TQ thắng thầu gần như 100% với công nghệ lạc hậu và tiêu hao nhiều năng lượng, bán rừng gần biên giới cho TQ, khai thác tài nguyên khoáng sản cho TQ với tốc độ cao nhất, nền kinh tế nước ta ngày một phụ thuộc vào công nghệ và nguyên liệu của TQ v.v...
    Và cái này ta cũng cần phải nói cho nhau biết: TQ rất thành công với các chính phủ tham nhũng trên toàn thế giới. Với mức độ tham nhũng phổ biến như hiện nay tôi tin rằng VN cũng không là ngoại lệ.
    Vậy sao bác lại hy vọng vào ông TT này chống TQ nhỉ? cần phải quan sát thực tế chứ đừng nghe ngóng cái cách người ta đánh bóng PR bản thân, dương đông kích tây cốt để ngồi yên trên cái ghế màu mỡ.

    Khách Xích Lô Hải Phòng viết:

    Họ đánh nhau chỉ để giành lấy chìa khóa của cái cùm đang kìm kẹp dân tộc mà thôi.

    Cái chìa khóa mở cùm là đa đảng.
    Họ đánh nhau không với mục đích mở cùm mà với mục đích: Cá nhân nào, ai (nhóm lợi ích) là chủ cái cùm! Từ đó xiết chặt hay nới lỏng một vài cm.

    Nguyễn Jung

    Phong Uyên viết:
    Tôi thì có sự lựa chọn: giữa phe ông Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn phụ thuộc Tàu và ông Nguyễn Tấn Dũng, dù có thể trở thành 1 lãnh tụ độc tài nhưng không phụ thuộc Tàu tuy phải bám vào Mỹ (vì quyền lợi gia đình), tôi chọn ông NTD với hi vọng là ông TTS sẽ đi về phía ông NTD.

    Nguyễn Tấn Dũng gần đây bị công khai vỗ mặt hơi nhiều. Đó là những chỉ dấu cho thấy quyền lực của nhân vật này đang phải đối mặt với thách thức từ nhiều phía.

    Tuy nhiên, sự thật là dù có bẫy nhau, hãm hại nhau thế nào đi nữa, họ vẫn đi chung một con thuyền mang tên cộng sản, không ai muốn làm nó đắm cả.

    Họ đánh nhau chỉ để giành lấy chìa khóa của cái cùm đang kìm kẹp dân tộc mà thôi.

    Sự tranh chấp quyền hành giữa 2 phái trong nội bộ ĐCSVN đang đi đến tột độ một mất một còn và tương lai của đất nước trước hiểm họa Trung Quốc cũng một phần lớn phụ thuộc vào kết cuộc của sự tranh chấp này. Vì vậy cần phải có sự xét đoán công bằng về trách nhiệm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong sự phá sản của Vinashin và trong sự tìm hiểu ai là người đã giăng và đang giăng những bẫy việt vị: Thủ tướng Dũng hay những phe phái khác muốn NTD bị mắc bẫy?

    1) Sự phá sản của Vinashin: Vinashin được thành lập bởi TT Phan Văn Khải ngày 15-5-06 trước khi NTD lên cầm quyền, sau 2 tập đoàn khác là Công nghiệp Than đá và Bưu chính Viễn thông, theo mô hình các chaebol Hàn quốc. Sự phá sản của Vinashin đã nằm trong logiciel của nó ngay từ khi được thành lập vì khác với các chaebol (cũng chỉ bắt chước các Zaibatsu, Keratsu Nhật Bản),là những công ty tư nhân chuyên về một ngành khi khởi đầu va khi thành công mới tạo ra hay thu hút những công ty con để cung cấp vật tư và dịch vụ cho công ty mẹ chứ không phải là những tập đoàn quốc doanh (thực sự là Đảng doanh được thành lập để thu hút tiền đầu tư của Quốc gia). Ông NTD chỉ làm cho tập đoàn Đảng doanh này đi đến phá sản mau chóng hơn khi tạo cho nó những công ty con nắm giữ những nghành không dính dáng gì tới hoạt động chính của Vinashin. Những công ty "con" này được tạo ra với mục đích duy nhất là để chia nhau quyền lợi giữa các phe phái (gọi là để đấm mõm). Các đại gia mang tiếng là sở hữu chủ những công ty này thật ra chỉ là những người đứng tên và bây giờ phải chịu giơ đầu chịu báng.

    2) Những bẫy việt vị "biểu tình chống Trung Quốc",những hứa hẹn về luật biểu tình, những kết tội hùng hồn TQ xâm lược Hoàng Sa trước QH và đơn đặt hàng của ông NTD về Nhà nước pháp quyền (tất nhiên là liên quan tới sửa đổi HP 92, đặc biệt là điều 4 HP) chỉ là phản ánh của sự tranh chấp chiếm ưu thế giữa 2 phái trong Đảng và giữa 3 nhân vật chóp bu TTS, NPT và NTD, người dân chỉ biết đứng nhìn và phần lớn nghĩ là chẳng sơ múi gì, dù các phe phái và các chóp bu trong Đảng có giảng hòa với nhau hay tiếp tục bắt chẹt nhau trong sự phân chia quyền hành và quyền lợi.

    Tôi thì có sự lựa chọn: giữa phe ông Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn phụ thuộc Tàu và ông Nguyễn Tấn Dũng, dù có thể trở thành 1 lãnh tụ độc tài nhưng không phụ thuộc Tàu tuy phải bám vào Mỹ (vì quyền lợi gia đình), tôi chọn ông NTD với hi vọng là ông TTS sẽ đi về phía ông NTD.