Trần Văn Thọ - Dịch thuật và tinh thần cầu học: Khởi động quá trình hiện đại hóa Nhật Bản

  • Bởi Khách
    14/09/2012
    16 phản hồi

    Trần Văn Thọ

    Chuyện kể rằng Sakamoto Ryoma (1835-1867), một chí sĩ có công trong cuộc vận động thay chế độ tướng quân Mạc Phủ bằng chính quyền Minh Trị, đã nói với người bạn đồng hương lâu ngày mới gặp lại rằng “<em>vũ khí quan trọng của thời đại bây giờ không phải là thanh gươm cây kiếm, cũng không phải là súng ống mà là cái nầy đây</em>” (ông rút trong túi ra đưa cho bạn xem cuốn <em>Vạn quốc công pháp</em> vừa được dịch và phát hành năm 1865).

    Năm 1853 hạm đội của Đô đốc Perry (Mỹ) đến bến cảng Uraga đòi chính quyền Mạc Phủ Tokugawa mở của giao thương. Đến năm 1858, Nhật phải ký các hiệp ước bất bình đẳng với Mỹ và một số nước Tây phương khác. Mười năm tiếp theo đó là giai đọan cực kỳ rối ren. Nhật đứng truớc nguy cơ có khả năng trở thành thuộc địa của Âu Mỹ trong tình hình nội chiến bùng phát vì các phiên trấn ở phía Nam tập họp lực lượng để đánh đổ chế độ tướng quân Tokugawa, giành lại thực quyền cho thiên hòang. Trước nguy cơ ngoại xâm, lãnh đạo Nhật ở cả hai phe đã khôn khéo không để cho cuộc nội chiến kéo dài và tránh được cuộc đổ máu ở quy mô lớn. Chính quyền Minh Trị thiên hòang ra đời năm 1868, trọng dụng người tài của chế độ cũ và ra sức tiến hành cận đại hóa để theo kịp các nước phương Tây. Một trong những nỗ lực để khởi động công cuộc hiện đại hóa là dịch và phổ biến các sách kinh điển phương Tây, các sách giúp xây dựng chế độ pháp quyền, chế độ kinh tế tiên tiến và xây dựng lối sống văn minh. Qua những trang dưới đây ta sẽ thấy một phần nỗ lực phi thường và sự phấn đấu gian khổ của người Nhật trong nỗ lực tiếp nhận văn minh phương Tây qua dịch thuật.

    Dịch thuật và cầu học trước sự tồn vong của quốc gia:

    Công cuộc dịch thuật đã bắt đầu từ thập niên 1850, dưới thời Tokugawa. Do nhu cầu phải thuơng lượng với Mỹ, phải tìm hiểu công pháp quốc tế, Tokugawa lập ra Trường học tập phương Tây (Yogakko) năm 1855 để đào tạo cán bộ ngoại giao và thông dịch viên. Lúc đầu trí thức và quan chức Nhật đổ xô đến Nagasaki, thành phố duy nhất mở cửa giao lưu với Hà Lan trong thời thực hiện chính sách bế quan toả cảng của Tokugawa, để thu thập thông tin và sách báo Âu Mỹ. Sau đó trong các phái đoàn gửi sang Mỹ và Âu châu, các thành viên lo săn tìm sách quý và cố mang về Nhật thật nhiều. Từ năm 1863 Yogakko bắt đầu dịch các sách về thiên văn, địa lý, vật lý, hóa học, kinh tế, luật và thống kê. Năm 1868, chính quyền Minh Trị kế thừa và phát triển truờng nầy, các thức giả bên ngoài chính phủ cũng nao nức học tập phương Tây, từ đó công cuộc dịch thuật bước vào giai đọan triển khai mạnh mẽ.

    Trong những năm cuối Mạc Phủ và đầu Minh Trị, bốn cuốn sách được đón nhận nồng nhiệt nhất là Tây dương sự tình (phát hành và tái bản trong thời gian từ 1866-1870) của Fukuzawa Yukichi, gồm các phần dịch Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ và các bài viết của tác giả sau chuyến đi khảo sát các nước phương tây; Vạn quốc công pháp (phát hành năm 1865 và năm 1870) do Nishi Amane và sau đó là Shigeno Yasutsugu dịch cuốn Elements of International Law (1836) của Henry Wheaton; Tây quốc lập chí biên (1870-71) của Nakamura Keiu dịch cuốn Self Help của Samuel Smiles (bản phát hành năm 1859); Dữ địa chí lược (xuất bản năm 1870) của Uchida Masao, dịch từ các sách về địa lý của các tác giả người Anh và Hà Lan. Đặc biệt Vạn quốc công pháp trở thành sách gối đầu giừơng của giới trí thức, quan chức và lãnh đạo chính trị.

    Mười lăm năm đầu thởi Minh Trị có trên 1.500 cuốn sách xuất bản ở Âu Mỹ đã được dịch ra tiếng Nhật. Dân số của Nhật lúc đó chỉ hơn 30 triệu, điều kiện dịch thuật khó khăn (thiếu tự điển, thiếu người giỏi ngoại ngữ, tư tưởng, khái niệm hoàn toàn mới lạ, v.v.), mà mỗi năm dịch hơn 100 cuốn sách nước ngoài trong đó không ít thuộc loại kinh điển thì đúng là phi thường. Trong các thập niên 1870 và 1880, Tự do chi lý (phát hành năm 1872) dịch từ cuốn On Liberty (1859) của John Stuart Mill, Xã hội bình quyền luận (phát hành trong các năm 1881-84) dịch từ cuốn Social Statics (1851) của Herbert Spencer là những sách dịch bán ra với số lượng hàng trăm ngàn cuốn.

    Lãnh đạo các giới của Nhật hồi đó tiếp xúc với văn minh phương Tây thấy cái gì cũng mới lạ, dị chất đối với văn hóa của mình. Đồng thời họ cũng thấy ngay được rằng nền văn minh mới và xa lạ đó chính là nguồn gốc của sức mạnh kinh tế, quân sự của các nước Âu Mỹ, những nước đương dùng sức mạnh đó đi xâm chiếm những nước yếu. Từ nhận định đó Nhật thấy rằng phải nhanh chóng tiếp thu văn minh phương Tây để canh tân đất nước mới tránh được thảm họa mất nước. Do đó phong trào dịch và phổ biến các sách hay của phương Tây lan rộng rất nhanh.

    Việc dịch sách nước ngoài để nâng cao trình độ văn hóa của nước mình, để hấp thu những thành quả khoa học, kỹ thuật của nước khác không phải là chuyện mới đối với nhiều nước, nhất là giữa những nước tiên tiến. Nhật trước đó cũng đã dịch nhiều sách về lịch sử, văn học của Trung Quốc. Nhưng kinh nghiệm của Nhật trong nửa sau thế kỷ 19 rất độc đáo: Thực hiện trên quy mô cả nước, thực hiện trong khẩn trương, trong điều kiện khó khăn và nhất là dịch những sách đến từ một nền văn hóa hòan tòan khác mình. Có thể nói Nhật đã lập một kỳ tích và nhờ đó đã khởi động được quá trình cận đại hóa.

    Những đặc trưng nhiều ấn tượng:

    Thử điểm qua tình hình dịch thuật và sự đón nhận của quần chúng Nhật truớc làn gió mới từ phương Tây tới.

    Thứ nhất, các dịch giả phải phấn đấu, vất vả không những chỉ để hiểu chính xác nội dung nguyên tác mà khó khăn không kém là tìm ra khái niệm thích hợp bằng tiếng Nhật. Fukuzawa Yukichi khi dịch câu “all men are created equal” trong Tuyên ngôn độc lập của Thomas Jefferson đã lúng túng với từ equal. Lúc đó chưa có từ bình đẳng, ông phải dịch ý là “con người trời sinh ra ai cũng cùng đi một con đường”. Ảnh hưởng tư tưởng nầy, ông đã nói một câu nổi tiếng (câu đầu tiên viết trong cuốn Gakumon no susume -Khuyến học): “Trời không sinh ra con người ở trên con nguời và không sinh ra con nguời ở dưới con người”. Một thí dụ khác, Nakamura Masanao khi dịch On Liberty của J.S. Mill, gặp từ society ông ta chỉ hiểu ý và hiểu không chính xác nên dịch là “nakama-uchi” hoặc “nakama-doshi” (có nghĩa là “tập hợp những người có quan hệ gần gũi”) và ghi chú thêm đó là “chính phủ”. Mãi đến năm 1878 ở Nhật mới có từ “xã hội” để dịch “society”.

    Thứ hai, trong việc dịch thuật, người Nhật đã làm việc khẩn truơng nhưng với thái độ nghiêm túc, cầu thị. Nhiều bản dịch được thực hiện từng phần và hoàn thành qua nhiều năm. Chẳng hạn cuốn Traites de legislation civile et penale của Jeremy Bentham phải dịch nhiều kỳ (tuần tự xuất bản với các tiêu đề Lập pháp luận cương, Dân pháp luận cương và Hình pháp luận cương) bắt đầu từ năm 1876 đến năm 1879 mới hoàn thành. Cuốn Quốc phú luận (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) của Adam Smith được dịch một phần vào năm 1870 đến năm 1884 mới bắt đầu được dịch lại và hoàn tất vào năm 1888. Nhiều trường hợp khi phát hiện bản dịch cũ chưa chính xác, hoặc phần giải thuyết, phụ chú chưa đầy đủ, người đi sau lại thực hiện bản dịch mới. Thời kỳ cuối Tokugawa và đầu Minh Trị, do nhu cầu cấp bách, Nhật phải dịch ngay những sách cần thiết trong điều kiện hạn hẹp (thiếu tự điển, thiếu chuyên gia ngoại ngữ). Sau đó trong điều kiện tốt hơn, người sau lại thực hiện bản dịch tốt hơn. Cũng có trường hợp, nhất là về sau nầy khi kinh tế đã phát triển, đối với những cuốn sách kinh điển, nhiều bản dịch được thực hiện đồng thời bởi nhiều dịch giả khác nhau. Dựa theo tư liệu chưa đầy đủ ta cũng thấy cuốn On Liberty của Mill đã được dịch ít nhất là 8 lần qua các năm 1871, 1895, 1914, 1925, 1946, 1947, 1967 và 1971.

    Thứ ba, tinh thần cầu học rất mạnh và lan ra cả xã hội nên sách dịch được phổ biến rộng. Vì vậy mà số lượng phát hành rất lớn, nhiều cuốn sách dịch tuy nội dung khó, văn dịch càng khó hiểu, mà lượng phát hành lên tới trên dưới 1% dân số. Đặc biệt giới lãnh đạo chính trị và quan chức là những người đi tiên phong trong việc học tập tư tưởng mới để xây dựng nước. Chuyện kể rằng Sakamoto Ryoma (1835-1867), một chí sĩ có công trong cuộc vận động thay chế độ tướng quân Mạc Phủ bằng chính quyền Minh Trị, đã nói với người bạn đồng hương lâu ngày mới gặp lại rằng “vũ khí quan trọng của thời đại bây giờ không phải là thanh gươm cây kiếm, cũng không phải là súng ống mà là cái nầy đây” (ông rút trong túi ra đưa cho bạn xem cuốn Vạn quốc công pháp vừa được dịch và phát hành năm 1865). Itagaki Taisuke (1836-1919), người lãnh đạo cuộc vận động tự do dân quyền thời Minh Trị, đã xem cuốn Xã hội bình quyền luận là giáo khoa thư về dân quyền, không những ông đã gối đầu giừơng cuốn sách mà còn cổ vũ nhiều người khác đọc. Nhà hoạt động chính trị Mutsu Munemitsu (1844-1897) bị bắt năm 1878 vì bị tình nghi có hoạt động chống chính phủ, ở trong tù ông đã dịch cuốn An Introduction to the Principles of Moral Legislation của Jeremy Bentham và sau khi ra tù đã xuất bản cuốn sách dịch đó (năm 1883). Thời đó dù chính kiến khác nhau, những người yêu nước ai cũng lo tìm cách cận đại hoá đất nước, tìm cách thương lượng thắng lợi với các cường quốc để bãi bỏ các hiệp ước bất bình đẳng. Mutsu đã dịch cuốn sách của Bentham với hy vọng có thêm tri thức về công pháp quốc tế để chuẩn bị thương lượng với phương Tây về các hiệp ước bất bình đẳng.

    Thứ tư, việc chọn sách dịch hầu như không bị hạn chế về mặt tư tưởng hay ý thức hệ nào. Tất cả các sách thuộc loại kinh điển, gói ghém trí tuệ của nhân loại, và sách giúp ích trực tiếp cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế hiện đại và lối sống văn minh đều được đón nhận. Chỉ trong giai đoạn giới quân phiệt lãnh đạo chính quyền với việc ban hành Luật duy trì an ninh năm 1925 (kéo dài đến năm 1945), một số sách không phù hợp với chính sách đối nội và đối ngoại của họ mới bị cấm đoán. Cuốn Tư bản luận của Karl Marx cũng được dịch và xuất bản năm 1919. So với các sách kinh điển khác, việc dịch và phổ biến Tư bản luận có thể nói là khá trễ. Có lẽ có hai lý do giải thích hiện tượng nầy. Một là, nội dung cuốn sách chưa phù hợp với nhu cầu cận đại hoá của Nhật thời Minh Trị. Thời đó giai cấp tư bản chưa thành hình, chưa có sự phân biệt rõ giữa hai giai cấp lao động và tư bản. Thứ hai, trình độ lý luận và khái quát của cuốn sách quá cao, trong nửa sau thế kỷ 19, Nhật chưa có nhiều người có thể dịch chính xác, trong lúc đó nhu cầu dịch những sách khác cao hơn.

    Vài lời kết:

    Điểm lại vài nét về tình hình dịch thuật của Nhật vào nửa sau thế kỷ 19 ta có thể hiểu được nguyên nhân thành công của công cuộc hiện đại hoá, của chiến lược theo kịp phương Tây của họ. Ngày nay ai cũng thấy sự quan trọng của tri thức trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Nhật đã khôn khéo hấp thu tri thức và các tư tưởng tiến bộ của nhân loại qua nỗ lực dịch thuật.

    Tinh thần cầu học và sự nghiêm túc trong dịch thuật của Nhật Bản hơn 100 năm truớc đáng cho ta suy ngẫm.

    Chú: Bài viết tham khảo các tư liệu như Kamei Shunsuke, Kindai Nihon no Honyaku Bunka (Văn hoá dịch thuật thời cận đại Nhật Bản), Chuo Koronsha, 1994; Maruyama Masao va Kato Shuichi, Honyaku to Nihon no Kindai (Dịch thuật và thời cận đại Nhật Bản), Iwanami Shinsho, 1998; Yamaoka Yoichi, Meiji Shoki no Daihonyaku Jidai (Thời đại đại dịch thuật thời sơ kỳ Minh Trị); và kết quả các cuộc trao đổi với các đồng nghiệp ở Đại học Waseda. Tác giả cám ơn các giáo sư Shima Yoshitaka (Sử Nhật Bản), Ikeo Aiko (Kinh tế sử), Ikeda Masayuki (Văn hoá Nhật), Koga Katsujiro (Triết học) và Nakano Tadashi (Kinh tế sử) ở Waseda đã dành thì giờ cho tác giả trong những ngày bận rộn cuối năm (2007). Tác giả cũng cảm ơn các anh Bùi Văn Nam Sơn và Nguyễn Xuân Xanh đã đọc bản sơ thảo và góp nhiều ý kiến hữu ích.

    _____________________________

    Nguồn: ERCT.com

    Bài đã đăng trên Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, số Tết 2008; và in lại trong: Trần Văn Thọ, Việt Nam từ năm 2011: Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian, NXB Tri thức, 2011.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    16 phản hồi

    Trích dẫn:
    Người Nhật dịch sách sai bét nhè vì ngôn ngữ không tương đồng, tự vựng và thuật ngữ còn thiếu thốn (giống như tiếng Việt) mà sao trí thức Nhật không công kích nhau chuyện này nhỉ, để người này tỏ ra thông thái hơn người kia, chê bai người kia là dịch ẩu dịch láo, rồi cũng chẳng ai buồn đọc ... hình như tủ sách tinh hoa hiện nay mỗi đầu sách dịch không in quá 1000 cuốn, với dân số 90 triệu. Dịch để làm gì nhỉ?

    Bạn Tâm Bảo có biết các dịch giả Nhật đối xử với nhau ra sao, khi một vài người dịch sai hay không?

    Họ có nhét cứt vào mồm nhau như dịch giả VN không? Và tại sao họ không ?

    Trích dẫn:
    Chuyện kể rằng Sakamoto Ryoma (1835-1867), một chí sĩ có công trong cuộc vận động thay chế độ tướng quân Mạc Phủ bằng chính quyền Minh Trị, đã nói với người bạn đồng hương lâu ngày mới gặp lại rằng “vũ khí quan trọng của thời đại bây giờ không phải là thanh gươm cây kiếm, cũng không phải là súng ống mà là cái nầy đây” (ông rút trong túi ra đưa cho bạn xem cuốn Vạn quốc công pháp vừa được dịch và phát hành năm 1865).

    Xin mạn phép kể một phiên bản có đoạn tiếp theo như sau:

    "Ba ngày sau Sakamoto Ryoma được mời lên công an phường làm việc, và ít lâu sau ông bị tòa án nhân dân huyện kết án về tội tàng trữ và phát tán tài liệu tuyên truyền nhằm lật đổ chính quyền."

    * * *

    Trở lại vấn đề ảnh hưởng của tư tưởng nước ngoài trong cải cách xã hội, tôi thấy ở Việt Nam có thời các ban dịch thuật cũng làm việc hăng say. Miền bắc thì dịch các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa cộng sản. Còn miền nam thì dịch các tác phẩm văn chương và triết học ăn khách. Trí thức của hai miền cũng đều biên soạn những giáo trình của mọi môn khoa học, đóng góp nhiều trong việc hệ thống hóa thuật ngữ của các ngành học, làm thành một nền tảng quan trọng cho học thuật của các thế hệ sau.

    Tất cả các hoạt động này đều do những động lực thúc đẩy, trong đó ta phải kể đến hai động lực hàng đầu: sự chỉ đạo chính trị và lợi nhuận kinh tế.

    Hiện nay, hai động lực này cũng vẫn còn mang tầm quan trọng hàng đầu. Nhiều nhà tranh đấu cho dân chủ ở ngoài nước và cả ở trong nước vẫn hăng hái dịch các tác phẩm xã hội và chính trị nhằm đả phá chủ nghĩa cộng sản hoặc giới thiệu những hệ tư tưởng mới, còn các nhà xuất bản trong nước thì cho ra đời những cuốn sách theo thị hiếu.

    Nhà cầm quyền trong nước thì đã thôi cung cấp sự chỉ đạo chính trị trong lãnh vực dịch thuật. Do đó, sách về chủ nghĩa cộng sản sẽ không được dịch thêm nữa, bất kể có gì mới mẻ -- mà tôi tin rằng không có.

    Trong bối cảnh tan rã đó của chủ thuyết chính trị chủ đạo, hơn lúc nào hết người Việt Nam cần phải xây dựng lại xã hội từ những khái niệm căn bản. Nếu ở Việt Nam có xã hội dân sự đúng nghĩa, thì việc dịch sách tư tưởng sẽ được tiếp tục dưới sự bảo trợ của các quỹ văn hóa và phát triển.

    Trong khi chúng ta chờ đợi, thì bàn tay vô hình vẫn cung cấp động lực kinh tế cho phần lớn các công trình dịch thuật.

    Thưa ông!

    Người biết dăm ba chữ Thánh hiền đều hiểu một kẻ kiêu ngạo chính là kẻ quá yêu bản thân mình rồi chứ không cần dùng thêm câu "thậm chí yêu bản thân mình quá mức" như ông mới là gồng mình lên chém gió đó.
    Tương tự, ông cho rằng đảng cs chưa hoàn toàn mất hết tính chính danh cũng là không đúng, bởi bản chất của đảng cs là bạo lực thì sự tồn tại của nó chỉ cần đến lực, còn tính chính danh thì có đâu mà mất.. Đến khi đảng hết lực rồi thì nhân dân sẽ cho ông thấy thế nào là sự bất mãn của dân chưa cao, dân mới chỉ chán ghét chứ chưa tới mức căm thù chế độ.. h!

    Tuy nhiên có điều ông nói đúng, hy vọng nó là ý đồ xuyên suốt các ý kiến của ông ở thớt này: "Giải quyết được những vấn đề chính trị sẽ đưa kinh tế tăng trưởng nhanh, người dân sẽ giàu có hơn, giáo dục được đầu tư tốt hơn, từ đó mà văn hóa và dân trí sẽ cao hơn...".
    Tôi khoan nói đến nhà cao mấy tầng, đường xa vạn dặm.., mà hãy nói đến viên gạch và bước chân đầu tiên, nên xin được hỏi ông: Chính trị là gì vậy?

    Cảm ơn!

    Bác Thọ ạ,
    Tất cả những điều đã xảy ra ở Nhật là do chính quyền Nhật và người lãnh đạo quốc gia họ cầu thị và có học. Người lãnh đạo phải có học và cầu thị mới dẫn dắt người dân làm giàu bằng trí thức và sự học hỏi.
    Còn VN ta bây giờ người lãnh đạo họ đang tầm thường hóa trí thức và các học giả. Cứ nhìn cái cách họ mở hàng trăm trường đại học trong một thời gian rất ngắn, không cần có cơ sở vật chất và giáo viên, cách chính phủ hiện hành họ bổ nhiệm đội ngũ GS, PGS, TS toàn học rởm còn chủ yếu chạy bằng đồng USD, thì làm sao mà xã hội có thể phát triển bằng trí thức được.

    Để có xã hội học tập phải có người lãnh đạo có học, học thật và học giỏi từ lúc còn ở nhà trường và khi chưa có chức có quyền. TT của ta hiện nay là người có khả năng nhưng đáng tiếc là không có điều kiện học tập từ nhỏ nên trở thành vô học và mất cơ bản. KHi kô có học con người cũng trở nên dễ bị cái cám dỗ tầm thường nó làm chệch hướng và dễ bị cấp dưới lòe bịp và do vậy làm sao mà chèo lái xã hội trong một nền kinh tế trong môi trường đa dạng và phức tạp như hiện nay.

    efacx: "Sự sỉ vả của tôi chưa thấm gì so với thói thủ dâm đại trà của dân tộc, cần sỉ vả hơn nữa".

    Thật ra có những kẻ nhân danh đại trà để thủ dâm, đại loại như bà phó Doan: (nền) dân chủ của chúng ta gấp vạn lần nền dân chủ các nước tư bản, (chỉ số) hạnh phúc của VN đứng thứ hai thế giới.

    Thì ra, chúng nó thủ dâm mà ta không "sướng", vẫn đói khổ, lầm than và xem ra (chúng nó) thủ dâm còn dài và ta sẽ đau khổ còn lâu !

    nguyễn tâm bảo viết:
    Theo tôi thì kinh tế-chính trị và văn hóa-dân trí có quan hệ tương hỗ với nhau (positive feedback), nhưng kinh tế-chính trị vẫn là nguyên nhân, còn văn hóa-dân trí là hệ quả.

    Mặc dầu tôi cho rằng văn hóa-dân trí bị ảnh hưởng lớn bởi kinh tế-chính trị, nhưng chiều ngược lại cũng không thể xem thường. Tôi sẽ nêu một số ví dụ như vậy, trong lúc phản bác lại bạn.

    Trích dẫn:
    Kinh tế phát triển thì mới có điều kiện để đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, tiếp cận nhiều thông tin hơn, có nhiều thời gian để "tu thân" hơn, nhờ đó mà dân trí cao hơn, vốn con người (human capital) được tích lũy nhiều hơn, tác động ngược lại làm giúp kinh tế phát triển bền vững hơn, dẫn đến mà giáo dục tốt hơn, v.v.

    Tôi coi rằng dân trí vẫn có thể phát triển sớm ở một mức nào đó mà không đợi kinh tế. Giải thích như sau:

    Tôi coi rằng giáo dục là làm cho 1 con người, hoặc một nhóm người / thế hệ tin vào một điều gì đó. Niềm tin này có thể là tin rằng kiến thức X phản ánh "đúng nhất" về tự nhiên tại thời điểm hiện tại, hoặc tin rằng hành động theo thói quen Y là tốt nhất cho nhân loại.

    Niềm tin này cũng có thể là: "Tin rằng Đảng cộng sản giúp dân tộc VN thoát khỏi xiềng xích tiến lên một tương lai tươi sáng" là điều mà DCSVN đã làm (giáo dục - tẩy não nhân dân) ở mức tuyệt vời, mặc dù kinh tế VN từ 45 tới nay kém cỏi như thế nào thì ta khỏi bàn.

    Như vậy, để giáo dục cho nhân dân tin vào một điều gì đó, có thể không cần đợi đến khi kinh tế phát triển. Ngay ngày mai, 700 tờ báo có thể đăng loạt bài nói về sự kém cỏi về mọi mặt của con người VN (thể chất, trí tuệ, văn hóa, thói quen) và sự kém cỏi về mọi mặt của đất nước VN (tham nhũng, cơ sở hạ tầng kém, kiến trúc thượng tầng lệch lạc, ...). Đảm bảo chỉ sau 1 tháng thôi, mọi người VN sẽ có nhận thức đúng hơn về vị trí của dân tộc và đất nước VN. Nếu bạn hỏi: "nhận thức đúng về tình trạng bi đát có giúp ích gì không", thì xin xem đoạn cuối của bài này của tôi, ở phần " số thiếu niên đỗ tốt nghiệp tăng lên 11%".

    Trích dẫn:
    Đổ lỗi cho dân trí-văn hóa thấp là cách đổ lỗi cho nạn nhân về tai nạn của họ (blaming the victim).

    Sự đổ lỗi này không quá vô lý, bởi
    - Nếu tai nạn là thiên tai, ta có thể đổ lỗi cho nạn nhân (chính là dân tộc) không biết đo đạc thu thập dữ liệu trong quá khứ đề dự đoán tương lai
    - Nếu tai nạn không là thiên tai, ví dụ tai nạn giao thông: có thể đổ lỗi cho nạn nhân không dừng chờ đèn đỏ, phóng quá nhanh, không đội mũ bảo hiểm, không buộc con trẻ cẩn thận trong ô tô hoặc trên xe máy, không bảo dưỡng phanh, uống rượu trứoc khi lái ...

    Trích dẫn:
    Ý định của bác là chính đáng. Nhưng giả sử bác bắt gặp con trai bác đang thủ dâm thì bác làm thế nào? Sỉ vả lăng mạ nó vì kém cỏi đến nỗi không có bạn gái? Nguyền rủa nó là ngu đần chỉ biết "tự sướng" chứ không lo chăm chỉ "tư duy và hành động" để mai này "giàu có và thịnh vượng hơn" rồi sẽ có người khác phục vụ thỏa mãn cái sướng?

    "Thủ dâm tinh thần" ở mức độ vừa phải cũng đâu có hại gì? Còn có lợi là giúp cân bằng tâm lý và đảm bảo sức khỏe tinh thần.

    Có lẽ hay hơn cả là tìm những cách hợp lý hơn để giúp con trai bác có hiểu biết và thái độ đúng đắn về vấn đề mà nó đang rất "confused", trao đổi với nó trên tinh thần tôn trọng nhân phẩm và sự độc lập của nó, nhưng vẫn giữ được uy quyền của một người cha từng trải hơn để hướng dẫn nó trưởng thành, vượt qua giai đoạn vị thành niên để trở thành một người đàn ông chân chính.

    Xin lỗi rằng đoạn sau tôi viết hơi dài.

    Ví dụ của bác chưa gần thực tế, bởi con tôi chỉ có mỗi tôi là bố, là người giáo dục chính cho nó. Bác nên so sánh tôi với ví dụ khác, như sau:

    trong một phường X có một thế hệ người lớn bao gồm tôi, và một thế hệ thiếu niên. 90% các người lớn khuyến khích trẻ thủ dâm một cách dễ dàng, ví dụ:
    - Một đứa trẻ buồn vì bị thi rớt kì thi toàn thành phố. Người cha nó nói: "ôi dào, tại đầu óc bí bách quá đấy mà, tối nay masturbate với cuốn video này, mai thỏa mãn ta sẽ học lại và thi lại"
    - Một đứa trẻ thua trong cuộc thi chạy toàn quận. Người hàng xóm nói: "cậu vốn không hề kém ai, có điều cậu chưa trưởng thành về cơ thể, thủ dâm đều hàng ngày sẽ giúp cậu rút ngắn quá trình trưởng thành".
    - Đứa trẻ khác buồn vì bị mắng là 19 tuổi mà vẫn còn ăn bám bố mẹ trong khi trẻ phường khác tự lập ở tuổi 18. Anh nó nói: "Có gì mà buồn, tao cũng vẫn chưa tự lập mà có sao đâu. Ai bảo ông bà đó đẻ ra anh em mình. Tư duy tiêu cực kiểu ba mẹ mình không tốt, thôi anh cho cậu mượn cái xxx giả để tự sướng, sau đó tính sau".
    - Còn lại đại đa số thiếu niên tới tuổi dậy thì đều thèm khát tò mò về giới tính. Cha mẹ và thầy cô phường X đều khuyến khích họ tự thỏa mãn vài lần một ngày, khiến họ nghĩ rằng thủ dâm là cách duy nhất để cân bằng giới tính, không cần hoạt động tình dục để sinh đẻ.

    Tôi nằm trong số 5% thấy thủ dâm đại trà và thường xuyên như thế là không ổn. Tôi nói với vài người lớn, họ gạt đi: "ôi dào nhiễu chuyện, lý do mà ở phường ta thiếu niên nó yếu kém và đại đa số chúng ta nghèo là vì chiến tranh, và vì thằng chủ tịch phường nó ngu. Chứ nói thẳng ra bọn thiếu niên đó và chúng ta nữa đều không kém ai".


    Nói với một hai ba, mười, hai mươi người không được, tôi mới trưng cái biển ở ủy ban phường: "chỉ có lũ người hạ đẳng mới dùng thủ dâm để giải quyết mọi buồn phiền, thực ra anh thi rớt vì lười học và vì bố mẹ anh kém thông minh, anh chạy thua vì không biết phương pháp và ít tập luyện hoặc vì chân kém dài, anh đam mê về giới tính vì anh đến tuổi trưởng thành và cần nhiều hoạt động khác để cân bằng bao gồm cả việc lấy vợ".


    Đám đông kéo tới ủy ban, đa phần chửi bới tôi, nhưng có vài kẻ lặng lẽ về suy nghĩ:
    - "Ta rớt thi trong khi dòng họ ta thi cử ngon lành, lỗi đâu phải do ta kém thông minh mà do lười", hoặc "dòng họ ta không thông minh lắm, nên ta phải chăm chỉ gấp đôi thì mới hi vọng thi đậu được".
    - "Ta chạy thua đâu phải do chân ta kém dài mà do luyện tập sai phương pháp"
    - "Ta thủ dâm quá nhiều mặc dù cơ thể không đòi hỏi nhiều như vậy".


    Không rõ có bao nhiêu người "nhận thức đúng về tính trạng bi đát", nhưng sau 1 năm từ khi trưng biển, số thiếu niên đỗ tốt nghiệp tăng lên 11%. Có vài thanh niên chạy marathon nằm trong top 10% đầu. Khá nhiều thanh niên chọn chơi thể thao thay vì ở nhà masturbate.

    Để kết thúc đoạn dài này, với câu hỏi: "Nếu tôi bắt gặp con tôi thủ dâm thì sao", câu trả lời như sau: Vợ tôi không hề khuyến khích con tôi thủ dâm toàn diện, nên tôi không cần sỉ vả mà vẫn có cách đưa con về con đường sáng.

    Trích dẫn:
    Người Việt, như một tập thể, vẫn còn ở tình trạng vị thành niên.

    Tại sao vẫn vị thành niên thế ?

    Tôi nhìn đám đông trong nước bị DCS nhồi sọ, tin rằng ta nghèo vì chiến tranh, bọn nào chỉ trích nhà nước là bọn phản động đáng bị khinh bỉ. Tôi lại nhìn đám đông hải ngoại nhao nhao chửi DCS, tin rằng dân tộc ta không kém dân tộc nào mà nghèo nàn chỉ là do DCS.

    Cả hai đám đông này cũng như hai đám trẻ. Tôi không loại trừ mấy ông Trung Hoa và Hoa Kì kích động cả 2 đám này, nhằm tạo những con rối không biết suy nghĩ để dễ điều khiển.

    Lúc đó, nhóm 5% người-Việt-Nam-không-quen-thủ-dâm có nên trưng biển ở ủy ban phường đánh thẳng vào não bộ người Việt hay không ?

    efacx viết:
    Tôi muốn quay lại chủ đề chính của bài này, về phong trào dịch sách Tây của người Nhật. Xin lỗi toàn thể danluan vì đã sa đà tranh luận ngoài chủ đề.

    Trái với tâm thế nô lệ của người VN, vốn được cầm tay chỉ việc bởi các dân tộc tiên tiến nhất thế giới mà vẫn không chịu học kiến thức của họ, người Nhật theo bài này chủ động dịch sách Tây để đuổi kịp Tây.

    Tại sao vậy? Liệu có phải vì họ, bởi xa cách địa lý với Trung Hoa, mà cho tới thế kỷ 19 mới lần đầu tiên trong lịch sử bị "đô hộ, chiếm đóng" bởi một lực lượng mạnh hơn (là Mỹ và phương Tây). Lòng tự tôn khiến họ mong muốn mau chóng ngang hàng với những kẻ đến xâm chiếm, và tìm cách học hỏi bằng được ?

    Còn chúng ta liệu có phải vì bị người Tàu hiếp dâm nhiều nghìn năm, nên đã mất đi lòng tự tôn, khiến cho ta buông xuôi: "Ôi dào, cố gắng cũng chả đem lại cái gì".

    Nhiều người theo quán tính hay trách vua quan nhà Nguyễn không biết mở cửa như Minh Trị Thiên Hoàng để "Tây hóa" đất nước. Có phải như vậy không?

    Mãi đến đầu thế kỷ 19 Nguyễn Ánh mới thống nhất được đất nước, kinh tế và chính trị chưa kịp ổn định, còn phải lo đánh dẹp những cuộc nổi loạn của cựu thần nhà Lê, cựu thần nhà Tây Sơn, cũng như những cuộc nổi dậy của nông dân, thì đã bị thực dân Pháp nhòm ngó rồi đô hộ...

    Nhà Nguyễn cũng mới bắt đầu chú trọng đến giáo dục, nhưng chưa kịp "phổ cập giáo dục" mà mới chỉ mở được vài khóa thi chọn người ra làm quan. Số người biết đọc, biết viết ít hơn 5% dân số. Vậy làm sao có thể hiện đại hóa được?

    Nhật Bản thì khác. Thời kỳ Edo thanh bình kéo dài 200 năm. Nền giáo dục Nhật Bản đã được "phổ cập", các trường học công và tư mở ra khắp nơi, mặc dù giáo dục chủ đạo vẫn là Nho Giáo (được cải biến theo tinh thần Nhật Bản), nhưng nhờ vậy mà tinh thần ham học và trọng sự học đã được mở rộng không chỉ trong giai cấp Samurai-quí tộc mà còn lan ra cả xã hội nữa.

    Chính nền giáo dục khá phát triển của thời kỳ Edo là nền tảng để người Nhật tiếp thu khoa học và triết học phương Tây thời Minh Trị. Việc "giật mình tỉnh thức" của họ trước sức mạnh quân sự và khoa học-kỹ thuật của phương Tây là động lực tinh thần để họ đoàn kết lại trong nỗ lực hiện đại hóa đất nước.

    Khởi xướng phong trào Minh Trị là những Samurai trẻ, những người có tư tưởng cái cách, và sau khi đánh bại những Samurai bảo thủ, lật đổ chế độ Shogun, họ đã thành lập chính quyền Minh Trị - một chính quyền độc tài nhưng anh minh và có tinh thần cải cách. Họ tôn Minh Trị Thiên Hoàng thành biểu tượng để "đoàn kết dân tộc", và đặt ra một mục tiêu duy nhất để cả nước phấn đấu: hiện đại hóa đất nước và đuổi kịp phương Tây về kinh tế, chính trị, và quân sự.

    Họ đã đạt được mục tiêu này trong vòng vài thập kỷ, một thế hệ, là nhờ có Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa.

    Chúng ta thì hiện đang thiếu cả ba yếu tố này.

    Thiếu Thiên thời. Đảng cộng sản chưa hoàn toàn mất hết tính chính danh. Sự bất mãn của dân chúng chưa cao. Người dân mới chỉ chán ghét chứ chưa đến mức căm thù chế độ, do đó chưa thể xảy một cuộc cách mạng lật đổ chế độ. Ngoài ra đảng cộng sản khá thành công trong việc tự thay đổi để thích nghi mà tồn tại, nên hầu như không có khả năng xuất hiện một nhóm những người cấp tiến nắm được quyền lực chính trị để mà thực hiện những cải cách mạnh mẽ.

    Thiếu Địa lợi. Việc nằm sát nách Trung Quốc và nằm trong khối Asean gồm những nước chậm tiến cũng là một khó khăn để Việt Nam có thể tìm cách bứt phá nhanh chóng trong việc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế, trừ khi có một chính quyền anh minh tài giỏi - một điều khó khăn trong tình thế thiếu Thiên thời hiện nay.

    Thiếu Nhân hòa. Chiến tranh liên miên cùng với một thời gian dài đói khổ đã để lại dấu ấn mạnh trong tâm thế người Việt, thực dụng hơn, ích kỷ hơn, thiếu tinh thần xã hội mà thừa tinh thần cá nhân. Phải có thời gian thì những vết thương tâm lý của người Việt mới lành, đạo đức và tinh thần xã hội mới hồi sinh, người Việt mới ý thức được nhu cầu phát triển đất nước chứ không chỉ là khát vọng làm giàu cho bản thân và gia đình. Có lẽ phải mất thêm một thế hệ nữa.

    Tôi muốn quay lại chủ đề chính của bài này, về phong trào dịch sách Tây của người Nhật. Xin lỗi toàn thể danluan vì đã sa đà tranh luận ngoài chủ đề.

    Trái với tâm thế nô lệ của người VN, vốn được cầm tay chỉ việc bởi các dân tộc tiên tiến nhất thế giới mà vẫn không chịu học kiến thức của họ, người Nhật theo bài này chủ động dịch sách Tây để đuổi kịp Tây.

    Tại sao vậy? Liệu có phải vì họ, bởi xa cách địa lý với Trung Hoa, mà cho tới thế kỷ 19 mới lần đầu tiên trong lịch sử bị "đô hộ, chiếm đóng" bởi một lực lượng mạnh hơn (là Mỹ và phương Tây). Lòng tự tôn khiến họ mong muốn mau chóng ngang hàng với những kẻ đến xâm chiếm, và tìm cách học hỏi bằng được ?

    Còn chúng ta liệu có phải vì bị người Tàu hiếp dâm nhiều nghìn năm, nên đã mất đi lòng tự tôn, khiến cho ta buông xuôi: "Ôi dào, cố gắng cũng chả đem lại cái gì".

    efacx viết:
    Tuy nhiên, khi nhìn vào mối quan hệ giữa sự kém cỏi của văn hóa người dân và sự kém cỏi của kinh tế-chính trị, bạn lại coi rằng vế sau quyết định vế trước, và có vẻ như muốn phủ nhận rằng vế trước cũng quyết định vế sau.

    Tôi không phủ nhận rằng socioeconomics ảnh hưởng lên culture/habit của người dân, nhưng điều ngược lại cũng đúng.

    Theo tôi thì kinh tế-chính trị và văn hóa-dân trí có quan hệ tương hỗ với nhau (positive feedback), nhưng kinh tế-chính trị vẫn là nguyên nhân, còn văn hóa-dân trí là hệ quả.

    Kinh tế phát triển thì mới có điều kiện để đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, tiếp cận nhiều thông tin hơn, có nhiều thời gian để "tu thân" hơn, nhờ đó mà dân trí cao hơn, vốn con người (human capital) được tích lũy nhiều hơn, tác động ngược lại làm giúp kinh tế phát triển bền vững hơn, dẫn đến mà giáo dục tốt hơn, v.v.

    Đổ lỗi cho dân trí-văn hóa thấp là cách đổ lỗi cho nạn nhân về tai nạn của họ (blaming the victim).

    efacx viết:
    Sự sỉ vả dân tộc của tôi chỉ mong làm dân tộc bớt thủ dâm đi, và nhận ra rằng với tư chất kém thì chúng ta phải chăm chỉ (tư duy và hành động). Chính sự sỉ vả của tôi sẽ giúp tạo nên một ý thức lành mạnh.

    Ý định của bác là chính đáng. Nhưng giả sử bác bắt gặp con trai bác đang thủ dâm thì bác làm thế nào? Sỉ vả lăng mạ nó vì kém cỏi đến nỗi không có bạn gái? Nguyền rủa nó là ngu đần chỉ biết "tự sướng" chứ không lo chăm chỉ "tư duy và hành động" để mai này "giàu có và thịnh vượng hơn" rồi sẽ có người khác phục vụ thỏa mãn cái sướng?

    "Thủ dâm tinh thần" ở mức độ vừa phải cũng đâu có hại gì? Còn có lợi là giúp cân bằng tâm lý và đảm bảo sức khỏe tinh thần.

    Có lẽ hay hơn cả là tìm những cách hợp lý hơn để giúp con trai bác có hiểu biết và thái độ đúng đắn về vấn đề mà nó đang rất "confused", trao đổi với nó trên tinh thần tôn trọng nhân phẩm và sự độc lập của nó, nhưng vẫn giữ được uy quyền của một người cha từng trải hơn để hướng dẫn nó trưởng thành, vượt qua giai đoạn vị thành niên để trở thành một người đàn ông chân chính.

    Người Việt, như một tập thể, vẫn còn ở tình trạng vị thành niên.

    Bạn Tâm Bảo tỏ ra là người hiểu biết khi phân tích về inferiority complex.

    Tuy nhiên, khi nhìn vào mối quan hệ giữa sự kém cỏi của văn hóa người dân và sự kém cỏi của kinh tế-chính trị, bạn lại coi rằng vế sau quyết định vế trước, và có vẻ như muốn phủ nhận rằng vế trước cũng quyết định vế sau.

    Tôi không phủ nhận rằng socioeconomics ảnh hưởng lên culture/habit của người dân, nhưng điều ngược lại cũng đúng.

    Sự sỉ vả dân tộc của tôi chỉ mong làm dân tộc bớt thủ dâm đi, và nhận ra rằng với tư chất kém thì chúng ta phải chăm chỉ (tư duy và hành động). Chính sự sỉ vả của tôi sẽ giúp tạo nên một ý thức lành mạnh. Ý thức đó có thể ảnh hưởng lớn tới vật chất thông qua các ví dụ sau:
    - Biết mình yếu thì nên tập thể thao, sẽ giúp tăng năng suất lao động
    - Biết mình dốt thì nên đọc nhiều thông tin bổ ích sẽ giúp có thông tin, cũng dẫn tới tăng năng suất lao động.
    - Biết mình có thể trạng yếu lùn thì chú ý đọc thông tin về chăm sóc con trẻ để thế hệ sau tăng thể trạng.
    - Biết mình ngu thì đừng ham đẻ nhiều tạo gánh nặng cho xã hội.

    Sự sỉ vả của tôi chưa thấm gì so với thói thủ dâm đại trà của dân tộc, cần sỉ vả hơn nữa.

    efacx viết:
    Rất mong bạn Bảo viết thêm một chút về phương pháp giúp chúng ta bớt tự ti mặc cảm khổ dâm của nhóm cỡ khoảng 5% người gốc Việt, nhưng lại tránh được sự thủ dâm quá độ của cỡ 90% người gốc Việt khác.

    Tự tôn thực ra là một biểu hiện khác của phức cảm tự ti khi người ta gồng mình lên "chém gió" để che giấu, một cách vô thức, cảm giác bất an và bất lực.

    Với một kẻ ngu dốt mà không biết mình dốt, thì phức cảm tự ti biến họ thành một kẻ kiêu ngạo, hợm hĩnh, thậm chí yêu bản thân quá mức và luôn đổ hết lỗi lầm thất bại của bản thân lên ngoại cảnh.

    Với một người hiểu biết, ý thức được sự kém cỏi của mình và của dân tộc mình, thì bị phức cảm tự ti dày vò, làm cho họ trở nên thất vọng và tức giận với bản thân, bên ngoài thì khiêm nhường một cách thái quá, và luôn đổ lỗi cho chính mình, tự sỉ vả mình vì những khiếm khuyết của bản thân, của dân tộc... đặc biệt là hay so sánh mình với người khác, so sánh dân tộc mình với dân tộc khác, nhưng sự so sánh đó không có thái độ tích cực như động lực để vươn lên mà chỉ là cách để tiếp tục nuôi dưỡng phức cảm tự ti...

    Thế nên cả những người mắc chứng "khổ dâm tinh thần" hay những người thích "thủ dâm tinh thần" thì đều có chung nguyên nhân là bị phức cảm tự ti chi phối.

    Phê phán những khiếm khuyết trong văn hóa của người Việt là cần thiết, nhưng ở mức độ đúng mực, và phải giữ được thái độ tích cực trong tinh thần xây dựng. Không có phê phán sẽ không có thay đổi. Nhưng phê phán quá đà sẽ dẫn đến một sự nghiện ngập như một khoái lạc thích nói xấu bản thân và nói xấu dân tộc.

    Hơn nữa sự thấp kém của văn hóa cũng như sự thiếu hụt của tri thức là hệ quả của tình trạng xã hội kém phát triển về kinh tế và chính trị, chứng không phải nguyên nhân gây ra việc nghèo đói và lạc hậu.

    Giải quyết được những vấn đề chính trị sẽ đưa kinh tế tăng trưởng nhanh, người dân sẽ giàu có hơn, giáo dục được đầu tư tốt hơn, từ đó mà văn hóa và dân trí sẽ cao hơn...

    Dân trí thấp chỉ là một tình trạng tạm thời, có thể thay đổi dễ dàng nhờ giáo dục; văn hóa thấp chỉ là tình trạng tạm thời có thể thay đổi dễ dàng khi kinh tế đã phát triển, đời sống vật chất tương đối đầy đủ, và nhu cầu thứ cấp về tinh thần trở nên thôi thúc... Việc người Việt hiện nay có văn hóa chưa cao, có dân trí còn thấp, thì không phải là "bản chất tự nhiên" của người Việt, không có gì đáng bi quan.

    Chửi, chửi nữa, miệng loa không phút nghỉ viết:
    Có nhiều kẻ đàn ông lập gia đình, dĩ nhiên vợ con thế nào cũng có những khuyết điểm và không được như ý của mình. Thế là suốt ngày mắng chửi, nguyền rủa, có khi còn đánh đập cho hả (thay vì tìm cách giáo dục mọi người trong gia đình kể cả bản thân người chồng). Có hạnh phúc, tiến bộ cho gia đình ấy không nhỉ?

    efacx còn độc thân hay đang/sẽ có gia đình?

    Ví dụ của bạn nên nói rõ rằng:
    - Gia đình này có 90 triệu, 86 triệu sống trong lòng VN, 4 triệu ngoại quốc.
    - Trong 90 triệu này có 81 triệu (90%) ngày ngày thủ dâm, kêu gào "người VN không kém ai", "người VN thông minh", "nước ta nghèo vì Đảng ta ngu, chứ nếu ở chế độ khác thì ngon lành kém nước nào đâu"
    - Chủ gia đình này không phải là tôi, mà là các nhóm lợi ích trong và ngoài nước. Nhóm nào cũng ra các tờ báo phổ biến phương pháp thủ dâm. Nhóm trong nước còn cấm người nào không thủ dâm hàng ngày.
    - Tôi không đánh đập được ai.

    Trong bối cảnh đó, tôi vẫn thường tìm cách vạch ra sự ngu dốt của dân tộc mình. Tôi đôi lúc bất lực chửi đổng, khi thấy đám đông ít chịu bỏ tay ra khỏi quần để tập suy nghĩ.

    Đặc biệt trong đám đông rất phổ biến suy nghĩ: "chửi bới tiêu cực không được ích lợi gì, tốt nhất là động viên nhau vượt qua khó khăn, cùng nhìn về phía trước. À mà khó khăn nào nhỉ, tại sao lại có khó khăn, sao các dân tộc khác không bị khó khăn như thế, nhìn về phía trước là nhìn kiểu gì. Chịu, bọn tôi không trả lời được, ai muốn hỏi nên đi hỏi người Tây Tàu Nga Do Thái, chứ người VN chúng tôi không quen suy nghĩ".

    Trong đám đông đó có kẻ còn nói đổng lên như sau: "Có nhiều kẻ đàn ông lập gia đình, dĩ nhiên vợ con thế nào cũng có những khuyết điểm và không được như ý của mình. Thế là suốt ngày mắng chửi, nguyền rủa, có khi còn đánh đập cho hả (thay vì tìm cách giáo dục mọi người trong gia đình kể cả bản thân người chồng). Có hạnh phúc, tiến bộ cho gia đình ấy không nhỉ?"

    Cảm ơn bạn đã giúp tôi nêu thực trạng tư duy của dân tộc.

    nguyễn tâm bảo viết:
    ...
    Vì thế mà tôi vẫn cho rằng người Việt, nhất là giới trí thức có học, cần phải vượt qua được cái tâm lý mặc cảm tự ti thì mới có thể bình thản mà ung dung tiếp nhận tri thức của nhân loại, không cần phải tủi hổ về việc thiếu hụt tri thức và tư tưởng của tiền nhân, không cần phải tự lăng mạ mình về những khuyết tật di truyền.

    Không ít lần tôi gặp các nhà khoa học Việt Nam ở các hội nghị quốc tế, ở nhà thì hét ra lửa làm sinh viên sợ chết khiếp, nhưng trước các đồng nghiệp phương Tây khi cứ rụt rà rụt rè khép nép; có lẽ vì mặc cảm là kém tiếng Anh. Nhưng nói tiếng Anh không chuẩn thì đã sao? Viết tiếng Anh sai ngữ pháp thì đã sao? Việc gì phải tự ti khi mình phải sử dụng ngôn ngữ của người khác? Miễn làm sao diễn tả ý của mình cho người ta hiểu là được rồi, vì quan trọng nhất là ý tưởng, còn việc nói cho chuẩn, viết cho đúng ngữ pháp, thì cũng quan trọng nhưng là thứ hai, từ từ rồi sẽ khá thôi.

    Cái mà chúng ta cần phải gieo vào lòng thế hệ trẻ là Niềm Tự Tin và Dũng Khí, chứ không phải là cái "khoái cảm khổ dâm" của việc tự nói xấu dân tộc, nói xấu tiền nhân, để rồi chìm ngập trong mặc cảm tự ti, hoặc là bộc phát sự tự tôn quá mức. Tự phê phán cũng cần có mức độ nhất định, không cần phải "tổ quốc ăn năn" hay say sưa đọc/viết về "người Việt xấu xí" làm gì cho khổ thân.

    Các bác phải đi vào thực tế cụ thể hơn nữa để giải quyết vấn đề. Nếu chỉ trình bày hiện tượng và nhận xét thì OK nhưng chưa đủ

    "cái tâm lý mặc cảm tự ti" nó từ đâu ra và làm sao giải quyết nó thì không thấy các bác bàn đến cụ thể !
    Không hiểu đó có phải là "cá tính" theo mô hình tâm lý DISC hay không ? Nó có thể thay đổi phần lớn chứ không hoàn toàn, qua sự rèn luyện, cọ xát, giáo dục, ...

    Các bác nên bàn về làm thế nào để rèn luyện, cọ xát trong môi trường độc đảng VN. Như vậy có ích hơn vì nó đem lại kết quả

    efacx viết:
    Tôi là người hay sỉ vả dân tộc mình, nhưng tôi đọc bạn Nguyễn Tâm Bảo với sự thưởng thức.

    Bài viết này của bạn Bảo khá khác biệt khi so với đa số các ý kiến cá nhân trong quá trình bàn luận về sự ngu dốt của dân tộc ta. Từng paragraph đều mang câu cú hoặc ý tứ mới. Tôi rất thưởng thức.

    Rất mong bạn Bảo viết thêm một chút về phương pháp giúp chúng ta bớt tự ti mặc cảm khổ dâm của nhóm cỡ khoảng 5% người gốc Việt, nhưng lại tránh được sự thủ dâm quá độ của cỡ 90% người gốc Việt khác.

    Có nhiều kẻ đàn ông lập gia đình, dĩ nhiên vợ con thế nào cũng có những khuyết điểm và không được như ý của mình. Thế là suốt ngày mắng chửi, nguyền rủa, có khi còn đánh đập cho hả (thay vì tìm cách giáo dục mọi người trong gia đình kể cả bản thân người chồng). Có hạnh phúc, tiến bộ cho gia đình ấy không nhỉ?

    efacx còn độc thân hay đang/sẽ có gia đình?

    Tôi là người hay sỉ vả dân tộc mình, nhưng tôi đọc bạn Nguyễn Tâm Bảo với sự thưởng thức.

    Bài viết này của bạn Bảo khá khác biệt khi so với đa số các ý kiến cá nhân trong quá trình bàn luận về sự ngu dốt của dân tộc ta. Từng paragraph đều mang câu cú hoặc ý tứ mới. Tôi rất thưởng thức.

    Rất mong bạn Bảo viết thêm một chút về phương pháp giúp chúng ta bớt tự ti mặc cảm khổ dâm của nhóm cỡ khoảng 5% người gốc Việt, nhưng lại tránh được sự thủ dâm quá độ của cỡ 90% người gốc Việt khác.

    Người Nhật thời đó chỉ chăm chỉ học văn minh phương Tây nhưng kém người Việt ở chỗ không biết nguyền rủa bản thân và đổ lỗi cho tổ tiên họ.

    Chả thấy họ viết về "người Nhật xấu xí". Chả thấy họ nguyền rủa tổ tiên đã chẳng chịu sáng tạo ra trường phái tư tưởng mà cứ bê nguyên xi Đạo Khổng với Đạo Thiền từ Trung Hoa Về, rồi lại On Liberty với lại Rule of Law từ phương Tây về, không chịu nguyền rủa xỉ vả truyền thống mà đã vội học theo phương Tây như cách người Việt đã và đang làm.

    Chả thấy họ tích cực miệt thị Khổng Tử mà cứ bảo thủ khư khư giữ những điều Đạo Khổng dạy họ, nào là Trung với Minh Trị Thiên Hoàng, nào là vẫn cứ bắt phụ nữ phải có Tứ Đức, nào là chẳng chịu xổ toẹt chữ Lễ, ra đường thấy ai cũng cúi đầu lễ phép, nào là chẳng chịu vứt đi chữ Dũng, bắt cả trẻ con rèn luyện võ thuật và thư pháp chứ không để chúng được lêu lổng vui chơi để phát triển tinh thần "tự do"...

    Còn nữa, những năm đầu mở cửa khi trí thức Việt Nam sang Nhật trở về, ai ai cũng hãnh diện mang theo những đồ second-hand để cải thiện đời sống gia đình, từ cái xe đạp mini đến những đồ điện tử đã qua sử dụng, có ai rỗi hơi mà mang theo sách về dịch?

    Người Nhật dịch sách sai bét nhè vì ngôn ngữ không tương đồng, tự vựng và thuật ngữ còn thiếu thốn (giống như tiếng Việt) mà sao trí thức Nhật không công kích nhau chuyện này nhỉ, để người này tỏ ra thông thái hơn người kia, chê bai người kia là dịch ẩu dịch láo, rồi cũng chẳng ai buồn đọc ... hình như tủ sách tinh hoa hiện nay mỗi đầu sách dịch không in quá 1000 cuốn, với dân số 90 triệu. Dịch để làm gì nhỉ?

    Thực tế thì cũng không nên dịch. Thời đại toàn cầu hóa bây giờ đâu còn như trước thời Minh Trị nữa. Bây giờ nên khuyến khích phổ biến tiếng Anh, để những người có học có thể tự đọc sách tiếng Anh. Còn nếu cuốn sách nào hay muốn truyền bá cho người Việt thì chỉ cần "phỏng dịch" những ý chính, vừa đỡ mất thời gian, vừa dễ phổ biến hơn.

    Người Việt chưa có tinh thần ham học vì chưa được sống một thời kỳ thanh bình đủ dài để việc học trở thành một nhu cầu thứ cấp quan trọng.

    Người Việt không có văn hóa tôn trọng sự học, tôn trọng người có học, mà chỉ trọng người kiếm ra tiền; nhà ai cũng thờ thần tài vác bao tiền to tướng chứ mấy ai thờ sách?

    Đó cũng vì chiến tranh loạn lạc liên miên trong mấy thế kỷ liền, tạo ra cái tâm lý bất an, chỉ biết sống cho hôm nay chứ không biết ngày mai ra sao, nên con người chỉ chú trọng đến phần bản năng, thỏa mãn tứ khoái, chứ không quan tâm đến những thứ xa xỉ hơn như đời sống tinh thần, tri thức, văn hóa.

    Nếu nước Nhật không có hai trăm năm thanh bình thời kỳ Edo, thì chưa chắc đã hình thành tầng lớp Samurai-trí thức-quí tộc biết đam mê sự học và nuôi khát vọng cải biến xã hội, chưa chắc đã có thể chuyển sang thời Minh Trị được.

    Thấm nhuần Đạo Khổng và Đạo Thiền, người Nhật, đặc biệt là giới Samurai-trí thức, có một nội tâm mạnh mẽ đầy tự tin chứ không mang cái phức cảm tự ti truyền kiếp như người Việt. Do đó khi tiếp xúc với văn minh phương Tây họ mặc dù choáng ngợp mà vẫn không bị tự ti tự kỷ, khiêm tốn và thành tâm học hỏi nhưng vẫn đầy niềm tin vào bản thân.

    Vì thế mà tôi vẫn cho rằng người Việt, nhất là giới trí thức có học, cần phải vượt qua được cái tâm lý mặc cảm tự ti thì mới có thể bình thản mà ung dung tiếp nhận tri thức của nhân loại, không cần phải tủi hổ về việc thiếu hụt tri thức và tư tưởng của tiền nhân, không cần phải tự lăng mạ mình về những khuyết tật di truyền.

    Không ít lần tôi gặp các nhà khoa học Việt Nam ở các hội nghị quốc tế, ở nhà thì hét ra lửa làm sinh viên sợ chết khiếp, nhưng trước các đồng nghiệp phương Tây khi cứ rụt rà rụt rè khép nép; có lẽ vì mặc cảm là kém tiếng Anh. Nhưng nói tiếng Anh không chuẩn thì đã sao? Viết tiếng Anh sai ngữ pháp thì đã sao? Việc gì phải tự ti khi mình phải sử dụng ngôn ngữ của người khác? Miễn làm sao diễn tả ý của mình cho người ta hiểu là được rồi, vì quan trọng nhất là ý tưởng, còn việc nói cho chuẩn, viết cho đúng ngữ pháp, thì cũng quan trọng nhưng là thứ hai, từ từ rồi sẽ khá thôi.

    Cái mà chúng ta cần phải gieo vào lòng thế hệ trẻ là Niềm Tự Tin và Dũng Khí, chứ không phải là cái "khoái cảm khổ dâm" của việc tự nói xấu dân tộc, nói xấu tiền nhân, để rồi chìm ngập trong mặc cảm tự ti, hoặc là bộc phát sự tự tôn quá mức. Tự phê phán cũng cần có mức độ nhất định, không cần phải "tổ quốc ăn năn" hay say sưa đọc/viết về "người Việt xấu xí" làm gì cho khổ thân.