Trần Trung Đạo - Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc

  • Bởi Hồ Gươm
    13/08/2012
    8 phản hồi

    Trần Trung Đạo

    Áo và Tiệp Khắc là hai quốc gia bị Đức cưỡng chiếm đầu tiên ngay cả trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ. Trong lúc Đức chiếm Áo không gây nhiều phản ứng vì Áo có nhiều liên hệ với Đức về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và chính bản thân Hitler vốn là người Áo, việc cưỡng chiếm Tiệp Khắc là một biến cố lớn vì Tiệp Khắc là một nước độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và được xem là một trong số mười cường quốc châu Âu thời đó.

    Suốt thời gian dài hơn sáu năm dưới ách thống trị của Đức Quốc Xã, nhân dân Tiệp đã chịu đựng vô số thương vong, thiệt hại. Hàng trăm ngàn người bị giết và hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại tập trung. Thế nhưng phải chăng ngày đó Tiệp Khắc yếu đến mức không bắn được phát súng nào?

    Không. Trước Thế chiến thứ hai, thừa hưởng các thành tựu kỹ thuật của thời đế quốc Áo Hung, Tiệp Khắc là một trong sốt ít quốc gia có một quân đội đông đảo nhất và được trang bị tối tân nhất châu Âu. Việc Tiệp Khắc rơi vào tay Đức nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu phát xuất từ ba lý do chính. Hai lý do khách quan:

    (1) Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức,

    (2) Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các lãnh đạo chủ hòa châu Âu đứng đầu là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, và một lý do chủ quan:

    (3) Tiệp Khắc là một quốc gia ô hợp, phân hóa, suy yếu, có nhiều chính khách làm tôi mọi cho ngoại bang và giới lãnh đạo chính phủ không có quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

    Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức.

    Sau giai đoạn cách mạng 1848, Đức trở thành cường quốc. Sức mạnh của Đức thể hiện không chỉ trong các lãnh vực kinh tế, quân sự, dân số mà cả khoa học. Tổng số giải Nobel các khoa học gia Đức được tặng thưởng trong giai đoạn 47 năm tồn tại nhiều hơn tổng số giải Nobel của các khoa học gia Anh, Pháp, Nga và Mỹ cộng lại. Năm 1871, Đế Quốc Đức bao gồm 27 khu vực, dưới sự lãnh đạo của Otto von Bismarck đã vượt qua đế quốc Anh. Giống như mọi đế quốc khác trong lịch sử, để tiếp tục lớn mạnh cần phải có tài nguyên thiên nhiên.

    Đức là quốc gia nằm ngay giữa châu Âu và về mặt địa lý chính trị, suốt nhiều thế kỷ, các chế độ quân chủ Đức cũng chủ trương các quốc gia phía Đông trong đó có Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary là hàng rào an ninh của Đức để đương đầu với hai nước lớn khác là Pháp và Nga.

    Sau khi sáp nhập Áo vào tháng Ba năm 1938 không cần dùng đến võ lực, Hitler tập trung vào chiến lược chiếm Tiệp Khắc bất chấp sự chống đối của nhiều tướng lãnh cao cấp trong đó có tướng Ludwig Beck, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Đức. Bản thân của Hitler cũng đánh giá Tiệp rất cao nên không dám công khai đưa quân vượt biên giới xâm lăng quốc gia này. Vì vùng Sudetenland có đông dân Đức và có nguồn dự trữ nguyên liệu lớn nhất của Tiệp Khắc, Hitler nghĩ đến việc chiếm vùng Sudetenland trước và dùng khu vực giàu có này làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc.

    Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các các lãnh đạo Anh, Pháp đứng đầu là Thủ tướng Nevill Chamberlain đã “khuyến khích” Đức chiếm Tiệp Khắc.

    Sau Thế chiến thứ nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Khuynh hướng chủ hòa chế ngự trong sinh hoạt chính trị tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là thủ tướng Anh, Nevill Chamberlain. Thủ tướng Nevill Chamberlain tìm cách hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không có phản ứng cụ thể nào.

    Khi Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenlan của Tiệp Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, vấn đề trở nên phức tạp vì Tiệp Khắc có liên minh quân sự với Pháp và Pháp có liên minh quân sự với Anh. Thủ tướng Anh Nevill Chamberlain qua trung gian của Sir Horace Wilson chuẩn bị đàm phán với Đức và qua trung gian của Lord Runciman thuyết phục Tiệp Khắc nhượng bộ. Trong lúc Hitler thông đồng với các nước nhỏ như Hungary và Ba Lan để xẻ thịt Tiệp, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt tuyên bố chủ trương trung lập của Mỹ về tranh chấp Sudetenland.

    Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Nevill Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1939, thỏa hiệp Munich được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức.

    Tiệp Khắc không được mời tham dự hội nghị và chỉ được Anh Pháp thông báo kết quả. Chính phủ Tiệp nghĩ rằng Tiệp Khắc không có hy vọng gì thắng được Đức bằng sức mạnh của riêng mình, đã đồng ý với nội dung của thỏa hiệp Munich. Theo thỏa hiệp này, tướng Đức Wilhelm Keitel được cử vào chức thống đốc quân sự vùng Sudetenland. Những người dân Tiệp không phải gốc Đức phải rời Sudetenland trong vòng 10 ngày và không được mang theo bất cứ một món sở hữu nào. Câu Phản bội Tiệp Khắc để chỉ sự phản bội của đồng minh đối với Tiệp ra đời từ đó.

    Mất Sudetenland, Tiệp Khắc không chỉ bỏ trống biên giới chiến lược phía nam mà còn mất 70% dự trữ sắt thép, 70% điện và 3 triệu công dân Tiệp. Trong lúc hiệp ước Munich là một thành quả ngoại giao lớn của Nevill Chamberlain, đối với Hitler lại là một bước lùi. Mục tiêu của Hitler không phải chỉ chiếm vùng Sudetenland mà cả nước Tiệp như Wilson Churchill tiên đoán. Đầu năm sau, Hitler lần lượt chiếm các vùng Bohemia, Moravia và phần còn lại của Tiệp Khắc.

    Cả hai lý do trên không thể làm Tiệp Khắc mất một cách nhanh chóng nhưng chính sâu mọt và phản bội ngay trong lòng nước Tiệp và một chính phủ phân hóa, yếu kém, thiếu quyết tâm mới là những lý do chính làm tan rã Tiệp Khắc.

    Rất nhiều sâu mọt trong nội bộ Tiệp và đứng đầu là Konrad Henlein lãnh đạo của đảng Sudeten gốc Đức.

    Konrad Henlein một thầy giáo bậc trung học, lúc đó đang hoạt động dưới danh nghĩa đảng Sudeten quy tụ đa số dân Tiệp gốc Đức. Konrad Henlein sinh tại Bohemia, Tiệp Khắc có cha là người Đức và mẹ là người Czech. Đảng Sudeten của Konrad Henlein thông đồng với đảng Quốc Xã Đức và được đảng này tài trợ và huấn luyện. Mỗi tháng đảng Sudeten nhận 15 ngàn Đức Mã để trang trải các chi phí hoạt động. Ngày 28 tháng Ba năm 1938, Hiter gọi Konrad Henlein sang Đức và đích thân ra chỉ thị cho tên Tiệp gian này phải đưa ra những điều kiện mà Tiệp Khắc không thể thỏa mãn được. Mặc khác, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã, tung một chiến dịch tuyên truyền ồ ạt về việc chính phủ Tiệp bạc đãi, đàn áp dân gốc Đức trong vùng Sudetenlan và xúi dục người dân Tiệp gốc Đức đứng lên đòi quyền tự trị.

    Về lại Tiệp, Tiệp gian Konrad Henlein đòi chính phủ Tiệp phải để vùng Sudetenlan hoàn toàn tự trị, thay đổi chính sách đối ngoại của chính phủ Tiệp và toàn quyền phổ biến lý thuyết Quốc Xã. Dĩ nhiên, đòi hỏi tự trị còn có thể đàm phán được nhưng việc tự do tuyên truyền tư tưởng Quốc Xã khó có thể chấp nhận. Khi đàm phán bắt đầu, Tiệp gian Konrad Henlein và đảng của y lại tạo nhiều xáo trộn bạo động trong vùng và tiếp tục làm khó dễ chính phủ trung ương cho đến khi hiệp ước Munich được ký kết. Ngày 1 tháng Mười năm 1938, các đơn vị tiền phương của quân đội Đức vượt qua biên giới Tiệp giữa tiếng hò reo ủng hộ của các đảng viên đảng Sudeten, và cũng trong lúc đó hàng chục sư đoàn Tiệp được trang bị đầy đủ được chính phủ ra lịnh rút lui. Phía sau đoàn quân Đức là các đơn vị mật vụ Gestapo và lực lượng anh ninh SS. Chỉ trong thời gian ngắn 10 ngàn người dân Tiệp, kể cả dân nói tiếng Đức nhưng chống Hitler, bị đày vào các trại tập trung vừa mới xây ở Sudetenland.

    Konrad Henlein gia nhập lực lượng an ninh Đức và tham gia vào đảng Quốc Xã. Mặc dù sinh ra, lớn lên trên đất Tiệp, Konrad Henlein đã góp phần quan trọng trong việc rước voi Đức giày lên Tiệp Khắc. Y được thưởng nhiều chức vụ và được cho phép làm công dân Đức. Sau khi Tiệp Khắc được đồng minh giải phóng, tên Tiệp gian phản quốc Konrad Henlein bị bắt và y đã tự sát bằng cách cắt gân máu ở cổ tay.

    Kẻ phản bội thứ hai là tổng thống bù nhìn Emil Hacha. Sau khi Edvard Benes, tổng thống thứ hai của Tiệp Khắc từ chức, tân tổng thống Emil Hacha là một người nhu nhược. Buổi tối ngày 11 tháng Ba năm 1939, Hitler cho triệu Hacha đến Bá Linh và thông báo cho ý định chiếm toàn bộ Tiệp Khắc bằng võ lực và hứa nếu Hacha chịu hợp tác, Tiệp Khắc sẽ được hưởng quyền tự trị rộng rãi còn nếu nghịch sẽ bị đoàn quân Hitler tấn công Tiệp bằng mọi phương tiện trong đó có cả việc không quân của Đức cày nát thủ đô Prague. Emil Hacha quy thuận Hitler. Dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng y được giữ chức vụ tổng thống bù nhìn nhưng buộc phải tuyên thệ trung thành trước Hitler. Mặc dù có nhiều tài liệu cho thấy Emil Hacha trong thời gian phục vụ Hitler cũng lén lút giúp cho phong trào kháng chiến chống Đức thuộc chính phủ lưu vong của Edvard Benes nhưng công không đủ để chuộc tội cho y. Sau khi Prague được giải phóng vào tháng Năm năm 1945, Emil Hacha bị bắt và chết hơn hai tháng sau đó trong hoàn cảnh bí mật. Y được chôn trong một ngôi mộ không đề bia tại nghĩa trang Vinohrady. Hiện nay, tại nghĩa trang Vinohrady có một tấm bảng ghi dấu nơi chôn của Emil Hacha.

    Jozef Tiso là một kẻ phản quốc đội lốt tôn giáo. Mặc dù thụ phong linh mục nhưng y cũng là một trong những đảng viên nòng cốt của đảng Nhân Dân Slovak. Lợi dụng sự suy yếu của Tiệp Khắc sau hiệp ước Munich, đảng Nhân Dân Slovak do Tiso lãnh đạo tuyên bố Slovak tự trị trong vòng Tiệp Khắc. Vào 13 tháng Ba năm 1939, giống như vừa đe dọa Emil Hacha vài hôm trước đó, Hitler triệu Jozef Tiso đến Bá Linh và buộc y phải tuyên bố Slovak độc lập, tách rời khỏi Tiệp Khắc, nếu không Hitler sẽ thúc giục Hungary và Ba Lan chiếm đóng phần lãnh thổ còn lại của Slovakia. Jozef Tiso cũng tuân phục Hitler và trở nên một cộng tác viên trung thành cho chế độ Quốc Xã. Từ năm 1939 đến năm 1945, Tiso là tổng thống bù nhìn Slovakia chư hầu của Đức. Đảng Nhân Dân Slovak do y lãnh đạo liên kết chặt chẽ với đảng Quốc Xã Đức và chia sẻ quan điểm diệt Do Thái. Khi hồng quân Liên Xô tiến vào chiếm Slovakia tháng Tư năm 1945, Tiso bị bắt và bị kết án phản quốc. Jozef Tiso bị treo cổ ngày 18 tháng Tư năm 1947. Chính phủ Tiệp Khắc chôn y tại một nơi bí mật.

    Chính phủ Tiệp Khắc nhu nhược không quyết tâm bảo vệ đất nước. Phân hóa và thiển cận trong thành phần lãnh đạo của hai sắc dân Slovak và Czecho trong chính phủ Tiệp đã làm thượng tầng kiến trúc lãnh đạo sụp đổ nhanh chóng.

    Tiệp Khắc trong giai đoạn năm 1938-1939 đứng trước những khó khăn và áp lực quá lớn không những từ quốc tế mà ngay cả tại trong nội bộ Tiệp, nhưng thay vì đoàn kết để đương đầu với ngoại xâm, các sắc dân Tiệp đã phân hóa, chia rẽ và tiếp tay làm yếu khả năng đối đầu với Đức.

    Xét về tương quan quân sự. Theo tổng kết của Giáo sư Sử học Carroll Quigley, đại học Georgetown dựa theo các tài liệu thuộc văn khố quân sự Mỹ sau Thế chiến thứ hai, trong giai đoạn đầu thù địch Đức Tiệp bùng nổ, Đức có 36 sư đoàn nhưng không được trang bị đầy đủ trong lúc Tiệp Khắc có 35 sư đoàn thiện chiến và được trang bị một trăm phần trăm hỏa lực. Vào tuần lễ thứ ba của tháng Chín năm 1939, quân đội Tiệp Khắc đã có một triệu quân với 34 sư đoàn tinh nhuệ trong lúc toàn bộ quân Đức để phối trí tại hành lang châu Âu chỉ có từ khoảng 31 đến 36 sư đoàn. Về không quân, vào tháng Chín năm 1938, Đức trội hơn Tiệp Khắc chút ít. Đức có 1500 máy bay trong lúc Tiệp có gần 1000 chiếc nhưng nếu tính cả Anh, Pháp số lượng phi cơ của ba nước cộng lại vượt xa Đức. Liên Xô ủng hộ Tiệp nên cũng gởi 36 phi cơ chiến đấu đến Tiệp qua ngã Rumania. Về chiến xa, tăng của Đức còn yếu hơn tăng của Tiệp Khắc. Ngoại trừ loại tăng thuộc thế hệ Mark III có trang bị pháo 37 li, phần lớn tăng thế hệ Mark II của Đức chỉ trang bị đại liên. Tiệp Khắc có mấy trăm xe tăng hạng nặng 38 tấn trang bị pháo 75 li hiện đại nhất thời đó.

    Nếu đánh nhau với Đức trong một cuộc chiến tranh quy ước, chưa chắc Tiệp đã thua. Mà dù có thua, Tiệp Khắc cũng kéo dài cuộc chiến được một hai năm đủ thời gian cho quốc tế can thiệp hay tìm cách lôi kéo các nước châu Âu vào ván cờ sinh tử. Khi tràn ngập Tiệp Khắc vào tháng Ba năm 1939, Đức tịch thu của Tiệp 469 xe tăng, 1500 phi cơ chiến đấu đủ loại, 43 ngàn súng máy và nhiều triệu súng trường. Số lượng vũ khí đó Đức đã phải tốn hàng năm mới sản xuất được.

    Tiệp Khắc, một quốc gia có điều kiện kỹ thuật tiên tiến nhất châu Âu và từng là một phần của đế quốc Áo Hung hùng mạnh đã bị Hitler xóa tên khỏi bản đồ thế giới không tốn một viên đạn. Với một quân lực cả triệu người và phương tiện đầy đủ nhưng chỉ vì sự yếu hèn của cấp lãnh đạo, Tiệp Khắc trở thành đỉa thịt bò tươi trong bữa cơm chiều của nhiều khách lạ.

    Sau khi Tiệp bị Hitler cưỡng chiếm, hàng ngàn người dân Tiệp yêu nước phải tự phát rút vào chiến tranh du kích chỉ bằng vài tạc đạn và vài khẩu súng ngắn. Nguồn tiếp tế quá xa và kho súng đạn khổng lồ đã bị tịch thu, họ đã phải chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn. Hàng trăm ngàn người Tiệp đã chết dưới bàn tay sắt của tử thần SS Reinhard Heydrich. Tướng SS Reinhard Heydrich, cai trị Bohemia và Moravia (vùng đất Tiệp sau khi sáp nhập vào Đức) được các sử gia đánh giá là tên tướng độc ác nhất trong hàng tướng lãnh công an mật vụ SS Đức. Y là một trong những kiến trúc sư của kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái Holocaust. Hitler ca ngợi Heydrich là “con người có trái tim bằng sắt”. Y bị kháng chiến quân Tiệp ám sát tại Prague vào cuối tháng Năm năm 1942. Đức trả thù tàn bạo. Hai làng Lidice và Lezaky, tình nghi che giấu kháng chiến quân, bị đốt thành tro, tất cả đàn ông đều bị bắn chết, chỉ còn một ít phụ nữ và trẻ em bị đày vào các trại tập trung.

    Sự chịu đựng của nhân dân Tiệp đã để lại nhiều bài học cho Việt Nam khi đương đầu với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

    Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc chủ trương bành trướng xuống vùng Đông Á

    Như đã trình bày trong bài “Hiểm họa Trung Quốc và bài học Thổ Nhĩ Kỳ”, vì các lý do an ninh, chính trị, kinh tế, Trung Quốc phải tìm mọi cách khống chế biển Đông. Hai nỗi lo lớn của giới lãnh đạo CS Trung Quốc là sợ bị bao vây từ bên ngoài và diễn biến hòa bình bên trong nội bộ Trung Quốc. Nhìn quanh, họ chỉ thấy kẻ thù. Thật vậy, hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Quốc, không những về quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc không chỉ giúp giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Tuy nhiên, khác với Đức Quốc Xã, Trung Quốc không dám tung một cuộc tấn công toàn lực như Hitler chuẩn bị cho Tiệp mà chủ trương gậm nhấm từng phần đất, từng ngọn núi và từng hải lý của Việt Nam.

    Nắm được yếu điểm của CSVN, trong lúc tiếp tục phát triển kinh tế, mở rộng ngoại giao với hầu hết các quốc gia từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Trên mặt biển Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam, bắn thủng ghe tàu, thành lập thành phố Tam Sa, đưa hàng ngàn tàu đánh cá ra khơi, tàn sát ngư dân Việt Nam.

    Lãnh đạo CS Trung Quốc biết những hành động lấn ép đó không đủ mạnh, đủ lớn để làm quốc tế lưu tâm. Không một Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc nào rảnh rỗi để bàn chuyện vài chiếc ghe đánh cá của ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” húc ngoài Quảng Ngãi hay đặt vấn đề tại sao các tàu đánh cá Trung Quốc cứ tiếp tục thả lưới trong vùng biển Việt Nam. Những sự kiện ghe tàu đó đối với các cường quốc là chuyện vặt nhưng với một nước nhỏ như Việt Nam nơi có nhiều triệu dân gắn liền với ngư nghiệp lại là chuyện lớn. Đặc tính hèn hạ, nhỏ mọn đó của Trung Quốc là sản phẩm của chế độ độc tài CS và đừng ai hy vọng gì các đặc tính đó thay đổi một khi chế độ sinh ra chúng còn tồn tại.

    Đàm phán với Trung Quốc ư? Đàm phán đa phương quốc tế Trung Quốc không tham dự nhưng đàm phán song phương là rơi vào chiếc bẫy của Trung Quốc. Nếu ai theo dõi chuyện Trung Quốc và Liên Xô tranh cãi nhau về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri sẽ thấy. Các phiên họp tranh cãi chủ quyền kéo dài tới 20 năm, từ thập niên 1970 cho đến 1990 nhưng không đem lại kết quả nào. Mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc chở theo một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc biết dù chở cả xe bằng chứng cũng chưa hẳn thuyết phục được Liên Xô nhưng chỉ muốn kéo dài thời gian đàm phán để chờ đợi thời cơ.

    Tương tự như Hitler, lãnh đạo CS Trung Quốc lợi dụng chính sách ngoại giao mềm của Mỹ

    Trong bài viết "Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước" tôi có dịp trình bày chính sách Mỹ hiện nay là sự bước tiếp nối của chính sách ngăn chận thời Chiến tranh lạnh trong điều kiện toàn cầu hóa. Nhiều người Việt lầm lẫn nghĩ rằng hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh thả neo ngoài khơi Đà Nẵng là để bảo vệ Việt Nam. Thật ra, cả Trung Quốc và Mỹ đều biết dù áp dụng chính sách nào hay dù có thái độ nào, xung đột võ trang giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới có phụ thuộc quá sâu, quá phức tạp về kinh tế không thể xảy ra trong một giai đoạn ngắn tới đây.

    Về phía Trung Quốc, không giống Đức Quốc Xã cần chiến tranh để phục hồi và phát triển, Trung Quốc phải đương đầu với hàng loạt khó khăn trên trong cũng như bên ngoài, việc phát động một cuộc chiến tranh quy mô ở Á châu và Thái Bình Dương như Hitler đã làm với Tiệp Khắc là một điều giới lãnh đạo CS Trung Quốc không dám thực hiện. Hơn ai hết, giới lãnh đạo CS Trung Quốc biết họ phải cần nhiều chục năm kỹ thuật và một ngân sách hải quân khổng lồ mới mong đuổi kịp Mỹ. Ngoài ra, chủ nghĩa Cộng Sản đã chết, Trung Quốc hiện đang sống nhờ vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Thế chiến thứ nhất 1914-1918 dẫn đến tự sụp đổ của Đế Quốc Đức, Đế Quốc Áo Hung, Đế Quốc Ottoman đã dạy họ một bài học: Các đế quốc gây chiến trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng những không thắng mà đều tan rã từ bên trong.

    Về phía Mỹ, ngoài các lý do kinh tế, riêng trong lãnh vực quân sự cũng không phải dễ dàng. Chính phủ Mỹ trong lúc muốn duy trì ảnh hưởng trong vùng, cũng không muốn bị cuốn vào các xung đột mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc đối đầu với chủ nghĩa dân tộc như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam. Tháng Giêng 2011, Tổng thống Barack Obama trải thảm đỏ tiếp đón Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào như quốc khách với 21 phát đại bác chào mừng. Trong buổi tiếp tân, TT Obama ca ngợi “sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước”. Khi trả lời buổi phỏng vấn dành cho tờ Wall Street Journal, Hồ Cẩm Đào công nhận sự quan trọng trong quan hệ tốt giữa Trung Quốc và Hòa Kỳ. Họ Hồ cũng nhấn mạnh đến việc hai quốc gia phải “hành động phù hợp với quyền lợi căn bản của nhân dân hai nước, và tôn trọng quyền lợi chung của hòa bình và phát triển thế giới”.

    Dân biểu Ileana Ros-Lehtinen, thuộc đảng Cộng Hòa, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Hạ Viện trong một văn bản công bố cho báo chí sau đó, đã nghiêm khắc phê bình Trung Quốc không xứng đáng là một cường quốc vì nhiều lý do và một trong những lý do, Trung Quốc đã ngang nhiên xem Biển Đông như là “quyền lợi chính” và xem thường quyền hàng hải và lãnh thổ của các quốc gia vùng Đông Nam Á. Các lãnh đạo Cộng Hòa cũng tố cáo TT Obama đã thực thi chính sách “Nhân nhượng” của Nevill Chamberlain để đối phó với Trung Quốc. Dĩ nhiên, TT Barack Obama phủ nhận những lời kết án này.

    Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc nắm chắc các thành phần lãnh đạo cam thân làm nô bộc cho ngoại bang và không quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

    Trung Quốc biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền che đậy sự sợ hãi trước đàn anh CS Trung Quốc. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương như vậy đừng nói chi là những nước mang số phận sân sau như Việt Nam. Các nước nhỏ như Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đài Loan, Nam Hàn vượt qua được những nhược điểm khách quan và chủ quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Không chỉ Thổ Nhỉ Kỳ cần Anh Quốc mà Anh Quốc cũng cần Thổ Nhĩ Kỳ và tương tự không chỉ Đài Loan cần Mỹ nhưng Mỹ cũng cần Đài Loan.

    Quan hệ Trung Quốc và Việt Nam không giống như quan hệ giữa Mỹ và Philippine hay Mỹ và Nam Hàn. Giới lãnh đạo CSVN không có vị trí độc lập về chính sách đối ngoại. Mọi chính sách trước khi đưa ra đều phải đo lường phản ứng từ phía Trung Quốc. CS Trung Quốc và CS Việt Nam chia sẻ nhau một lịch sử lâu dài từ ngày đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Hai đảng gắn bó về cả vật chất lẫn tinh thần. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của và người của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Nợ máu xương chồng chất. Tuy không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu của bao nhiêu thế hệ từ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết.

    Bài học từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan

    Bài học lớn nhất mà nhân loại học được từ Thế chiến thứ hai là sự thụ động, tiêu cực của con người trước hiểm họa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

    Những kẻ chịu trách nhiệm cho cái chết của 70 triệu người không chỉ là Adolf Hitler, Benito Mussolini và Kideki Tojo nhưng còn là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Tổng thống Pháp Édouard Daladier. Chính người dân Đức đã bỏ phiếu cho Hitler và người dân Anh đã nhảy nhót vui mừng khi lãnh thổ Tiệp rơi vào tay của Đức. Trong một thời gian ngắn trước Thế chiến thứ hai, không chỉ Đức thôi mà cả nước yếu kém hơn Tiệp như Ba Lan, Hungary cũng dự phần vào bữa tiệc nấu bằng thịt xương Tiệp Khắc. Thế chiến thứ hai có thể đã không xảy ra hay xảy ra với mức độ tác hại thấp hơn nếu số lớn nhân loại ngày đó không thỏa hiệp, không đồng lõa với cái ác.

    Từ đó để thấy, việc ngăn chận chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc ngày nay phải là trách nhiệm hàng đầu của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý bởi vì lịch sử chứng minh chủ nghĩa dân tộc cực đoan dẫn đến chiến tranh ngay cả trong trường hợp các kẻ chủ trương cực đoan không muốn. Chưa từng có một trường hợp nào ngược lại. Giới lãnh đạo CS Trung Quốc là những người nhúm lên ngọn lửa dân tộc cực đoan nhưng lửa cháy mạnh hay yếu tùy thuộc vào nhiều yếu tố có khi không nằm trong vòng kiểm soát của họ.

    Các chủ trương đồng hóa và diệt chủng các dân tộc yếu thế là phó sản của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ giai đoạn sau cách mạng Pháp 1789 đến Thế chiến thứ nhất rồi Thế chiến thứ hai cho tới các cuộc chiến đẫm máu vùng Balkans giữa các nước thuộc liên bang Nam Tư cũ, máu nhân loại đã đổ liên tục vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Sau cực tả là cực hữu, bản đồ thế giới chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng như trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua.

    Các nhà phân tích thường dựa vào hậu quả hơn là tìm hiểu nguyên nhân nên không lấy làm lạ ít người so sánh Hitler với Đặng Tiểu Bình. Đa số vẫn đánh giá họ Đặng như một nhà lành đạo CS tiến bộ, mở cửa hiện đại hóa, làm dịu căng thẳng giữa hai khối. Tuy nhiên, quan điểm của Hitler và Đặng Tiểu Bình có nhiều điểm giống nhau hơn cả giữa Hitler và Stalin, Hitler và Mussolini hay Hilter và Mao bởi vì cả hai đã dùng chủ nghĩa dân tộc như một phương tiện để kích thích “niềm kiêu hãnh quốc gia”, vẽ lên trong nhận thức con người về “một loại đất nước huy hoàng tưởng tượng”, làm gia tăng nhất thời sức mạnh kinh tế và tạo áp lực thường xuyên trên các nước yếu hơn trong vùng.

    Nhân loại nguyền rủa Hitler, kết án Mao và phỉ nhổ Stalin, tuy nhiên, nếu chiến tranh bùng nổ tại Á Châu, với dân số 1.3 tỉ người mà bầu nhiệt huyết được đun sôi bằng ngọn lửa hận thù, hậu quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình nhóm lên từ năm 1978 sẽ khủng khiếp đến dường nào. Giữa Hitler và Đặng Tiểu Bình ai tàn ác hơn ai, chưa biết được.

    Có hy vọng nào cho dân tộc Việt Nam?

    Nhìn lại Việt Nam, chưa bao giờ dân tộc lại phải chịu đựng sự phân hóa, chia rẽ trầm trọng như hôm nay. Một người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc nào cũng đau lòng nhận ra điều đó. Tuy nhiên, dù có thể còn khác nhau trong cách trả lời, chúng ta không thể không đồng ý rằng, để cứu đất nước, trước hết phải tháo gỡ chiếc gông độc tài chuyên chính ra khỏi cổ người dân và trả lại cho họ những quyền bẩm sinh mà ai cũng có, đó là quyền làm người, quyền quyết định sinh mệnh của chính mình và của dân tộc mình. Bởi vì, chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ, tự chủ, cường thịnh mới mong thắng được chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

    Trần Trung Đạo

    —————————————————————-
    Tham khảo:

    - David Faber, Munich, 1938 Appeasement and World War II, Simon & Schuster, New York 2009

    - William L. Shirer, The Rise and Fall of the Third Reich, 1995

    - Mark Mazower, Hitler ‘s Empire, How The Nazis Ruled Europe, The Penguin Press, New York 2008

    - Carl K. Savich, Nationalism and War, MarkNews. com, 2008

    - Richard J. Evan, The Third Reich in power, The Penguin Press, New York 2005

    - History of Germany, Wikipedia, the free encyclopedia

    - Interview with Dr. Carroll Quigley, Georgetown University, The Courier, December 12, 1952

    - Hitler’s Plan for Eastern Europe, Selections from Janusz Gumkowkski and Kazimierz Leszczynski

    - World War II database, Munich Conference and the Annexation of Sudetenland

    - Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Woodrow Wilson International Center for Scholars, 2002

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    VN2006A viết:
    Tâm Trần viết:
    VN2006A và Hy Văn có cách đánh giá tiêu cực và sợ hãi Tàu đến mức bất lực. Thế thì quì gối đầu hàng Tàu cho xong à?
    Các bạn nên nhớ là suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam luôn yếu hơn Tàu và nội bộ thường lục đục để đến nỗi Tàu lợi dụng đánh chiếm nhiều lần, nhưng mà rốt cuộc họ vẫn không chiếm nổi, mới còn cái nước Việt Nam như bây giờ.
    ...

    Ừ, VN2006A và Hy văn sợ Tầu đến mức bất lực, ngôn ngữ đại chúng là sợ teo...trym!!!

    Chẳng riêng gì VN2006A và Hy văn sợ, mà nhiều người VN sợ (có lý do). Trong đó có nhiều người thuộc tầng lớp Elite, cán bộ cao cấp dân sự cũng như bên quân đội hẳn hoi!

    Vấn đề không phải là VN2006A hay Hy Văn, mà là Tâm Trần phải giải tỏa, thuyết phục cho những người sợ hết sợ!?

    Những lý lẽ của Tâm Trần viện dẫn ra chưa đủ để giải tỏa, nếu không muốn nói là irrelevant.

    VN có truyền thống chống ngoại xâm, VN giữ gìn được độc lập của mình. Chuyện này nhiều người biết. Nhưng chuyện VN là chư hầu truyền thống của TQ, phải cống nạp, con dấu của vua nhiều khi do Tầu ban cho, phong vương hay có chuyện gì lớn phải bẩm báo với Tầu...v...v...ít người quan tâm.

    Có ý thức thì ít nhiều tìm cách thoát ra khỏi cái truyền thống này(ít ra như các bác Duẩn-Thọ), chứ không phải cùng đường rồi kháng cự, rồi thành công lại hả hê, rồi lại rơi vào vòng cũ.

    PS.: cá nhân mình cho rằng những người kêu gào VN sắp mất nước bởi TQ hay TQ sắp sụp đổ, gặp đại nạn...là những người thần kinh không vững.

    Trước mắt, nên quan tâm đến vấn đề Biển Đông, tìm cách giải tỏa áp lực của TQ, tìm lối thoát thì tốt hơn.

    Vấn đề Biển Đông muốn tìm lối thoát thì phải chuẩn bị kỹ các khâu chứng cứ lịch sử, pháp lý về tính liên tục chủ quyền, dùng cơ sở pháp lý của luật biển quốc tế, vận động ngoại giao, liên kết với các nước quan trọng (Asean) và đủ lực (Mỹ, Ấn, Nhật, châu Âu).

    Hiện nay Asean bị TQ mua chuộc. VN thì bị TQ, Lào, Campuchia bao vây về ngoại giao, kinh tế, chính trị. Chỉ còn Phi, Indonesia là còn lập trường thuận lợi cho VN.

    Cái rất nguy hiểm là người dân VN không rõ, không biết đảng CSVN mua chác gì với TQ ?! Còn hệ thống nhà nước VN hoàn toàn bị đảng CSVN khống chế !

    Ông Sang, ông Dũng không phải là một chủ tịch nước, một thủ tướng bình thường như trong một nhà nước bình thường pháp quyền. Một chủ tịch nước, một thủ tướng chỉ có trách nhiệm giải trình trước quốc hội và tòa án tối cao.

    Một chủ tịch nước, một thủ tướng không được phép giải trình (phê, tự phê) trước ban bí thư của một đảng. Như vậy vừa nguy hiểm cho quốc gia, vừa không có trách nhiệm với chức năng giao phó bởi cử tri

    Tâm Trần viết:
    VN2006A và Hy Văn có cách đánh giá tiêu cực và sợ hãi Tàu đến mức bất lực. Thế thì quì gối đầu hàng Tàu cho xong à?
    Các bạn nên nhớ là suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam luôn yếu hơn Tàu và nội bộ thường lục đục để đến nỗi Tàu lợi dụng đánh chiếm nhiều lần, nhưng mà rốt cuộc họ vẫn không chiếm nổi, mới còn cái nước Việt Nam như bây giờ.
    ...

    Ừ, VN2006A và Hy văn sợ Tầu đến mức bất lực, ngôn ngữ đại chúng là sợ teo...trym!!!

    Chẳng riêng gì VN2006A và Hy văn sợ, mà nhiều người VN sợ (có lý do). Trong đó có nhiều người thuộc tầng lớp Elite, cán bộ cao cấp dân sự cũng như bên quân đội hẳn hoi!

    Vấn đề không phải là VN2006A hay Hy Văn, mà là Tâm Trần phải giải tỏa, thuyết phục cho những người sợ hết sợ!?

    Những lý lẽ của Tâm Trần viện dẫn ra chưa đủ để giải tỏa, nếu không muốn nói là irrelevant.

    VN có truyền thống chống ngoại xâm, VN giữ gìn được độc lập của mình. Chuyện này nhiều người biết. Nhưng chuyện VN là chư hầu truyền thống của TQ, phải cống nạp, con dấu của vua nhiều khi do Tầu ban cho, phong vương hay có chuyện gì lớn phải bẩm báo với Tầu...v...v...ít người quan tâm.

    Có ý thức thì ít nhiều tìm cách thoát ra khỏi cái truyền thống này(ít ra như các bác Duẩn-Thọ), chứ không phải cùng đường rồi kháng cự, rồi thành công lại hả hê, rồi lại rơi vào vòng cũ.

    PS.: cá nhân mình cho rằng những người kêu gào VN sắp mất nước bởi TQ hay TQ sắp sụp đổ, gặp đại nạn...là những người thần kinh không vững.

    Trước mắt, nên quan tâm đến vấn đề Biển Đông, tìm cách giải tỏa áp lực của TQ, tìm lối thoát thì tốt hơn.

    VN2006A và Hy Văn có cách đánh giá tiêu cực và sợ hãi Tàu đến mức bất lực. Thế thì quì gối đầu hàng Tàu cho xong à?
    Các bạn nên nhớ là suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam luôn yếu hơn Tàu và nội bộ thường lục đục để đến nỗi Tàu lợi dụng đánh chiếm nhiều lần, nhưng mà rốt cuộc họ vẫn không chiếm nổi, mới còn cái nước Việt Nam như bây giờ.
    Ngày nay Tàu tuy mạnh nhưng chỉ là mạnh bề nổi mà thôi, cứ xem đồ Tàu và đồ Tây, đồ Nhật, đồ Thái là thấy. Muốn nhìn rõ hơn thì phải so thế này:
    - Anh, Pháp, Mỹ có khoa học cơ bản phát triển làm nền tảng cho kinh tế phát triển bền vững, Tàu thì không. Toàn là học mót người ta, như Nhật hồi đầu thế kỷ 20. Cho nên, Anh Pháp Mỹ có thể vượt qua cái khó của kinh tế xã hội (chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, thuộc địa nổi loạn)khi đi từ tư bản dã man đến tư bản văn minh còn Tàu thì khó khăn hơn nhiều.
    - Anh Pháp Mỹ dựa trên nền văn minh văn hóa phương Tây (Hy-La + Kito + Văn minh khoa học kỹ thuật). Nền dân chủ công hòa của họ có gốc từ dân chủ Athen và cộng hòa La mã từ hơn hai ngàn năm trước. Còn Tàu thì văn hóa truyền thống toàn là độc tài toàn trị mà thôi. Nền dân chủ cộng hòa mới được phôi thai hình thành ở Tàu từ năm 1911 và bị ngắt đoạn dân chủ tự do từ 1949 cho đến tận bây giờ. Cho nên, Anh Pháp Mỹ trong cơn bĩ cực chuyển giai đoạn họ có nền dân chủ tự do điều chỉnh bất ổn chính trị xã hội (mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng). Tàu thì không có.
    - Anh Pháp Mỹ không phải đối mặt với bùng nổ và già hóa dân số. Tàu thì đang và sẽ phải đối mặt với điều đó.
    - Anh Pháp Mỹ lúc chuyển đoạn không phải vào lúc tác hại của biến đổi khí hậu hoành hành ảnh hưởng an ninh lương thực. Ngày nay, Tàu cho dù giàu thứ hai thế giới nhưng chia bình quân cho đầu người thì chưa phải là cao lắm. Điều gì sẽ xảy ra khi hàng tỉ dân thiếu ăn?
    Tàu rõ ràng không thể vượt qua cơn đại nạn đang sắp đến gần. Tuy nhiên, ở gần thằng khùng thì dù nó yếu cũng còn ngại huống chi nó mạnh hơn mình! Cho nên, nhịn thì nhịn vì không muốn nó làm liều nhưng hãi vãi đái thì không. Tất nhiên, nếu nó cứ khùng nên đánh mình thì buộc phải chấp nhận thiệt hại mà kháng cự lại để giữ nước, đấy là điều không thể tránh được khi ta ở sát cạnh thằng điên.
    Nhưng có một cách có thể hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi lỡ xảy ra xung đột với Tàu là VIỆT NAM PHẢI THÀNH CÔNG DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI TRƯỚC TRUNG HOA. Bởi vì:
    - Khi VN dân chủ hóa thành công trước thì chiến tranh bành trướng bá quyền sẽ biến thành nội chiến cách mạng (theo đúng qui luật mà lý luận Lê nin đã chỉ ra) và chỉ có Tàu hứng chịu vì vẫn còn là cộng sản toàn trị độc tài.
    - Việt Trung Xô ở thế liên hoàn Bắc Nam. Xô tan rồi, Việt lại dân chủ nữa thì Tàu cộng sản toàn trị độc tài có còn không? Một nước lớn như Tàu mà chính thể cầm quyền không còn uy mạnh thì sẽ vớ như Liên Xô.
    Vì thế, chuẩn bị quân sự, kinh tế, ngoại giao gì gì đi nữa thì đòn chí mạng mà Việt Nam có thể ra đòn với Tàu chính là CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TIẾN BỘ ở ngay chính đất nước Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam không làm được điều ấy thì dân tộc Việt Nam phải vùng đứng lên làm nếu còn muốn sinh tồn và phát triển.
    Nếu ví Tàu như thùng thuốc súng thì Việt Nam như cái ngòi và cách mạng dân chủ chính là điểm hỏa. Kinh Dịch có câu "biết tự giết mình để làm nên điều nhân", Kinh Thánh có câu "biết chết đi để rồi sống lại". Hồ Chí Minh đã vận dụng nhuần nhuyễn và thành công hai câu ấy cả ở đời tư và sự nghiệp cách mạng chung. ĐcsVN ngày nay học tập được thì tồn tại lâu, không học được thì mau sụp đổ.
    Vai trò của lực lượng dân chủ tiến bộ ở VN trong lúc này là rất quan trọng. Cần phải khẩn trương tập trung lực lượng thành khối thống nhất và tuyên truyền lợi hại của dân chủ hóa xã hội thật sâu rộng để gây sức ép khiến quá trình dân chủ mau sớm thành công, đặng có thời gian chuẩn bị cần thiết đón lõng cơ hội khi Tàu rối loạn.

    Tâm Trần viết:
    Không phải là tự sướng mà là BIẾT ĐỊCH BIẾT TA. Không ai phủ nhận là Trung quốc giỏi hơn Việt Nam, họ đã làm được tàu vũ trụ trong khi VN chế xe máy chưa xong, thậm chí làm cây kim khâu cho ra hồn cũng chưa ổn.
    ...
    Nhận định như thế để thấy giờ đây ta cần nhịn họ như nhịn một thằng "trai phố huyện" mới nổi thích chơi ngông, cũng khá giỏi nhưng khùng và trong mình nó mang những căn bệnh mà nó không dễ vượt qua. Trong trường hợp ta trị được bệnh của mình (tham nhũng, độc tài, toàn trị) trước khi bệnh của nó phát tác thì ta hoàn toàn có thể vùng khỏi sự kiềm tỏa của nó khi nó lăn đùng ra ốm liệt giường và cao chạy xa bay khi nó khỏe lại vào mấy chục năm sau đó.

    Đây vẫn là 1 kiểu tự sướng!!!

    Cứ cho TQ đi vào vết xe đổ của Đức và Nhật đi??? rồi sao, TQ thừa/đủ sức quậy tan tành Đông Nam Á, làm VN thành đống gạch vụn, trước khi TQ ốm liệt giường (như Đức và Nhật).

    Rối sao nữa??? Rồi TQ lại trỗi dậy như Đức và Nhật, còn VN lại như Tiệp, Hung, Ba lan...v...v.... Đây chính là ý của Hy văn!

    Thế liệu VN có không bị những căn bệnh như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, TQ... đã trải qua hay không??? (Nếu VN có khả năng, còn nếu không thì không cần đếm xỉa).

    Nếu nói VN biết cách tránh, lấy gì để nói là TQ không biết cách tránh những căn bệnh nói trên???

    Rất có thể TQ tránh được các căn bệnh nói trên, đồng thời đủ sức trị VN, lấy hết TS-HS.

    Chẳng qua VN lực bất tòng tâm, cóc có gì đối chọi lại được với TQ, nên suốt ngày mơ TQ sẽ sụp đổ, hay TQ mù quáng để bị các nước khác đánh bại. Dĩ nhiên không ai loại trừ các khả năng đó!!!

    Thằng Anamit hay tự sướng, vác truyền thống chống ngoại xâm ra ăn vã, nhưng quên mịa nó mất: sở dĩ anh có truyền thống chống ngoại xâm là vì, 1 trong các yếu tố quan trọng, anh yếu, nội bộ anh lục đục!!! Nên ngoại bang nó mới ngồi lên đầu anh???

    Không phải là tự sướng mà là BIẾT ĐỊCH BIẾT TA. Không ai phủ nhận là Trung quốc giỏi hơn Việt Nam, họ đã làm được tàu vũ trụ trong khi VN chế xe máy chưa xong, thậm chí làm cây kim khâu cho ra hồn cũng chưa ổn.
    Vấn đề nằm ở chỗ: Anh giỏi hơn đã đến mức chinh phục hoàn toàn tôi chưa? Sức mạnh của anh được đến đâu, bền vững hay chỉ là khổng lồ chân đất sét? Người Mỹ giỏi hơn người Việt Nam nhiều, năm 1945 họ cho ta khẩu bazoka với mấy viên đạn mà cho đến tận bây giờ ta cũng chưa thể làm được tốt như thế. Nhưng tại sao họ lại không chinh phục được Việt Nam bằng sức mạnh chiến tranh?
    Nói Trung quốc đi vào vết xe đổ của Đức, Nhật là vì: Qui luật của tự nhiên - xã hội là một nước đi từ phong kiến nông nghiệp lên tư bản dã man bao giờ cũng có các bước 1/ bùng nổ sản xuất hàng hóa, 2/vơ vét khai thác tài nguyên ở các xứ lạc hậu, 3/gây chiến với lân bang để bành trướng lãnh thổ. Đi liền với đó là 4/ Ô nhiễm môi trường nặng nề, 5/ Mâu thuẫn gay gắt giữa công nông và giới chủ, mâu thuẫn giữa hạ tầng cơ sở và kiến trúc thượng tầng.
    Trung quốc tuy mang danh cộng sản nhưng thực tế đến năm 1978 họ chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu. Từ sau cải cách họ mới được như bây giờ. Tức là về thực chất Trung quốc là một nước tư bản trẻ hơn so với Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật. Những gì các nước kia trải qua thì Trung Hoa cũng không thể tránh.
    Trong khi Anh xử lý vấn đề tốt nhất, Mỹ nhận ra sai lầm thì sửa ngay (rút khỏi chiến tranh VN, rút khỏi Somalia), Pháp xử lý vấn đề quá muộn (mất hết thuộc địa rồi mới ngộ) nhưng muộn còn hơn không, thì, Đức và Nhật để tham vọng che lấp hết trí khôn và kết quả ra sao thì ai cũng đã rõ.
    Trung quốc ngày nay tuy mạnh hơn Việt Nam và các nước ASEAN nhưng so với các nước tư bản phát triển thì còn thua xa. Mỹ, Nhật, EU họ tính chuyện kiềm chế Tàu là vì suy nghĩ ngăn ngừa thảm hoa từ xa (bé không vin lớn gãy cành) chứ không phải họ sợ gì Trung quốc và họ rất hiểu Trung quốc như các trung niên trưởng thượng hiểu sự hăng máu của thanh niên nhà quê mới nổi (tao cũng trải qua như mày rồi). Đồ Tàu có thể chinh phục kẻ nghèo chứ người giàu hay người trung lưu không có xài đồ Tàu, coi khing hàng Tàu. Way Tàu cũng là cái xe máy nhưng sao bằng way Thái, way Hàn, way Nhật.
    Nhận định như thế để thấy giờ đây ta cần nhịn họ như nhịn một thằng "trai phố huyện" mới nổi thích chơi ngông, cũng khá giỏi nhưng khùng và trong mình nó mang những căn bệnh mà nó không dễ vượt qua. Trong trường hợp ta trị được bệnh của mình (tham nhũng, độc tài, toàn trị) trước khi bệnh của nó phát tác thì ta hoàn toàn có thể vùng khỏi sự kiềm tỏa của nó khi nó lăn đùng ra ốm liệt giường và cao chạy xa bay khi nó khỏe lại vào mấy chục năm sau đó.

    Ai cũng bảo Trung Quốc đang đi vào vết xe đổ của Đức-Nhật năm xưa, thế mà suốt 60 năm qua Poland, Czech, Hung, Đông Nam Á, Trung Quốc đều thuộc hạng nghèo rách khố khom so với những kẻ bại trận kia? Đừng tự sướng thế, hãy nhìn vào thực tế đi, kẻ xâm lược bao giờ cũng thiệt hại ít hơn, kẻ dám xâm lược nước khác bao giờ cũng ở đẳng cấp cao hơn kẻ bị bắt nạt và tuyệt đối không có chuyện kẻ dám đi xâm lược ngu hơn kẻ bị xâm lược. Chính sách có thể thay đổi nay mai, nhưng nền móng quốc gia thì cần quá nhiều đến sự phấn đấu và hy sinh cật lực của cả cộng đồng. Một dân tộc có thể chịu qua cơn đói và cơn nhục để làm chủ được một công nghệ tiên tiến ăn đứt một dân tộc ngay cả ốc vít cũng phải nhập khẩu.

    Bài viết rất hay! Ngó lại lịch sử mà xét hiện tại rất chuẩn. Xin góp thêm vài ý thế này:
    Trung quốc đang đi lại vết xe đổ của Đức, Nhật năm xưa, đó cũng là chặng đường buộc phải qua theo qui luật một quốc gia đi từ phong kiến qua tư bản dã man đi lên tư bản văn minh.
    Anh, Pháp, Mỹ và một số nước tư bản khác qua dược chặng khốn khó này với ít thiệt hại là vì họ có thể chế dân chủ - cộng hòa thực sự, một số nước khác ở châu Âu hay Canada, Úc, Newzeland ... vượt qua được do họ không có tham vọng bá chủ thiên hạ, không có tính dân tộc cực đoan.
    Trung quốc vừa có tính dân tộc cực đoan, muốn bá chủ thế giới nối chí truyền thống thiên triều đại Hán cổ xưa, vừa không có nền tảng văn minh dân chủ cộng hòa. Thế nhưng lại ham muón bá chủ thế giới đến mức thể hiện quá lộ liễu khi sức mạnh chưa chắc gốc. Ngày nay, Trung quốc từ Đông Á Bệnh Phu (kẻ bệnh hoạn ở vùng đông Á) đã biến thành ĐÔNG Á KHÙNG PHU (thằng điên ở vùng Đông Á). Ép Việt Nam quá thể thì đcsVN sẽ mất chính quyền, Môi hở, răng sẽ lạnh cóng mà rụng.
    Cho nên, vận phát của Trung quốc đã đến lúc sắp đến đỉnh cao chói lọi rồi đi xuống theo chiều thẳng đứng không khác gí Nhật, Đức hồi trước.
    Tương lai dân tộc Việt Nam lúc này phụ thuộc vào ý chí dân chủ của toàn dân tộc Việt Nam. Nếu đcsVN không tự dân chủ hóa được thì toàn thể dân tộc Việt Nam phải đứng lên làm việc đó. Thành công càng sớm, càng có nhiều cơ hội bứt phá vươn lên khi Trung Hoa suy bại rối loạn. Đến khi nó quân bình lại được thì ta đã mạnh rồi, không sợ nó nữa.
    Tuy nhiên, cần chú ý là phải hết sức khôn khéo, không nên chọc giận thằng điên làm gì. Nên theo chiến lược của Mỹ "dần dần co thít nhưng không khiêu khích", và phải xác định rõ CHỈ CÓ THỂ CANG CƯỜNG RA MẶT ĐỐI ĐẦU VỚI TRUNG QUỐC KHI CÁCH MẠNG DÂN CHỦ ĐÃ THÀNH CÔNG Ở VIỆT NAM. Còn cuộc cách mạng đó do đcsVN tự diễn biến hay do dân tộc VN vùng lên làm, phần quyết định thuộc về sức mạnh của lực lượng dân chủ tiến bộ Việt Nam mà các anh chị em thương sinh hoạt ở đây cũng là một phần khá quan trọng. Hãy cố lên!

    Đoàn kết để chống ngoại xâm trong lúc này đã quá muộn . Lãnh đạo thì bám víu vào lý luận ương dở làm cho thế giới coi đó là nhóm lưu manh đểu giả tham lam và họ sẳn sàng đẩy khỏi lưng voi xuống thành kẻ đi ngang với chó. Nhân dân thì lầm than không có cơ hội trao đổi hiểu biết lẫn nhau nhưng lại phải tin tưởng vào lãnh đạo. Có nhiều người chẳng giấu giếm bất mãn nhưng hy vọng chỉ có để Trung Quốc ra đòn thâm để Việt Nam loạn thật thì họa chăng mới làm lung lay cái đế chế tham bạo do Đảng CS VN đang tạo ra . Dân thì chủ quan nghĩ họ chẳng còn gì để mất . Nhưng trước dòng suy tư đó , tôi lại thấy buồn vì đó là một bức tranh tối xám cho cả một dân tộc và muốn nó sáng lên thì lại phải máu , xương và sự hy sinh của bao kiếp người . Bạo lực diễn ra mọi nơi trên thế giới bất chấp nhân loại muốn gì . Còn Việt Nam cô độc đứng chơi vơi mà mong thanh bình thì khó mà lạc quan nổi .