Khánh Hoan - Hãy rủ lòng thương lấy các em, dù chỉ 1% thôi

  • Bởi Hồ Gươm
    06/09/2012
    5 phản hồi

    Khánh Hoan

    <strong>Ghi thêm</strong>: Thú thực, tôi đã chảy nước mắt khi đọc bài này, do đồng nghiệp Khánh Hoan gửi thẳng cho tôi. Chỉ muốn kêu lên rằng: Hãy cứu lấy các em!</br>

    <strong>Nguyễn Thông </strong>

    Bài và ảnh: KHÁNH HOAN

    Trống trường đã điểm. Ngày tựu trường đã đến!

    Hàng nghìn trẻ em miền núi ở Nghệ An bắt đầu lầm lũi gùi gạo, lội suối, vượt rừng đến trường tìm chữ. Những ngày tháng gian khổ, phải sống chui rúc trong những cái lều trọ xác xơ để tìm kiếm con chữ lại bắt đầu. Cam chịu, vì nhà nước không có tiền để xây nhà bán trú cho các em trọ!

    Dưới xuôi, hàng loạt nhà tưởng niệm, lưu niệm lãnh tụ với kinh phí hàng chục tỉ đồng vẫn tưng bừng khởi công, khánh thành như không hề có lạm phát, không hề biết nền kinh tế đất nước đang đi thụt lùi.

    Để chào mừng sinh nhật lần thứ 110 của cựu Tổng bí thư đảng CSVN Lê Hồng Phong, ngày 3.9, tỉnh Nghệ An tổ chức lễ khánh thành khu tưởng niệm vị cựu lãnh tụ này tại xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên và khu lưu niệm phu nhân Nguyễn Thị Minh Khai tại TP.Vinh. Theo báo Nghệ An, tổng kinh phí cho dự án xây dựng quần thể khu lưu niệm nguyên Tổng bí thư Lê Hồng Phong là 250 tỉ đồng, trong đó riêng nhà tưởng niệm là 35 tỉ đồng. Khu lưu niệm phu nhân Nguyễn Thị Minh Khai khiêm tốn hơn nhưng cũng có kinh phí... tròm trèm 20 tỉ đồng. Trước đó vài tháng, cũng mừng sinh nhật lần thứ 110 của nhà cách mạng cộng sản Phan Đăng Lưu, khu lưu niệm được khởi công ở huyện Yên Thành quê hương đồng chí, với kinh phí hơn trăm tỉ. Cách đây mấy ngày, tỉnh Nghệ An tiếp tục khởi công xây dựng khu tưởng niệm đại tướng Chu Huy Mân ở xã Hưng Hòa, TP.Vinh với kinh phí 13 tỉ đồng...


    Cắt băng khánh thành nhà tưởng niệm cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong (ảnh: báo Nghệ An)

    Trong thời buổi đất nước khốn khó, đầu tư công bị buộc chặt, kể cả những công trình dân sinh bức thiết cũng bị ngưng lại thì những khu tưởng niệm là ngoại lệ, vẫn rầm rộ khởi công xây dựng.

    Việc xây dựng tượng đài, khu lưu niệm lãnh tụ cộng sản sẽ không làm tôi băn khoăn nếu như không còn những cảnh đời cơ cực như dưới đây mà tôi đã nhiều lần chứng kiến khi đến các xã miền núi của tỉnh Nghệ An.

    Trong ảnh là những căn lều do người dân ở xã Bảo Thắng và xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An dựng cho con em họ đến trọ học. Những căn lều tạm bợ, ẩm thấp, rách nát, nằm chênh vênh bên dốc rừng. Mùa nắng, lều như những cái lò hấp. Mùa đông, gió núi thốc vào lạnh buốt. Bọn trẻ ở đây đứa nào cũng gầy nhẳng, mang những bộ quần áo màu đất, quanh năm chỉ có cơm với muối. Thịt, trứng là xa xỉ phẩm, các em không dám mơ tới. Nhưng đói chưa phải là khổ nhất vì các em đã quen! Các giáo viên nói ở đây các em sợ nhất khi mùa đông đến. Cái lạnh đã thành nỗi ám ảnh kinh hãi đối với những cơ thể gầy nhăng vì thiếu ăn khi những cái chăn cũ mỏng tang không thể chống được cái lạnh buốt giá trong những căn lều thốc gió. Vào những đêm giá lạnh, những cái thân gầy của các em không trụ được với rét, không có chăn đủ ấm để đắp nên không thể ngủ được. Đám trẻ phải rủ nhau dậy đốt lửa lên, cả đêm ngồi vây quanh cho ấm. Anh Lê Đình Hùng, hiệu phó trường cấp 2 Mường Ải, bạn tôi, nói ở đây học sinh các bản xa đến đây trọ học, có nhiều khi cả cơm cũng không có mà ăn. Giáo viên phải góp gạo, mỗi tuần mỗi người vài kí lô cho các em ăn đỡ khi hết gạo. Những đêm quá lạnh, thương các em, giáo viên phải mở cửa nhà/phòng mình rồi gọi các em vào tá túc qua đêm vì biết các em không thể trụ nổi trong những cái chòi gió lùa ấy.

    Khoảng 500 triệu thôi, sẽ có căn nhà bán trú giành cho đám trẻ nghèo này bớt cảnh rét mướt. Nhưng trong chủ trương của chính quyền, mục đầu tư cho giáo dục đến nay vẫn không hề thấy dòng nào cho những khu nhà trọ giành cho đám trẻ nghèo khổ này? Ở Mường Ải, anh Hùng nói, năm ngoái bộ đội biên phòng hứa cho 200 triệu dựng nhà cho các em ở. Nhưng từng đó chưa đủ nên chưa thể dựng nhà. Trường cứ loay hoay mãi, viết thư rồi gọi điện xin khắp nơi nhưng chưa ai gật đầu nên các em vẫn cứ tiếp tục nằm mơ trong những cái chòi xơ xác này.

    Ừ thì các em hãy thông cảm. Nhà nước còn nghèo, địa phương còn khó khăn.

    Nhưng, thưa các vị lãnh đạo. Nếu còn coi những đứa trẻ này là tương lai của đất nước, xin quý vị lãnh đạo hãy bớt ra 1% kinh phí từ các dự án nhà tưởng niệm, lưu niệm thôi, sẽ đủ một căn nhà bán trú cho đám trẻ nghèo khổ này. Đó là hạnh phúc, là niềm mơ ước từ lâu của hàng ngàn đứa trẻ nghèo nơi miền thăm thẳm này.

    Tại quê nhà cựu Tổng bí thư Lê Hồng Phong ở xã Hưng Thông, từ lâu đã có khu nhà tưởng niệm bằng tranh, phên nứa, giậu cây, là nguyên bản phục lưu căn nhà của Lê Hồng Phong từng sinh sống. Rất giản dị và gần gũi. Nhưng để làm quà mừng sinh nhật lần thứ 110, tỉnh Nghệ An vẫn dốc hết quyết tâm chính trị xây dựng thêm căn nhà mới hoành tráng 35 tỉ đồng làm quà cho ông và căn nhà 20 tỉ đồng cho quý bà phu nhân.

    Tại sao khu tưởng niệm, lưu niệm nào cũng cứ phải xây cho bề thế, hoàng tránh như thế nhỉ?

    Tôi nghĩ, có lẽ nơi suối vàng, các đồng chí ấy sẽ chẳng vui gì với những món quà này khi cách đó không xa lắm là hàng trăm căn lều xác xơ với hàng ngàn đứa trẻ gầy nhòm vì đói ăn, thiếu mặc vẫn đang lay lắt sống trong những cái chòi như thời hoang dã.

    Xin đừng lấy tiền bạc của dân ném vào những công trình bằng cốt sắt, bê tông. Hãy để người dân tự xây dựng tượng đài, nhà lưu niệm ngay trong lòng họ. Và quí vị, những lãnh đạo của đất nước, hãy tự xây dựng tượng đài, khu tưởng niệm của mình trong lòng dân đi. Ở đó, những người có công với dân với nước sẽ được lịch sử và người dân muôn đời tôn thờ!

    Và đây là hình ảnh về cuộc sống, nơi học hành, ăn ở của các em khi vào năm học mới.




    Khánh Hoan

    (PV báo Thanh Niên thường trú tại Nghệ An)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Báo Tuổi Trẻ 10. 10. 2012 đăng tin mấy con tàu của Vinalines bị lãng quên, một trong số đó là tàu Vinashin Atlantic trọng tải 150 nghìn tấn gần như bị bỏ hoang cách Vũng tàu khoảng 10km hơn 2 năm nay.
    http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/515221/Thuyen-vien-Vinashinlines-keu-cuu.html

    Giá một con tàu như thế nhiều trăm tỷ đồng.

    Lãi ngân hàng và hao mòn hư hỏng trong khi tàu bị bỏ hoang hàng chục tỷ đồng/tháng.

    ***

    Tối 10. 10. 2012, HTV SG có chương trình kêu gọi từ thiện nêu trường hợp một cặp vợ chồng có 2 đứa con sinh đôi hơn 2 tuổi.

    Cả 2 bé đều bị ung thư mắt.

    Cả 2 bé đều đã phải múc bỏ 1 mắt. 1 mắt còn lại cũng không có hy vọng chữa lành.

    Tổng vệ sinh MC Thanh Thảo quyên được 25 triệu. Hết.

    Nhìn mỗi bé một lỗ sâu hoắm nơi con mắt đã bị múc bỏ, con mắt còn lại nhắm tịt vẫn chảy dài những dòng nước lẫn máu đục ngầu.
    Nhìn các bé quặn người khóc trong đau đớn.
    Nhìn gương mặt xót xa, tuyệt vọng của cha mẹ các bé ôm các con đang dần kiệt sức.

    Đau lòng nghĩ đến con tàu nhiều trăm tỷ bị bỏ hoang đến mục nát.

    ***

    Hỡi các quan chức đảng cộng sản, chính quyền, những kẻ đang hàng ngày hàng giờ tham ô, ăn cắp, lãng phí!!!

    TỘI ÁC CỦA CÁC NGƯỜI LỚN LẮM.

    Vào nơi học sinh ăn cơm chan...nước suối

    TP - Tam Hợp, một trong 5 xã chưa có điện của huyện Tương Dương (Nghệ An), đường khó đi “như đường lên cổng trời”. Nơi thâm sơn cùng cốc, nhiều em học sinh người Mông, người Poọng ăn cơm chan…nước suối, nước lã; Học bài dưới ánh đèn pin.

    Nhiều học sinh Tam Hợp phải ăn cơm với nước suối, nước lã.

    Bật khóc giữa lòng hồ

    Mưa giăng kín mặt sông. Ngược dòng Nậm Nơn, lênh đênh trên lòng hồ thủy điện Bản Vẽ mùa này rất nguy hiểm.

    Sáng sớm thức dậy, tôi rủ Mạc Nguyên Bí thư Huyện Đoàn Tương Dương vào xã Hữu Khuông thăm thầy cô “cắm bản”, nhưng lên đến Yên Na bỗng khựng lại.

    Từ núi, lũ lao ra. Đất đá ven đường rơi tung tóe, chắn lối đi. “Mưa to quá!”, Mạc Nguyên nói, nhìn ra mặt sông thức giấc. Mực nước lòng hồ lên nhanh. Thủy điện bản Vẽ phải mở cửa xả lũ số 1. Hơi nước bốc lên nghi ngút, thung lũng mù sương.

    “Hằng ngày, cháu vẫn ăn như vậy à?”. “Dạ!”. “Có hay được ăn thịt không?”. “Thỉnh thoảng thôi chú à! Thỉnh thoảng mẹ mới cho tiền mua thịt!”. “Cá dưới suối nhiều lắm, không bắt được à?”. “Không bắt được! Cháu là con gái, không bắt được cá!”. “Bữa ăn có rau không?”. “Rau mẹ trồng trên rẫy”. Tôi hỏi, cô bé đáp, giọng lạc đi giữa rừng chiều gió hú.

    Dẫn đầu đoàn cán bộ huyện Tương Dương vào Hữu Khuông kiểm tra giáo dục, tuần trước, Phó chủ tịch huyện Vi Tân Hợi suýt bị đắm thuyền trên sông Nậm Nơn. “Trong một buổi chiều, chúng tôi gặp hai trận lốc xoáy, hút chết!”, anh Vi Hợi kể.

    Từ thị trấn Hòa Bình vào các xã rẻo cao Hữu Khuông, Luân Mai, Mai Sơn, phương tiện duy nhất là thuyền. Lòng sông, lòng hồ mênh mông nước, khung cảnh êm đềm thơ mộng nhưng đầy ẩn họa.

    “Chiều muộn, chúng tôi lên thuyền xuôi dòng. Vừa rời Hữu Khuông, bất ngờ gặp trận lốc xoáy tràn qua, thuyền chòng chành nhưng sợ trời tối nên vẫn phải đi tiếp”, anh Hợi kể.

    Cách đập thủy điện Bản Vẽ khoảng 2km, một trận lốc khác mạnh hơn tấn công. Gió giật cấp 7, cấp 8, mưa như trút. Xung quanh bầu trời đen kịt, tối như bưng. Chiếc thuyền dài 10m, rộng 1m loay hoay giữa vùng gió xoáy. Một cô giáo sợ quá, khóc toáng lên.

    Trưởng đoàn Vi Tân Hợi lệnh cho anh em cởi hết quần áo, mặc áo phao, chuẩn bị ứng phó với tình huống xấu nhất.

    “Nếu thuyền bị đắm, anh em phải dìu nhau vào bờ, riêng cô giáo phải có 2 người kèm hai bên”, Hợi ra lệnh.

    Gió quất liên hồi. Bác lái thuyền Lương Văn Thắng (50 tuổi, quê ở xã Mỹ Lý, huyện Tương Dương) từng 25 năm vượt dòng Nậm Nơn, là người lão luyện kinh nghiệm sông nước, bật khóc.

    “Khúc sông, cũng là lòng hồ thủy điện Bản Vẽ, rộng chừng 100m nhưng lúc mưa to gió lớn, trời đen kịt khiến bác Lương Văn Thắng không thể xác định được hướng đi, tắt máy dừng lại thì thuyền sẽ lật!”, anh Hợi nói.

    Sau gần 30 phút cầm cự, ghé sát được gần bờ nhưng mọi người không thể rời thuyền vì đá lởm chởm, nước sâu. Giữa lúc mưa gió vần vũ, bác Thắng ướt sũng nước, vẫn bám chặt tay lái điều khiển con thuyền thoát ra khỏi vùng xoáy.

    Cơm chan nước suối

    Đường vào bản Xốp Nậm (xã Tam Hợp) quanh co khúc khuỷu, bên vực bên núi. Trên con đường này, các thầy cô “cắm bản” vùng sâu ngày đêm “đèo” chữ lên miền rẻo cao.

    Có đường cho ô tô, xe máy vào bản trung tâm xã nhưng đi trên đường ấy còn cực khổ hơn đi bộ. “Mùa nắng, xe chở gỗ quần nát đường núi, bụi mù mịt. Mưa xuống, bùn đất lầy lội, chỉ 17km nhưng có khi phải mất hơn 2 tiếng đồng hồ mới tới nơi!”, Bí thư Huyện đoàn Tương Dương Mạc Nguyên nói.


    Bếp nấu ăn của các em HS bán trú Tam Hợp dựng bên bờ suối Ảnh: Quang Long.

    Ba giờ chiều, tôi cùng Mạc Nguyên và Lê Hồng Thái (Phó Bí thư Huyện đoàn) lên xe, rời thị trấn Hòa Bình vào Xốp Nậm.

    Trời đổ mưa, xe phải bò từng đoạn, lúc lơ lửng chín tầng mây, lúc đổ đèo sâu hun hút. Đang men theo sườn núi bỗng giật mình, tiếng động ầm ầm như lũ quét, từ đâu con suối lao ra, nước réo sùng sục.

    Rẻo cao Nghệ An, đường vào bản thường bị lũ chia cắt, có khi phải nằm lại trong rừng hai ba ngày mới ra được thị trấn.

    Tỉnh Đoàn Nghệ An trích từ nguồn quỹ “Biên giới hải đảo”, ủng hộ xã Tam Hợp trên 100 triệu đồng xây nhà bán trú, giúp các em học sinh bản Huồi Sơn, Pà Lõm, bản Phồng có chỗ ăn nghỉ để theo học. Với sự trợ giúp của UBND huyện Tương Dương, công trình khánh thành, đưa vào sử dụng đầu năm học 2012.

    Hơn hai tiếng đồng hồ đánh vật với đường núi quanh co, 5h chiều, chúng tôi vào bản trung tâm Xốp Nậm. Bên bờ suối, dãy lều làm bằng nứa của các em học sinh bán trú liêu xiêu tựa vào nhau, run rẩy trong mưa.

    Tôi khom người chui vào một túp lều, thấy cô bé học sinh đang lúi húi dọn cơm chiều. Một mình một nồi, chẳng có tý thức ăn, bé múc nước suối đổ thẳng vào xoong cơm, dùng thìa xúc ăn ngon lành.

    Con suối nhỏ vắt ngang triền núi, bên này là trường học, bên kia là nhà bán trú của 90 em học sinh người Mông, người Poọng thuộc xã rẻo cao Tam Hợp.

    Từng nhóm 5-7 em quây quần bên bữa cơm tối đạm bạc. Nhóm nào “sang”, bữa cơm có thêm ít canh bí, hầu hết các em phải ăn cơm chan với nước suối.

    Xồng Bá Tếnh (SN 1997, lớp 9B) nói: “Từ nhỏ đến giờ, bố mẹ cho ăn cơm chan nước suối, quen rồi!”. Hàng ngày, các em mang can xuống suối múc nước về “đưa cơm vào miệng”, hoặc sang trường hứng nước lọc tại công trình nước sạch, nhưng vẫn là nước lã. Một số em biết đun nước sôi để ăn với cơm.

    Một vài em học sinh nhỏ tuổi đã sớm biết quăng chài, bắt cá dọc suối về làm thức ăn. Đêm đêm, sau giờ học bài, từng nhóm rủ nhau đi săn cá mát. Cá mát miền Tây Nghệ An sống tự nhiên dọc khe suối, thịt mềm, ruột đắng.

    Các cậu học sinh đội đèn pin lên đầu, ngụp xuống soi cá. Khi phát hiện thấy đàn cá, lập tức dùng nỏ tự chế bắn tỉa, tài thiện xạ của “rái cá” bản địa bắn phát nào trúng phát nấy, có những phát đạn cực mạnh khiến cá đứt lìa thân.

    “Đèn pin đưa xuống nước vẫn sáng được à?”, tôi hỏi Xồng Bá Tếnh. “Sáng được! Xong về lau khô, mang ra học bài!”, Tếnh đáp.

    Không có bàn học, HS rẻo cao nằm rạp trên giường học bài.

    Xồng Y Rê, học sinh lớp 7 Trường PTCS Tam Hợp (học sinh cấp 1, cấp 2 cùng học chung một trường) kể: “Gia đình cháu có 9 người, nghèo lắm, cái chi cũng không có. Cả năm chẳng mấy khi được ăn thịt. Cá thì ở dưới suối, cháu không bắt được!”.

    So với các bạn cùng lớp, Xồng Y Rê thuộc diện nghèo nhất, nghèo đến nỗi “áo quần của cháu chỉ có vài bộ để thay. Đến Tết, mẹ mới mua áo mới”.

    Nhà bếp của các học sinh bán trú.

    Rê vừa xong bữa cơm chiều. Túp lều bên cạnh, tôi thấy hai tốp học sinh đang quây quần bên nồi cơm. Tốp 5 người, có nồi bí đỏ, món ăn thường trực của những học sinh “khá giả” bản Huồi Sơn. Bên cạnh là ba em học sinh đang dùng thìa múc cơm chan nước lã.

    “Sao các cháu không bỏ muối vào, cho dễ ăn?”, tôi hỏi. “Bọn cháu ăn rứa, quen rồi!”, Lầu Y Lỳ, học sinh lớp 9 bảo. Các học sinh vừa ăn vừa đùa nghịch, vui cười hồn nhiên.

    Tìm chữ dưới ánh đèn pin

    Không có điện. Tối như bưng. Ánh sáng bập bùng từ bếp lửa soi tỏ những khuôn mặt sạm đen, hao gầy. Ngày mai, thứ Bảy, một số học sinh bản Huồi Sơn, Phà Lõm, bản Văng Môn chuẩn bị hành trang về với gia đình.

    Đều đặn mỗi tuần một lần, các em băng rừng rời bản trung tâm về nhà, lúc trở lại trường trên lưng địu một bao gạo, quả bí đỏ, mớ rau xanh.

    “Mỗi tuần, cha mẹ cho các cháu mỗi người 4-5 kg gạo, ăn hết lại về lấy!”, Sồng Y Dìa (SN 1998) nói.

    Đường về nhà, xa nhất là Phà Lõm, các em học sinh nhỏ tuổi phải đi bộ vượt qua chặng đường 24km cả đi lẫn về, vượt núi cao và vực sâu. Bản Huồi Sơn cách Xốp Mạt khoảng 9km đường rừng.

    Vượt lên thiếu thốn, cực khổ, các em học sinh người Mông, người Poọng tại xã Tam Hợp đi tìm cái chữ. Giữa căn nhà bán trú đơn sơ, chật hẹp, không bàn không ghế, từng nhóm nhỏ chụm đầu học bài dưới ánh đèn pin.

    Có em nằm rạp trên tấm liếp, soi đèn pin cặm cụi học bài. Có em kẹp đèn pin vào cổ, soi từng con chữ. Ánh đèn yếu ớt, chỉ đủ để rọi vào trang sách.

    Nhiều học sinh hàng ngày ăn cơm với nước lã, nước suối do phần bắt nguồn từ thói quen, phong tục tập quán của người Mông.

    Nhưng thực tế là bữa cơm hàng ngày của học sinh bán trú tại Trường PTCS Tam Hợp (Tương Dương) hiện đang rất nhiều thiếu thốn...

    Quang Long

    Tương phản giàu nghèo

    Hình ảnh các em học sinh nội trú ở xã Tam Hợp, huyện miền núi Tương Dương, Nghệ An, nằm nép mình trên tấm liếp, trong căn nhà nội trú đơn sơ giữa rừng, kẹp đèn pin vào cổ để học bài vì không có điện;

    cảnh các em ngồi bệt trong những túp lều dột nát - nơi được gọi là bếp - chan nước suối vào... cơm để ăn, sao thấy đắng ngắt trong lòng ! Vẫn biết, việc nhiều học sinh hàng ngày ăn cơm với nước lã, nước suối, ngoài phần là thói quen, phong tục ra, thì một thực tế là bữa cơm của các em hiện rất thiếu thốn.

    Càng thấy xót xa hơn khi chứng kiến những lớp học VIP trường công ở Hà Nội, sàn gỗ bóng loáng, rèm cửa, điều hòa mát rượi, sang trọng.

    Báo chí phản ánh, quỹ phụ huynh đầu năm của một lớp tiểu học lên tới 300 triệu đồng. Chỉ riêng số tiền của một lớp VIP này thôi đã gấp 3 lần số tiền xây dựng cả ngôi trường nội trú ở Tam Hợp, do Tỉnh đoàn Nghệ An ủng hộ.

    Đó là những hình ảnh tương phản nhói lòng, giữa giàu sang với nghèo khổ, giữa thừa thãi và thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.

    Công bố của Tổng cục Thống kê về kết quả cuộc khảo sát mức sống hộ dân cư năm 2011 cho thấy chênh lệch giàu nghèo tại VN lên tới 9,2 lần.

    Theo số liệu thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với nhóm 20% thấp nhất trong cả nước năm 1990 là 4,1 lần, đến năm 1996 đã tăng lên 7,3 lần, năm 2002 là 8,1 lần và năm 2004 đã là 8,4 lần. Như vậy có nghĩa là, sự bình đẳng đang giảm dần, sự bất bình đẳng đang lớn lên.

    Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam đang chuyển dần từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập ngày càng tăng giữa các nhóm dân cư.

    Vẫn biết, sự phân hóa giàu nghèo là khó tránh khỏi trong xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường.

    Những năm qua Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể đã rất quan tâm tới mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, và đạt được nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

    Song khoảng cách giàu – nghèo vẫn đang có chiều hướng doãng ra, những nghịch cảnh “kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra” vẫn diễn ra đâu đó quanh ta.

    Ước mong sao, bản làng heo hút ở Tam Hợp kia rồi sẽ có điện để các em nhỏ khỏi phải học bài bằng đèn pin giữa lúc bụng đói cồn cào vì bữa ăn thiếu chất.

    Nếu cỗ cưới của gia đình các vị quan chức bớt đi vài mâm, nếu họp hành, hội nghị bớt đi dăm bảy cái phong bì, vài lẵng hoa tươi, chắc bữa cơm của các em nhỏ miền núi Tương Dương hẳn sẽ có thịt thay cho nước suối.

    Nếu giảm được, dù là phần nhỏ thôi, cái quốc nạn tham nhũng, lãng phí đang hoành hành, hẳn ngân quỹ phúc lợi của quốc gia sẽ đầy hơn rất nhiều.

    Và khi đó chắc chắn rằng, những túp lều tranh tồi tàn hun hút gió kia – cái gọi là bếp ăn của học sinh nội trú Tam Hợp – và những điều nghèo khổ tương tự trên mọi miền đất nước này sẽ vĩnh viễn biến mất.

    Sự tương phản giàu – nghèo như kiểu ngôi trường phổ thông nội trú Tam Hợp với “lớp VIP trường công” ở Hà Nội cũng sẽ bị xóa sổ.

    Việt Hùng

    Nguồn: Tiền Phong

    Đào Tuấn - “Chuồng học” ở Huổi Chát

    Thứ tư 05/09/2012 02:51

    Huổi Chát là một bản Mông chừng vài chục nóc nhà ở huyện nghèo Mường Tè. Hôm chúng tôi có mặt, chỉ còn 7 ngày nữa là đến ngày hội khai giảng, nhưng những gì bày ra trước mắt thật đắng lòng: Một căn lều tranh tre nứa lá gió thổi tứ bề, xiêu vẹo, ghế gãy bàn long, ủn ỉn trong đó một cặp lợn mán, được cô giáo cắm bản giới thiệu là trường học.

    “Chuồng học” ở Huổi Chát

    Khó từ viên phấn trắng

    Đường lên Huổi Chát ngoằn nghèo bò dọc theo núi. Con đường mới vỡ chỉ rộng độ 3 gang tay, bé đến mức những chiếc xe máy chỉ có thể tiến chứ không thể quay ngang để lùi, nhiều đoạn đã thụt hẳn xuống khe sâu hun hút. Đương mùa trái gió trở giời, lúa nương cây trổ cây trụi. Đường núi thăm thẳm thi thoảng lại ngoi lên một khuôn mặt trẻ con cháy nắng lấm lem bùn đất. Những đứa nhỏ 5-6 tuổi đã phải chui rừng cắt suối bói măng mò cá kiếm cơm. Gùi có khi còn to hơn cả người.

    Bấy giờ đã giữa trưa, bữa cơm nhiều nhà chỉ có đôi bát nước suối, mấy chiếc măng to bằng quả chuối, với đĩa muối ớt. Dường như cơm có vị cay, vị mặn. Đám trẻ vừa đi nương về áo quần xốc xếch, mặt mũi nhem nhuốc túm tụm sau lách liếp đầu bản giương cặp mắt trong veo như nước suối tò mò nhìn người lạ. Cô giáo Đinh Thị Vin nói bằng tiếng Mông, vẫy chúng xuống lớp. Lớp học là một căn chòi lá rộng độ bằng 4 chiếc chiếu đôi xiêu vẹo, vách tre vọc vạch, hở hoác. Bên trong bàn ghế gãy nát, đầy mạng nhện, ngổn ngang phân heo. Không biết đã từ bao giờ, trường học của lũ trẻ đã trở thành nơi trú ngụ cho một cặp heo mán với 4 heo con. Có người trong số chúng tôi gọi đùa, giọng không ít cay đắng: “Đây là chuồng học chứ đâu phải trường học”. Bế theo một học trò người Mông, cô giáo Vin loay hoay tìm chỗ đặt chân. Lớp học vùng cao khó. Khó từ chiếc bảng đen, viên phấn trắng. Khó đến cả cái sự “bắc cầu Kiều”.

    7 năm trước, cô giáo Đinh Thị Vin từ Phú Thọ rừng cọ đồi chè lên Mường Tè theo tiếng gọi tình nguyện. 6 năm trước, cô mang con trai 3 tuổi lên núi, để sau đó chỉ 1 năm phải vội vã đưa con về xuôi vì đứa trẻ bấy giờ chỉ học tiếng người Mông. 5 năm trước, chồng cô mì tôm cá khô tấp tểnh lên thăm vợ, lần đầu và cũng là lần cuối, để chỉ nói một câu: Về. 4 năm trước, cô suýt bị dân bản bắt đền khi giữa đêm dám đem đứa trò nhỏ bấy giờ ốm thập tử nhất sinh vượt “ngang sông Đà”. 3 năm trước, cô khóc cả đêm khi đứa con đứt ruột đẻ ra giờ không còn nhận ra giọng mẹ. Gia đình là thứ gì đó mơ hồ. Có khi chỉ là mười ngày phép mỗi dịp cuối năm và những đồng tiền chắt bóp tháng tháng gửi về quê xa.

    Và giờ, cô giáo người Kinh đã trở thành đứa con của Huổi Chát, của Nậm Manh, nói tiếng Mông để dạy tiếng phổ thông, ăn mèn mén, sắn khô, măng rừng, với ước mơ giản dị là một ngày nào đó sẽ có một đứa trò nhỏ người Mông thi đậu vào đại học.

    Cái chữ xa xỉ và rau cháo ngày thường

    Ở Huổi Chát, ở Mường Tè, ở vùng cao, việc đầu tiên của những cô giáo trước ngày khai trường, không phải là nghĩ ra các khoản thu, nghĩ ra cách thu tiền mà là “dân vận” để cha mẹ học sinh đồng ý đưa con đến trường. Không thể có giáo dục nếu như không có những ngôi trường. Nhưng cũng không thể có những ngôi trường nếu như không có học trò. Chỉ buồn là giáo dục ở vùng cao không thể tách rời chuyện miếng cơm manh áo. Huổi Chát tất nhiên không phải ngoại lệ.

    Quỹ Tấm lòng vàng Lao Động đến với Phong Thổ, Lai Châu.

    Trưởng bản Lầu Giống Sì khoát khoát cánh tay quanh tứ bề rừng nham nhở xung quanh. Đấy là ông đang giải thích chuyện miếng cơm. 100% hộ sống dưới mức nghèo đói. Cả bản, không một mét vuông ruộng nước, sống nhờ vào những nương lúa. Lúa nương trông cả vào ông giời. Năm nào mưa thuận gió hòa, Nậm Chát có gạo, có ngô ăn đủ trong nửa năm. Nửa năm còn lại thì sao? Thì trông cả vào rừng. Có nghĩa, đến ngay cả chuyện căng cái bụng cũng trông vào ông giời, đủ ăn cũng đã là một niềm mơ ước khi Nậm Chát đói quanh năm chứ không chỉ là mùa giáp hạt. Trong nhà người Mông Nậm Chát, những chiếc lông gà dán trên cây cột thiêng giờ bạc thếch, xác xơ. Lâu lắm rồi người Huổi Chát không có hội, không làm gà, thậm chí không cả xuống chợ Nậm Hàng phía bờ hữu sông Đà. Cuộc sống là chuỗi những mưu sinh không buồn, chẳng vui, không quá khứ, không tương lai. Miếng cơm manh áo thúc vào sườn họ đau và bức bối đến mức ước mơ đôi khi chỉ là bát cơm có miếng thịt. Và cái chữ, vì thế cũng là thứ gì đó xa xỉ, thậm chí xa lạ.

    Chúng tôi đi từ Văn Chấn, Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, ngược lên Phong Thổ, Mường Tè, qua 9 điểm bản và nhận ra một điều rằng, ở bất cứ trường học vùng cao nào cái khó nhất của thầy trò nơi đây chính là bữa ăn. Vâng, đầu thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, vẫn cứ phải nói đến chuyện miếng cơm manh áo khi mà bữa ăn phổ biến nhất của những đứa trò nhỏ vùng biên ải vẫn triền miên là cảnh “một nồi canh rau, 3 miếng đậu trắng”.

    Hôm chúng tôi đến Trường Tiểu học Huổi Luông, ở xã biên giới Huổi Luông thuộc huyện Phong Thổ, Lai Châu, điều không ai có thể quên được là bữa ăn của những đứa trẻ. Một bát tô nhựa, trong đó hổ lốn vừa cơm, vừa canh, và loi nhoi 2 miếng đậu trắng. Không thể gọi khác hơn là tô cơm tiêu điều và khốn cùng. Xin đừng ai đó trách các thầy cô giáo vùng cao. Ở những điểm trường vùng cao, cha mẹ học sinh tháng tháng góp 4kg gạo và 7.000 đồng tiền ăn mỗi tuần, thậm chí vì không có tiền, mỗi cuối tuần chỉ có 1 bó rau rừng được gửi tới. Người ta có thể mua gì khác cho lũ trẻ ngoài đậu, loại thực phẩm chỉ giúp lũ trẻ quên đi cơn đói?

    Từ cách đây 2 năm, Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ 120.000 đồng/tháng đối với trẻ em 5 tuổi. Tới cuối năm ngoái, Thủ tướng Chính phủ có quyết định (số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26.10.2011), theo đó: Trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo, các xã và thôn bản đặc biệt khó khăn, hoặc cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, được ngân sách nhà nước hỗ trợ 120.000 đồng/tháng và được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học để duy trì bữa ăn trưa tại trường.
    Hiệu lực thi hành của quyết định là từ 15.12.2011. Phải mất nhiều tháng sau đó, liên bộ: GDĐT, Tài chính, Nội vụ mới có thông tư hướng dẫn quyết định 60, thực hiện chi hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo. Và cũng phải bắt đầu từ 1.9.2012, các trường mới bắt đầu làm thủ tục thống kê học sinh 3 - 4 tuổi đề nghị được cấp hỗ trợ. Danh sách này sẽ qua các nấc từ xã, huyện, tỉnh và nếu như tiến độ chính xác như quy định đến từng ngày như trong thông tư thì sau 80 ngày danh sách mới về đến Bộ Tài chính và Bộ GDĐT. Còn bao giờ tiền về được tới trường thì lại phải phụ thuộc vào “tốc độ cải cách hành chính” của các bộ, các sở, các địa phương.

    Chỉ biết là 8 tháng sau quyết định của Thủ tướng, ngay trước thềm năm học mới 2012-2013, ở hầu hết trong 9 điểm trường mà chúng tôi đặt chân tới của các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, “độ trễ của chính sách” khiến cho những đồng tiền cơm lũ trẻ đáng được hưởng, thực ra vẫn bóng chim tăm cá. Câu hỏi “bao giờ” vẫn là niềm day dứt của những người làm giáo dục vùng cao. Và cái hậu của việc truy lĩnh, “dồn một cục”, là các trường sẽ phải trả những đồng tiền ăn của các cháu cho cha mẹ. Không ai có thể cam kết sau đó những đồng tiền cơm 2 năm học của một đứa trẻ không biến thành một bữa nhậu của người lớn.

    Chúng tôi ngồi bên mái lá Huổi Chát trong sự ngưng đọng của cả không gian và thời gian. Một lát, cô giáo tiểu học Nguyễn Thị Hường đội nắng leo núi đi tới. Hường 24 tuổi, đã lên Mường Tè 5 năm. Lớp học của cô có 18 học sinh, học từ lớp 1 đến lớp 4. Nấu ăn cho lũ trẻ ư? Hường hỏi, trong mắt có chút ngơ ngác. Chúng tôi hiểu được sự ngỡ ngàng của cô ngay sau đó. Chợ Nậm Hàng thì cách Huổi Chát vài tiếng đi bộ. Và điều quan trọng nhất là chính cô cũng triền miên rau cháo qua ngày.

    Cũng còn may cho lũ trẻ vùng cao là còn có những cô giáo cắm bản, như Vin, như Hường. Một người đã từ lâu coi Huổi Chát là nhà. Một người khác đang tính chuyện xây dựng gia đình trên chính mảnh đất nghèo khó này, với người chồng, cũng là một thầy giáo cắm bản, đang ở xã xa nhất Huổi Manh, cách cô chừng 6 giờ leo núi.

    Trong khi ở Huổi Chát và nhiều làng bản vùng cao do “chính sách đến trễ” nên học sinh tiểu học người Mông phải ăn bữa cơm chỉ “một nồi canh rau, ba miếng đậu trắng” như phóng sự này đã phản ánh, thì tại những điểm trường khác có điều kiện kinh tế khá hơn, như Trường phổ thông dân tộc bán trú Hố Quáng Phìn, Đồng Văn, Hà Giang, chính sách cũng đến trễ, nhưng do nhà trường có khả năng ứng trước, cộng với hỗ trợ của phụ huynh, nên học sinh ở đây - cũng người Mông - lại ăn không hết suất cơm có thịt, đậu xào và canh cải của mình. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong số báo ngày mai (6.9).

    Đào Tuấn

    Nguồn: Báo Lao Động

    Nửa số giáo viên hối hận vì nghề đã chọn

    Hòa Ái, phóng viên RFA
    2012-09-05

    Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học Giáo dục vừa công bố trong tháng 8 cho thấy có đến một nửa lực lượng giáo viên hối tiếc vì nghề đã chọn.

    Photo courtesy of vietbao.vn

    Ảnh minh họa cô giáo và học trò trong tiết sinh họat ngoài trời.

    Nguyên nhân

    Chia sẻ với báo chí về kết quả cuộc khảo sát của Viện Khoa học Giáo dục, Tiến sĩ Vũ Trọng Rỹ cho biết qua câu hỏi “Bạn sẽ vẫn chọn nghề dạy học nếu bạn có thêm một lần lựa chọn nghề nghiệp cho mình?” thì có đến 50% giáo viên ở 7 tỉnh, thành trả lời rằng “không”. Trong số 526 giáo viên ở 3 cấp học được hỏi thì có đến một nửa cho biết hối hận với lựa chọn nghề giáo và không muốn tiếp tục dạy học nữa.

    Có 3 nguyên nhân mà hầu hết các giáo viên nêu ra là lương bổng thấp, công việc nhiều áp lực, lao động căng thẳng và nghề giáo không được xã hội tôn trọng khiến cho họ nản lòng. Trong đó, nguyên nhân chính yếu là đồng lương không đủ sống dẫn đến nhiều hệ lụy liên quan đến nghề nghiệp mà họ đã chọn.

    Mức lương 2 triệu đồng/tháng của các sinh viên sư phạm mới ra trường chỉ đủ cung cấp khoảng nửa tháng lương thực. Thậm chí thu nhập hàng tháng của những giáo viên mới vào nghề không đủ chi tiêu cho cuộc sống cơ bản như tiền xăng xe, tiền điện thoại di động…Nhiều giáo viên trẻ phải nhờ vào sự hỗ trợ về tài chánh của cha mẹ.

    Bên cạnh đó, thời gian lao động trong công tác giảng dạy của giáo viên bình quân chiếm 1,5 lần so với quy định của nhà nước. Ngoài giờ lên lớp giảng dạy, giáo viên cần nhiều thời gian để soạn bài, chấm bài…Giáo viên hiện nay phải chịu áp lực từ nhiều phía: từ học sinh, phụ huynh, cán bộ quản lý giáo dục cho đến dư luận trong xã hội…Có nhiều giáo viên bị bệnh nghề nghiệp mà không có điều kiện chữa trị do công việc áp lực và mức lương không đủ sống. Tiến sĩ Vũ Trọng Rỹ cho rằng chế độ chính sách đãi ngộ giáo viên chưa thỏa đáng, không tốt, đồng thời nghề giáo không nuôi sống được bản thân và gia đình là nguyên nhân khiến cho đội ngũ giáo viên không còn yêu nghề nữa. Một cô giáo dạy học hơn 20 năm chia sẻ với đài RFA:

    Bây giờ đi dạy người ta chán nghề là vì lý do thứ nhất do đồng lương quá thấp, không tương xứng với công ăn học, rồi lãnh lương ra không đủ sống mà vật giá thì leo thang hoài. Thứ nhì là bây giờ phụ huynh không còn tôn sư trọng đạo nữa. Thứ ba nữa là những người tốt, những người thiện, trung thực, thẳng thắng bị vùi dập. Chuyên môn của người giỏi thì không được trọng dụng. Người thật sự có khả năng, có năng lực lại không được thừa nhận cho nên bây giờ cô nói thật đi dạy buồn nhiều hơn vui. Thầy cô đa số là nản.

    Hồi chuông báo động


    Các em học sinh tiểu học trên đường đến trường. AFP photo

    Dù ngành giáo dục được chính phủ đặt mục tiêu phát triển lên hàng đầu, dù có nhiều thay đổi trong chính sách nhưng đa phần giáo viên ở Việt Nam vẫn không sống nổi bằng đồng lương của nghề. Họ phải tìm nhiều cách khác để có cuộc sống đầy đủ hơn như dạy thêm, làm thêm ruộng, buôn bán, đưa hàng, chạy chợ, nhờ cậy vào sự trợ giúp của gia đình…Vì phải làm thêm việc nên giáo viên không có đủ thời gian cũng như sức lực để nghiên cứu sáng tạo cho công tác giảng dạy. Các bài giảng sẽ không có chất lượng một khi giáo viên phải lo lắng nhiều về kinh tế gia đình.

    Cái nhìn của xã hội ngày nay không dành thiện cảm cho nghề giáo như nhiều năm về trước. Nhiều thế hệ học sinh mỗi ngày cắp sách đến trường tiếp thu những bài giảng có chất lượng không tốt, rồi phải tất tả và vất vả nhồi nhét thêm kiến thức thiếu hụt ở các lớp dạy thêm dạy kèm đã làm thay đổi truyền thống cao đẹp “tôn sư trọng đạo”. Quan niệm của xã hội bây giờ đối với thầy cô giáo như là một dịch vụ mua bán kiến thức hơn là quý trọng nghề gõ đầu trẻ của một nhà mô phạm.

    Các phương tiện truyền thông đại chúng loan tải nhanh chóng những tiêu cực trong ngành giáo dục cùng những vụ việc tệ nạn xã hội suy thoái đạo đức của một bộ phận giáo viên càng làm cho rất nhiều thầy cô giáo nản lòng với nghề “đưa đò” mà mình đã chọn. Tuy vậy, vẫn có những giáo viên với đầy nhiệt huyết và lòng say mê nghề. Thầy giáo Kha, công tác tại Phòng Giáo dục huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cho biết vẫn theo đuổi mục đích ban đầu, sau 8 năm trong nghề dạy học. Thầy Kha nói:

    Những người nào quyết tâm bước vào nghề nhà giáo rồi thì tâm nguyện của họ luôn luôn là đào tạo thế hệ trẻ: một là cho tài năng của đất nước, hai là tạo cho xã hội những con người có tài và có ích cho xã hội.

    Cô Thêm, một giáo viên dạy tư tại nhà sau 1975 chia sẻ rằng dù nghề giáo có nhiều khó khăn và biến đổi nhưng cô hy vọng sẽ còn có nhiều bạn trẻ theo đuổi nghề. Cô Thêm nêu lên ý kiến của mình về con số 50% giáo viên hối hận vì đã chọn nghề giáo:

    Cái đó cũng tùy theo đối tượng, cũng có người giống như tôi bây giờ già rồi, bảy mươi mấy tuổi rồi mà tôi vẫn còn đam mê cái nghề này. Trong nghề này là tôi từ 25 tuổi cho đến bây giờ vì mình giúp cho trẻ em có kết quả thì mình thấy vui.

    Với kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục không chỉ hiển thị một con số 50% giáo viên chán nghề mà qua đó cho thấy vấn đề lớn hơn và cấp thiết hơn là khi giáo viên không yêu nghề, không tận tụy với nghề thì sẽ không thể đào tạo những học sinh giỏi và những công dân hữu dụng cho xã hội. Đây là một hồi chuông báo động cho các cơ quan ban ngành chức năng trong lãnh vực giáo dục vì sau 20 năm dạy học, thầy giáo Kha có còn khẳng định tâm huyết của mình với nghề hay vẫn giữ “lửa” đam mê như cô Thêm sẽ có được mấy người?

    Nguồn: RFA

    Quỳ đất trong lễ tựu trường

    VietNamNet - Sáng 26/8, hàng trăm học sinh Trường tiểu học Thành Sơn (xã Thành Sơn, huyện Khánh Sơn, Khánh Hòa) đã nô nức đi tựu trường.

    Thầy Hiệu trưởng Lê Đình Sức cho biết, toàn trường có 460 học sinh, 22 lớp. Hầu hết học sinh phải đi bộ rất xa để đến trường, khoảng 5 – 10 km đường vượt đồi, vượt suối. Việc thực hiện chủ trương học 2 buổi cho học sinh miền núi tại trường còn gặp nhiều khó khăn.

    Buổi tựu trường, 460 học sinh tiểu học không đồng phục. Nhiều em áo quần nhàu nhĩ, không giày dép...đón năm học mới....

    Một số hình ảnh ghi lại trong buổi tựu trường:

    Từ 8h sáng, tất cả học sinh của trường đã có mặt đông đủ

    Những “tân binh” chuẩn bị vào lớp Một



    Không có ghế, các em phải ngồi xổm, nhiều em chọn cách quỳ để xem bạn mình hát trên sân khấu.


    Như thế này cho thoải mái!


    Chỉ một số em có trang phục tươm tất, còn lại thì… như thế này.

    Nhiều em không có cả dép.

    Không mái che, không mũ nón, cô bé này toát mồ hôi hột dưới cái nắng cuối hè.


    Còn cậu bạn ngồi cạnh thì hí hửng khoe súng và ná…

    Mỏi, mệt và … ngáp

    Trịnh Mai

    Nguồn: VietNamNet