Trương Nhân Tuấn - Cẩn trọng về hiệu lực pháp lý của các bản đồ

  • Bởi Hồ Gươm
    30/07/2012
    21 phản hồi

    Trương Nhân Tuấn

    Nhân nói chuyện về hiệu lực pháp lý của các bản đồ.

    Tấm Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ xuất bản năm 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa

    Dư luận Việt Nam hiện nay đang xôn xao về tấm bản đồ nước Trung Hoa xuất bản năm 1904, dưới thời nhà Thanh, mang tên “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”. Bản đồ này vẽ lãnh thổ của Trung Quốc năm 1904 không có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi người vui mừng cho rằng đó là một bằng chứng rõ rệt chứng minh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc Trung Quốc.

    Theo tôi, không có điều gì chắc chắn để vui mừng hết. Giả sử phía Trung Quốc đưa ra các bản đồ sau đây:

    1/ Bản đồ thế giới do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960. "Trên bản đồ này, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc."

    Nguồn: VN công nhận chủ quyền của TQ? (BBC)

    2/ Cục Bản đồ của Việt Nam xuất bản tấm bản đồ năm 1972, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp."

    Nguồn: Still Arguing (BeijingReview.com.cn)

    Nếu hai tấm bản đồ này có thật, lúc đó phản ứng mọi người sẽ ra sao? Không lẽ bó tay chấp nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc?

    Nếu không lầm, bản đồ 1904 của Trung Hoa, lãnh thổ nước này bao gồm nước Mông Cổ hiện nay. Nếu ta đi ngược thời gian xa hơn, các bản đồ nước Trung Hoa cũng không hề chú dẫn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng trong vài bản đồ lãnh thổ nước này bao gồm nước Việt Nam. Không lẽ phía Trung Quốc trưng tấm bản đồ này thì phải công nhận Việt Nam thuộc Trung Quốc?

    Điều may là các tấm bản đồ thường không có giá trị quyết định trên quan điểm pháp lý.

    Thật vậy, theo thông lệ công pháp quốc tế, "bản đồ" tự nó thường không được nhìn nhận như là một "bằng chứng" mà chỉ được xem như là một "tài liệu - information", để bổ túc thêm cho một "lý lẽ - argument", hay để khẳng định một "thái độ" nào đó của một bên tranh chấp.

    Tấm bản đồ do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960 và tấm do Cục Bản đồ của Việt Nam xuất bản tấm bản đồ năm 1972 tự nó không có giá trị pháp lý, (cũng như tấm bản đồ 1904 của nhà Thanh), nhưng nếu vấn đề tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa được đưa ra một tòa án quốc tế để phân giải, chắc chắn các tấm bản đồ này sẽ được phía Trung Quốc sử dụng nhằm vào việc làm rõ ý kiến của phía Việt Nam (nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trường Sa) qua tuyên bố đơn phương 1958 (thể hiện qua tấm công hàm của ông Phạm Văn Đồng).

    Nhiều vụ án về tranh chấp lãnh thổ do Tòa Án Công lý Quốc Tế (CIJ) phân xử, đa số các trường hợp các bản đồ được các bên trưng dẫn thì không được xem như là "bằng chứng" vì chúng không có tác động trực tiếp đến quyết định của các quan tòa. Yếu tố quyết định cho phán quyết của tòa luôn là "thái độ" của nhà nước đối với vùng lãnh thổ tranh chấp.

    Một tấm bản đồ có giá trị pháp lý chỉ khi nó được đính kèm với các văn bản của một hiệp đinh phân định biên giới. Dĩ nhiên hiệp ước này phải còn hiệu lực (do việc không có hiệp ước nào khác ký kết sau này thay thế). Tuy vậy, nhiều trường hợp lịch sử cho thấy nhiều tấm bản đồ phân định biên giới đã không phù hợp với nội dung của công ước. Trong trường hợp này, theo thông lệ quốc tế, văn bản có hiệu lực "cao" hơn bản đồ. Một số trường hợp khác, bản đồ phân định, cũng như nội dung văn bản, cả hai đều không phù hợp với địa hình trên thực địa. Như trường hợp phân định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh biên giới giữa Bắc Kỳ và các tỉnh Hoa nam năm 1887, hầu hết nội dung các biên bản phân định cũng như các bản đồ đính kèm đều không phù hợp với địa hình trên thực tế (xem thêm phần tham khảo). Trường hợp này, các công trinh phân giới sau này (1888-1897) cùng với bộ bản đồ vẽ trên kết quả cắm mốc, mới có giá trị thực sự. Tuy vậy, trong các hồ sơ chính thức hiện nay được lưu trữ trong các thư viện thế giới, đường biên giới Việt Trung 1887 chỉ thể hiện qua 3 trang mô tả sơ sài cùng với các bản đồ (hoàn toàn sai) đính kèm. Vì thế nhiều học giả trên thế giới đã có nhận định sai trong các công trình nghiên cứu vì chỉ dựa trên nội dung của công ước mà không tham khảo tài liệu giai đoạn phân giới.

    Trường hợp đặc biệt cũng nên nói lại sau đây, là tranh chấp hai nước Thái Lan và Kampuchia về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear. Nguyên nhân tranh chấp là tấm bản đồ đính kèm công ước vẽ không đúng với nội dung công ước. Theo tấm bản đồ (vẽ sai) này, ngôi đền thuộc về lãnh thổ Kampuchia trong khi nội dung văn bản xác định đường biên giới là đường phân thủy của một rặng núi. Trên tinh thần đó ngôi đền phải nằm trên lãnh thổ Thái Lan. Nội vụ tranh chấp được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế (CIJ). Lý ra, hiệu lực nội dung văn bản có giá trị cao hơn bản đồ, tức ngôi đền phải thuộc về Thái Lan, nhưng vì thái độ của nhà nước Thái Lan (về ngôi đền) trong nhiều thời kỳ đã khiến quan tòa phán quyết chủ quyền ngôi đền Preah Vihear thuộc về Kampuchia. Xét thấy trường hợp này (thái độ của nhà nước Thái) khá trùng hợp với thái độ của nhà nước VNDCCH và CHXHCNVN về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, người viết dẫn ra đây vài đoạn để mọi người cùng suy nghĩ cho tình trạng tranh chấp lãnh thổ giữa đất nước mình với Trung Quốc hầu kịp thời tìm kiếm một phương án giải quyết.

    Tranh chấp hai bên Thái - Miên về ngôi đền Preah Vihear được đưa ra Tòa án Quốc tế ngày 6 tháng 10 năm 1959. Vụ án có mã số CIJ 65.

    Vụ xử ngôi đền Preah Vihear xảy ra ngày 15 tháng 6 năm 1962. Những đoạn quan trọng được ghi lại như sau (nguồn CIJ):

    Ngôi đền cổ Preah Vihear ở trong tình trạng hoang phế, tọa lạc trên một mỏm núi thuộc rặng Dangrek. Rặng núi này là biên giới giữa hai nước Thái Lan và Cambodge. Tranh chấp có nguyên nhân từ việc phân định biên giới bắt đầu từ năm 1904 đến năm 1908 giữa nước Pháp, đại diện Đông Dương, và nước Xiêm. Việc phân định này dựa lên công ước ngày 13 tháng 2 năm 1904. Công ước này đã thiết lập một cách tổng quát hướng đi đường biên giới. Đường này được xác định cụ thể bởi một ủy ban phân định hỗn hợp Pháp-Thái.

    Ở khu vực có ngôi đền Preah Vihear, (theo nội dung công ước) đường biên giới phải theo đường phân thủy. Ngày 2 tháng 12 năm 1906, một ủy ban hỗn hợp ra thực địa xác định đường phân thủy. Từ tháng giêng – tháng hai năm 1907, ủy ban Pháp đã báo cáo lên chính phủ của họ rằng đường biên giới đã hoàn toàn được phân định.

    Việc cuối cùng của công trình phân định là vẽ bản đồ đính kèm. Nhà nước Xiêm, vì không có phương tiện lỷ thuật, đã yêu cầu nhân sự phía Pháp để thành lập các bản đồ vùng biên giới. Các bản đồ đã được một ê kíp người Pháp hoàn tất vào mùa xuân năm 1907. Một tấm bản đồ của công trình này được giao cho nhà nước Xiêm, theo đó đền Preah Vihear nằm trên lãnh thổ Khmer.

    Tấm bản đồ đính kèm nói trên chưa bao giờ được công nhận bởi ủy ban hỗn hợp. Vì Ủy ban này đã ngừng hoạt động trước khi bản đồ được thiết lập. Tòa cho rằng, nguyên thủy, tấm bản đồ này không có tính bắt buộc. Nhưng trong hồ sơ phân định, bộ bản đồ đã chuyển lên chính phủ Thái như là kết quả của công trình phân định biên giới. Nhà cầm quyền Thái đã không có phản ứng nào (về các tấm bản đồ này) từ thời kỳ đó, cũng không có phản ứng nào trong nhiều năm sau. Do đó phải kết luận rằng nó đã được sự chấp nhận chính phủ Thái. Nếu phía Thái đã chấp nhận tấm bản đồ đính kèm mà không làm các cuộc nghiên cứu, thì bây giờ họ không thể vịn vào lỗi lầm này để làm vô hiệu điều mà họ đã chấp thuận.

    Nhà nước Xiêm, sau đó là Thái Lan, chưa bao giờ đặt vấn đề về bản đồ đính kèm trước năm 1958, là lúc hai bên Thái và Cambodge đã mở những cuộc thuơng thảo về chủ quyền ngôi đền. Trong khi đó, vào các năm 1934-1934, một cuộc trắc địa đã cho thấy có sự khác biệt giữa đường phân thủy trên thực tế và đồ tuyến biên giới trên bản đồ. Một số bản đồ khác đã được thiết lập, trong đó đặt ngôi đền thuộc lãnh thổ Thái Lan. Nhưng phía Thái Lan vẫn tiếp tục sử dụng, thậm chí in ra, những tấm bản đồ theo đó ngôi đền Preah Vihear thuộc về phía Cambodge. Mặt khác, trong khoảng thời gian thuơng thuyết về hiệp ước Pháp - Xiêm 1925 và 1937, mà các hiệp ước này khẳng định hiệu lực của đường biên giới. Hay là vào năm 1947, trước ủy ban hòa giải Pháp - Xiêm tại Washington, đáng lẽ phía Thái đã đặt lại vấn đề chủ quyền ngôi đền, thì họ đã không làm gì cả.

    Kết luận lại, như thế Thái Lan đã chấp nhận đường biên giới như đã vẽ trong bản đồ, cho dầu nó có phù hợp hay không phù hợp với đường phân thủy của rặng Dangrek.

    Vì vậy, Tòa cho rằng, trong vùng tranh chấp, đường biên giới là đường xác định trên bản đồ và sẽ không cần thiết để tìm hiểu là đường biên giới này có phù hợp với đường phân thủy hay không.

    Trở lại trường hợp Việt Nam. Ở đây ta thử so sánh thái độ của nhà nước Thái về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear đã được tòa CIJ phân tích ở trên với thái độ của nhà nước VNDCCH (và các nhà nước kế thừa) về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


    công hàm 1958 của chính phủ VNDCCH do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

    Ta thấy nhà nước VNDCCH đã mặc nhiên đồng thuận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các động thái:

    1/ Tuyên bố đơn phương qua công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Tuyên bố này ủng hộ "Tuyên bố về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc", trong đó mặc nhiên nhìn nhận việc "ủng hộ" hải phận 12 hải lý của các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Tức mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.

    2/ Các bài báo trên Nhân Dân khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Các bản đồ của các cơ quan trực thuộc nhà nước VNDCCH (như hai tấm bản đồ dẫn trên) xác định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Trên phương diện pháp lý, các bài báo trên Nhân Dân hay các bản đồ của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam hay của Cục Bản đồ của Việt Nam đều không có giá trị pháp lý. Nhưng ở đây chúng có giá trị của "tài liệu – information" nhằm làm sáng tỏ nội dung tuyên bố đơn phương 1958 của Phạm Văn Đồng. Đối với công pháp quốc tế, các tuyên bố đơn phương có giá trị ràng buộc.

    Mặt khác, nhà nước VNDCCH đã "im lặng" trước tuyên bố "chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc tại Hoàng Sa" vào tháng giêng năm 1974, vài ngày trước khi dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa. Nhà nước VNDCCH cũng im lặng sau đó khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa. Theo thông lệ quốc tế, hành động (xâm lăng Hoàng Sa của Trung Quốc) đòi hỏi hai miền Việt Nam phải có một thái độ. VNCH đã lần lượt biểu lộ nhiều động thái quan trọng nhằm phản đối hành động của Trung Quốc đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa trước các diễn đàn quốc tế. Thái độ im lặng của nhà nước VNDCCH có thể so sánh với sự "im lặng" lâu dài của nhà nước Thái về tấm bản đồ vẽ sai. Đó là sự im lặng "mặc nhiên đồng thuận".

    Ta thấy vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa phức tạp và khó khăn hơn trường hợp của Thái về ngôi đền Preah Vihear. CHXHCNVN, nhà nước kế thừa của nhà nước VNDCCH, phải đối diện cùng lúc hai yếu tố pháp lý: 1/ tuyên bố đơn phương và 2/ mặc nhiên đồng thuận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Chỉ cần một trong hai yếu tố này đủ để Việt Nam mất chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Bộ Luật Biển 2012 của Việt Nam vừa công bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một điều đúng và cần thiết. Bộ Luật này cũng xác nhận hiệu lực hải phận các đảo của Việt Nam đúng theo tinh thần Luật Quốc tế về Biển, cũng là một điều đúng và cần thiết. Đúng vì nó phù hợp với thực tế và lịch sử. Cần thiết vì nó làm gạch nối cho thế hệ tương lai. Nhưng nó chỉ có hiệu lực thực sự khi mà Trung Quốc từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa (qua một trọng tài phân xử).

    Với một hồ sơ như thế người ta không ngạc nhiên khi nhà nước CSVN không dám đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra trước một trọng tài phân giải. Trong khi đó, với khả năng về quốc phòng đang lên, Trung Quốc có thể chiếm các đảo Trường Sa còn lại đang ở trong tay Việt Nam đồng thời dành phần lớn thềm lục địa và vùng biển Việt Nam theo bản đồ chữ U. Việc "ngư dân" Trung Quốc hiện nay một lúc 30 chiếc thuyền, cùng với các tàu hộ vệ của hải quân Trung Quốc, đang hoành hành đánh bắt hải sản ở các đảo thuộc Trường Sa làm người ta liên tưởng đến những ngày tháng giêng năm 1974, lúc sắp đánh Hoàng Sa. Ở đây, trước khi đánh, "ngư dân" Trung Quốc đổ bộ lên các đảo. Khi hải quân VNCH can thiệp thì hải quân Trung Quốc ra tay "bảo vệ". Rất cỏ thể Trung Quốc sẽ lập lại phương pháp cũ.

    Lúc đó, với một hồ sơ như thế, Việt Nam vô phương đòi lại Trường Sa (chứ đừng nói Hoàng Sa). Với sức mạnh và nhiều tiền trong tay, Trung Quốc muốn hoạch định biển với Việt Nam thế nào lại không được?

    Vấn đề vì thế, cấp bách, là phải làm các thủ tục để kế thừa di sản VNCH để có một thế đứng chính thống trước quốc tế. Hiện nay chưa có nước nào chính thức công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (kể cả Pháp). Với một hồ sơ như thế thì ai mà công nhận?

    Trương Nhân Tuấn

    ______________________________________________

    Xem thêm:

    - Tìm hiểu nguyên nhân mất đất Tụ Long vào tay Trung Quốc qua các hiệp định Pháp-Thanh về biên giới 1887 và 1895
    - Biên giới tỉnh Hải Ninh. Nguyên nhân Việt Nam mất huyện Giang Bình và đất thuộc hai tổng Kiến Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Hải Ninh.
    - Thử tìm hiểu tranh chấp Thái-Miên về ngôi đền Preah Vihear
    - Lịch sử tranh chấp chủ quyền "l’enclave Pak-lung" cùng các đảo Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu trong vịnh Vạn Xuân
    - Tìm hiểu đường biên giới Việt-Trung: Lào Cai

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    21 phản hồi

    Phản hồi: 

    Động thái của chính quyền thời xưa đã sai. Về lý ta có những điều đuối lý. Trên thực tế, Tàu chiếm và kiểm soát phần lớn, lại còn xây dựng được thành phố và tổ chức hành chính quản lý quần đảo.

    Đáng ra ta phải hiểu được mình đã sai, và sửa sai càng sớm càng tốt. Nhưng động thái của chính quyền thời nay thì sao:

    - Cấm đội bóng No U thi đấu
    - Cấm người dân mặc áo No U
    - Cấm dân biểu tình chống Trung quốc xâm lấn, chiếm biển đảo

    Những hành động đó là phản động chứ không thể gọi là cực đoan. Trong khi Trung quốc ngoài việc lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của ta, tự sửa bản đồ của ta phát hành, chúng còn đưa vào chương trình địa lý phổ thông đường ranh giới chữ U. Như vậy, họ thực thi chiến dịch xâm lược bằng mọi phương diện: tài liệu, xâm lược (chiếm đảo và quản lý), tuyền truyền trong nhân dân, phát triển về quân sự, v.v...

    Còn ta... chẳng làm gì, nếu có chăng chỉ là cấm dân hiểu đúng và cấm các hành động bảo vệ cũng như biểu lộ lòng yêu nước trong dân. Ta có thể đánh giá chính quyền của ta thế nào đây?

    Phản hồi: 

    1/ Ban đầu, đọc những bài viết của anh Tuấn tôi cũng bực lắm. Đã nghĩ "có khi tên này là tình báo Tàu?". Tuy nhiên, sau đó nghĩ lại có người phản biện (mà là phản biện ra phản biện) cũng là cái hay. Chúng ta có thể lường hết mọi nhẽ về lý luận.
    2/ Về việc đòi lại HSTS. Tôi nghĩ rằng lý luận như đang diễn ra bấy lâu nay chỉ là có tác dụng chính trị trong nước và ngoại giao là chính. Không thể xa hơn.
    Kiện ra tòa quốc tế, cho dù thắng đi nữa mà Tàu nó không thi hành án thì làm điếu gì được nó? Chưa kể nó lấy thế nước lớn lắm của nhiều tiền trong thời khủng hoảng để thao túng thủ lợi, thắng thua nơi tòa án chưa biết chắc thế nào. Kiện làm gì!!!
    3/ Hãy tập trung vào:
    - Làm cách mạng dân chủ tiến bộ trong nước diệt trừ quan liêu tham nhũng. Khi văn hóa tư tưởng chính trị của VN khác Tàu, tiến bộ hơn Tàu thì cơ thắng đã là trên 50% rồi.
    - Liên kết với các nước có cùng mục tiêu kiềm chế Tàu (như Mỹ, Philipin, Úc ...), đặc biệt là các nước cũng đang bị Tàu đe dọa như Nhật, Ấn, (thậm chí cả Nga cũng ít nhiều lo ngại Tàu mạnh thì mất viễn đông và siberi, chơi với Tàu chỉ là giải pháp tình thế). Cùng các nước này làm ra hàng hóa rẻ hơn, tốt hơn của Tàu. Tàu hết tiền (nuôi dân đông) lại thêm thất nghiệp nhiều thì có mà hung hăng vào mắt.
    - Mua sắm vũ khí, rèn luyện quân sự chờ thời cơ quyết chiến khi tất cả đã chín muồi.
    4/ Còn bây giờ thì phải bình tĩnh, chớ mắc mưu khiêu khích của địch. Đến như Bắc Hàn còn phải lột trần dân Tàu đánh cho một trận, Nga hạ nòng pháo bắn thẳng vào tàu cá Trung quốc thì vận Tàu không còn được lâu nữa. Vừa mới rồi, Putin còn úp mở muốn mời Đạt lai lạt ma qua Nga chơi thì có thể thấy ngày Tàu sập tiệm chắc không còn xa. Chiến tranh bành trướng bá quyền tất biến thành nội loạn cách mạng ở Trung quốc.
    5/ Anh em ta tranh luận thì cứ tranh luận cho thêm hiểu biết nhưng xin gắng bình tĩnh, không nên nóng giận chụp mũ nhau.

    Phản hồi: 

    [quote=Bùi Văn Nịt]

    Khách Test bảo Nga bán Alaska cho Mỹ là sai, Canada bán Alaska cho Mỹ đấy chứ. Alaska thuộc châu Mỹ chứ ở thuộc vùng Viễn Đông của Nga đâu.[/quote]

    Mặc dù Alaska thuộc Châu Mỹ, nhưng trước đó Nga chiếm giữ và (Nga, Russia) đã bán lại cho Mỹ (USA) năm 1867 với giá 7,2 triêu USD.

    The Alaska Purchase was the acquisition of the Alaska territory by the United States from Russia in the year 1867 by a treaty ratified by the Senate. The purchase, made at the initiative of United States Secretary of State William H. Seward, gained 586,412 square miles (1,518,800 km2) of new United States territory. Originally organized as the Department of Alaska, the area was successively the District of Alaska and the Alaska Territory before becoming the modern state of Alaska upon being admitted to the Union as a state in 1959. (Wikipedia)

    Phản hồi: 

    [quote=Yamaguchi]Những tấm bản đồ mà anh Tuấn đưa ra rằng "bản đồ VN in như thế". Xin đính chính lại thế này: Hồi ấy kỹ thuât in của VN không in được mầu. Cho nên, những bản đồ ấy là do Tàu in giúp. Danh nghĩa ghi là của VN vậy thôi nhưng không phải do VN in.
    Mãi đến sau 1975, hình như tiếp quản nhà in của VNCH thì ta mới in được bản đồ 4 mầu. Nhân lô đầu tiên ra lò, chú tôi có mang về biếu ông tôi một tấm bản đồ VN và một tấm bản đồ thế giới. Bản đồ VN (in sau 1975) ghi rõ là Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Bản đồ thế giới (in năm 1972) ghi Tây Sa, Nam Sa của Tàu.
    Sở dĩ tôi nhớ được việc này là do có người nhà làm ở bên đồ bản. Ngày đó, tôi còn nhỏ, thấy mấy vị chú bác cũng chửi Tàu về chuyện in đảo của ta thành của họ. Và hỏi chú tôi là sao lại ghi Nam Sa và Tây Sa của Tàu, sau này cãi nhau thì sao? Chú tôi giải thích, do họ in cho ta, ta phản đối họ bảo là nhầm, cứ tạm dùng đi. Đang chiến tranh, mải giải phóng giải phiếc lên tạm gác lại.
    Thông qua việc này, một lần nữa thấy rõ thêm bộ mặt thâm hiểm sâu xa của người Tàu. Chơi với họ chỉ có thiệt chứ không bao giờ được lợi. Vừa định viết một bài về bản đồ lợi dụng danh ta tàu in đểu thì anh Tuấn đã xì ra thông tin này.[/quote]

    Những điều bạn trình bày trên đây, theo tôi khả tín. Tuy nhiên đây không phải là bằng chứng. Bằng chứng về những dữ kiện bạn kể phải do nhà nước, qua các cơ quan có trách nhiệm và liên hệ với phía Trung quốc in bản đồ Việt nam thời ấy xác nhận thì mới hy vọng có giá trị như bằng chứng tại tòa án.

    Ngay cả có bằng chứng về việc này, chúng ta cũng vấp phải khó khăn cần giải thích tại sao chúng ta biết sai mà không lên tiếng sửa đổi, không phản đối... Rốt cuộc, đây là sai lầm của chính quyền thời ấy. Sai lầm này, có thể làm suy yếu hiệu năng đòi hỏi chủ quyền trên HS-TS. Ông Tuấn muốn giải thích lý lẽ của Trung quốc sẽ như thế nào đối với vấn đề này. Đó là họ sẽ dùng BCH và những hành động sau đó để hổ trợ lý lẽ của họ. Chúng ta ở đây, nếu muốn quên hay giấu dẹm chuyện này cho khỏi bận tâm thì sẽ lãnh cái gáo nước lạnh Trung quốc tạt vào, lúc đó giải thích làm sao cho thuận tai tòa án chứ cáo buộc ông Tuấn là Hán gian cũng không phải là cách hữu hiệu.

    Tóm lại, nếu mình nghĩ bản đồ có chỉ lợi cho mình thì mình tự lừa dối mình cho để thõa mãn tâm lý tự mãn chứ không thể lừa thế giới được.

    Phản hồi: 

    Khách Test bảo Nga bán Alaska cho Mỹ là sai, Canada bán Alaska cho Mỹ đấy chứ. Alaska thuộc châu Mỹ chứ ở thuộc vùng Viễn Đông của Nga đâu. Không thể so sánh hai kiểu bán này được. Canada bán một vùng đất cho Mỹ nhằm lợi cho cả hai bên, vùng này khó làm ăn và nó giáp với Nga. Bên bán bên mua sòng phẳng, không lệ thuộc vào nhau mà độc lập với nhau. Còn kiểu bán nước của CS thì là nguyện làm nô lệ cho ngoại bang, mất độc lập, giống như Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống. Nếu như chọn làm nô lệ cho Tàu, cho Liên xô và cho Pháp thì cứ để Pháp đô hộ còn hơn. Đằng này ta đã đổ xương đổ máu giành độc lập từ tay Pháp rồi lại làm nô lệ cho Trung quốc thì ra đổ bao nhiêu xương máu là đổ xuống sông xuống biển à?
    Trung quốc đã từng bán Macao và Hồngkông cho nước ngoài có thời hạn, nhưng là để lợi cho họ. Ví dụ thôi nhé, nếu như bây giờ ta bán đảo Phú quốc cho nước ngoài vài ba chục hay một trăm năm để họ đầu tư, rồi sau này họ trả lại ta (kiểu này thực chất là cho thuê) thì cũng chẳng sao. Nhưng bán cả đất nước để vì "16 chữ vàng", làm nô lệ ngoại bang là có tội với tổ tiên và dân tộc.

    Phản hồi: 

    Trung Quốc đã lừa dư luận , đưa ra các ngôn từ, hình ảnh , giấy tờ hỏa mù tràn ngập thế giới đã quá đủ rồi . Người VN không nên , không cần tiếp tay , tiếp sức để các thông tin đó choán hết bộ nhớ của loài người . Bây giờ , mỗi người là một chiến sĩ , dưới ngòi bút , đầu mũi lê đều nhằm chĩa về quân xâm lược Trung Quốc . Ai không ý thức được điều đó thì phải gọi là Hán gian . Có thể đem ông Trương Nhân Tuấn ra để xét lại .

    Phản hồi: 

    Nhân bài này xin góp một ý nhỏ như sau: Một phần trong việc giành lại/bảo vệ chủ quyền HS+TS (cũng như biển và đất) cho VN là cố gắng thuyết phục và tranh thủ dư luận quốc tế.

    Nhưng trong một số bài viết của người Việt tố cáo những hành vi làm chủ quyền của VN chuyển tay sang kẻ khác là hành vi "bán nước". Có thể rằng với dân tộc VN "bán nước" là điều tuyệt đối không thể chấp nhận vì đó là truyền thống, và cũng do "bán nước" thường đi đôi với "cầu vinh" ích kỷ cho cá nhân, giòng họ riêng nên bị xem như hoàn toàn xấu xa.

    Trong khi "bán nước" đối với nhiều nền văn hóa trên thế giới là chuyện bình thường và sòng phẳng "tiền trao, cháo múc", hai bên đều có lợi thì có gì phải tố cáo, luận tội, phân trần, bào chữa? Và trên thực tế đã từng có rất nhiều vụ bán nước: nào Pháp bán vùng Louisiana cho Mỹ, Nga bán rẻ Alaska cho Mỹ. Thế giới nào lên án kẻ bán, bênh vực phía bị thiệt hại trong những vụ này?

    Tóm lại, thiết nghĩ nên tránh dùng từ "bán nước" trong việc tranh thủ dư luận quốc tế.

    Phản hồi: 

    Nếu như đưa vụ kiện chủ quyền HS và TS ra tòa án quốc tế thì chưa biết thắng thua như thế nào. Thế nhưng qua vụ này thì thấy rõ chính quyền của cụ Hồ Chí Minh có tội với đất nước và dân tộc. Người ta chỉ biết đổ tội cho ông Đồng, nhưng chắc ông Đồng phải thừa lệnh của chủ tịch nước là cụ Hồ đang nằm trong mả nổi ở Ba Đình. Rõ là

    KHÔN VỚI DÂN, DẠI VỚI NƯỚC NGOÀI, KHÔN VỚI NGƯỜI LƯƠNG THIỆN DẠI VỚI KẺ LƯU MANH.

    Đối với đồng bào miền Nam ruột thịt cùng anh em một nhà thì gây căm thù sâu sắc, dùng đủ mọi mưu ma chước quỷ, xương máu đánh cho bằng được, trong khi đó lại để cho ngoại bang cướp đảo. Còn ngay trước mắt đang diễn ra thì cướp đất của dân nghèo lại dâng đất cho ngoại bang. Tất cả chỉ vì cái CNXH.

    Trước kia thì ngay bản đồ quan sự của nước ta, Trung quốc cũng in hộ. Hồi đánh nhau với Tàu năm 1979, các cấp chỉ quy quân đội của ta vẫn dùng bản đồ quân sự do Trung quốc in đấy thôi. Còn ngay nay thì không biết.

    Phản hồi: 

    [quote=HongLac]Tôi không biết rõ bác Trương Nhân Tuấn (TNT) là ai, chỉ đọc và hiểu những gì đã đọc trong các bài viết của bác ấy. Có nhiều bác, chắc do cảm tính nên hiểu sai ý của bác TNT. Theo tôi hiểu thì bác TNT hoàn toàn cả quyết HS-TS là của Việt Nam (không có ý gì bảo là của TQ), chỉ bảo là CHXHCN VN không thụ đắc hoàn toàn hợp pháp quốc tế và thuyết phục chủ quyền nầy, nên làm những việc thuyết phục và hợp pháp quốc tế hơn để thụ đắc chủ quyền đó; Trong khi TQ có thể có những bằng chứng thuyết phục hơn nên cần đề phòng.[/quote]

    Bác Hồng Lạc và những ai nghĩ giống bác Hồng Lạc,

    Dường như bác Hồng Lạc đọc câu này của Trương Nhân Tuấn (http://danluan.org/node/13347) mà không hiểu nó có nghĩa gì:

    [quote=TNT]
    Với những phân tích sơ lược ở trên ta có thể kết luận danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa vẫn chưa hề thụ đắc (de jure).
    [/quote]

    1. Nếu nói 1 nước (VN) chưa hề thụ đắc (de jure) danh nghĩa chủ quyền đối với một phần lãnh thổ (HSTS) thì là nói nước đó không/chưa có chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó (HSTS), thì là nói vùng lãnh thổ đó (HSTS) không/chưa là của nước đó, đó bác Hồng Lạc ạ.

    Trừ khi TNT không hiểu "thụ đắc (de jure) danh nghĩa chủ quyền" là gì, nhưng dùng cho nghe oai, thì mới không phải như trên.

    2. Các bác nên hiểu cho là trong luật quốc tế chỉ có quốc gia (=lãnh thổ + dân cư + chính phủ) mới có thể có chủ quyền đối với lãnh thổ. Trong luật quốc tế, dân tộc (nếu không bao gồm CP) không phải là 1 legal personality có chủ quyền đối với lãnh thổ. Vì vậy, nếu nói CHXHCNVN (tức là quốc gia) không có chủ quyền với HSTS thì theo luật quốc tế là nói dân tộc VN cũng không có chủ quyền với HSTS.

    Các bác có ghét CS cay ghét đắng thì tùy các bác, muốn làm gì họ thì tùy các bác, nhưng nếu vì ghét CS mà nói CHXHCNVN (tức là quốc gia) không có chủ quyền với HSTS, thì xin lỗi, tôi phải nói là xxx (tự kiểm duyệt).

    3. Các bác, kể cả Trương Nhân Tuấn, nên hiểu cho là nếu vào ngày 2/7/1976 CHXHCNVN đã không thừa kế chủ quyền đối với HSTS từ CHMNVN thì chủ quyền đó đã rơi vào tay TQ ngày đó rồi.

    4. Các bác, kể cả Trương Nhân Tuấn, nên hiểu cho là nếu vào ngày 2/7/1976 CHXHCNVN đã không thừa kế chủ quyền đối với HSTS từ CHMNVN, thì ngày nay và trong tương lai không có thủ tục nào có thể làm cho VN thừa kế nó nữa (vì nó đã rơi vào tay TQ rồi, ngày nay đâu còn ở trong tay VNCH để mà VN thừa kế). Các bác, kể cả Trương Nhân Tuấn, nên hiểu cho là nếu vào ngày 2/7/1976 CHXHCNVN đã không thừa kế chủ quyền đối với HSTS từ CHMNVN thì cách duy nhất để cho VN có CQ đó là TQ từ bỏ nó.

    Tức là quan điểm

    [quote=TNT]
    Với những phân tích sơ lược ở trên ta có thể kết luận danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa vẫn chưa hề thụ đắc (de jure).
    [/quote]

    là vừa nhảm nhí, vừa là đường cùng cho Việt Nam.

    Như Phạm Thanh Vân và tôi viết ở đây:

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/07/120707_legal_scs_comment.s...

    VN ngày nay đã thừa kế CQ đối với HSTS (cùng với các vùng lãnh thổ khác phía nam vĩ tuyến 17) từ VNCH.

    Vấn đề là trong việc tranh thủ dư luận CP VN có dám mạnh miệng nói VNCH là 1 quốc gia khác biệt với VNDCCH hay không.

    Phản hồi: 

    Tôi không biết rõ bác Trương Nhân Tuấn (TNT) là ai, chỉ đọc và hiểu những gì đã đọc trong các bài viết của bác ấy. Có nhiều bác, chắc do cảm tính nên hiểu sai ý của bác TNT. Theo tôi hiểu thì bác TNT hoàn toàn cả quyết HS-TS là của Việt Nam (không có ý gì bảo là của TQ), chỉ bảo là CHXHCN VN không thụ đắc hoàn toàn hợp pháp quốc tế và thuyết phục chủ quyền nầy, nên làm những việc thuyết phục và hợp pháp quốc tế hơn để thụ đắc chủ quyền đó; Trong khi TQ có thể có những bằng chứng thuyết phục hơn nên cần đề phòng.

    Nói rằng CHXHCN VN khác VNDCCH, CHXHCN VN kế thừa VNCH hợp pháp quốc tế thì chỉ mị được dân thôi chớ không thể “mị” được TQ và quốc tế. TQ dễ dàng chứng minh CHXHCN VN chính là VNDCCH, cùng ĐCSVN “anh em, môi hở răng lạnh” toàn trị, cùng quốc kỳ, quốc ca, cùng Thủ tướng và cả cùng Quốc hôị Đảng cử, dân (bị ép) bầu. Quốc tế thì biết và thấy rõ năm 1975, VNDCCH (North Vietnam) vi phạm Hiệp định Paris 1973 sử dụng quân đội (bạo lực) tấn công và chiếm giữ VNCH (South Vietnam).

    Về “tính liên tục” thực thi chủ quyền. Thực thi liên tục chủ quyền thì chỉ làm được khi thực thể còn hiện hữu. Khi Pháp chiếm đóng và cai trị Viêt Nam thì làm sao Việt Nam trực tiếp thực thi chủ quyền liên tục được. Khi TQ chiếm đóng HS năm 1974 từ VNCH và năm 1975 VNCH bị VNDCCH giết chết thì làm sao VNCH thực thi chủ quyền liên tục cho đến ngày nay được? Các quốc gia trước đây như Tây Tạng, hay các quốc gia Trung Á và Đông Âu (một vài) bị Nga sáp nhập vào Liên Bang Xô Viết thì làm sao thực thi chủ quyền liên tục trong khi bị nước khác chiếm đóng. Phải tìm hiểu xem những trường hợp nầy thì quốc tế (Toà án quốc tế) xét xừ ra sao?

    Về vấn đề Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng thì những bàn luận của các nhà luật học quốc tế cũng không thống nhất, tức là “có giá trị” và “không có giá trị”. Không có giá trị vì năm 1958 (và ngay cả cho đến 1975) VNDCCH không quản lý, không có chủ quyền hợp pháp quốc tế HS và TS nên TQ không thể áp dụng “estoppel” doctrine được. Nhưng vì sau năm 1975, VNDCCH chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và đổi thành nước CHXHCN VN thì TQ có thể sử dụng doctrine nầy (estoppel) để đòi CHXHCN VN phải thi hành thoả thuận trong Công hàm nầy. TQ thành công hay không về điểm nầy thì chưa biết được. Nhưng để Việt Nam có cơ sở pháp lý quốc tế tốt hơn để vô hiệu hoá hoàn toàn Công hàm đó thì Việt Nam nên làm một cái gì đó khác hơn là chỉ tuyên bố “Việt Nam chó chủ quyền không thể tranh cãi đối với HS và TS”.

    Phản hồi: 

    Những tấm bản đồ mà anh Tuấn đưa ra rằng "bản đồ VN in như thế". Xin đính chính lại thế này: Hồi ấy kỹ thuât in của VN không in được mầu. Cho nên, những bản đồ ấy là do Tàu in giúp. Danh nghĩa ghi là của VN vậy thôi nhưng không phải do VN in.
    Mãi đến sau 1975, hình như tiếp quản nhà in của VNCH thì ta mới in được bản đồ 4 mầu. Nhân lô đầu tiên ra lò, chú tôi có mang về biếu ông tôi một tấm bản đồ VN và một tấm bản đồ thế giới. Bản đồ VN (in sau 1975) ghi rõ là Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Bản đồ thế giới (in năm 1972) ghi Tây Sa, Nam Sa của Tàu.
    Sở dĩ tôi nhớ được việc này là do có người nhà làm ở bên đồ bản. Ngày đó, tôi còn nhỏ, thấy mấy vị chú bác cũng chửi Tàu về chuyện in đảo của ta thành của họ. Và hỏi chú tôi là sao lại ghi Nam Sa và Tây Sa của Tàu, sau này cãi nhau thì sao? Chú tôi giải thích, do họ in cho ta, ta phản đối họ bảo là nhầm, cứ tạm dùng đi. Đang chiến tranh, mải giải phóng giải phiếc lên tạm gác lại.
    Thông qua việc này, một lần nữa thấy rõ thêm bộ mặt thâm hiểm sâu xa của người Tàu. Chơi với họ chỉ có thiệt chứ không bao giờ được lợi. Vừa định viết một bài về bản đồ lợi dụng danh ta tàu in đểu thì anh Tuấn đã xì ra thông tin này.

    Phản hồi: 

    Trong bài này ông Tuấn chỉ nhắc lại rất ít về công hàm 1958 chứ không "bám vào" như vài vị "yêu nước" kết tội. Mong các vị giữ cái đầu lạnh và đọc lại tiêu đề bài viết. Ăn nói thế nào với quốc tế về 2 tấm bản đồ của Việt Nam? Đừng cố cãi đó đều là do Trung Quốc tự in, người ta cười vào mặt Việt Nam toàn một lũ trẻ con.

    Ông Tuấn cũng chỉ ra thứ tự mạnh yếu của các bằng chứng, lý lẽ:

    1. Giá trị nhất là thái độ
    2. Thứ nhì là văn bản, hiệp ước
    3. Thứ ba mới là bản đồ (vì vẽ sai nhiều)

    Việt Nam có gì? Bản đồ mới hơn của nhà Thanh công nhận HS-TS thuộc Trung Quốc. Công hàm Phạm Văn Đồng. Thái độ đồng tình hoàn toàn (Ung Văn Khiêm 1956) hoặc im lặng ngầm đồng tình (1/1974) khi Trung Quốc nhảy lên đảo.

    Lý lẽ của Việt Nam yếu mọi mặt. Nếu các vị là người Trung Quốc thì hãy thành thật tự hỏi: Các vị có điên để tuột mất miếng mồi ngon dâng tận miệng này không? Hãy nhìn thẳng vào sự thật bằng cái đầu duy lý, đừng nhắm mắt mà "yêu nước", vô ích.

    Thách chính quyền Việt Nam dám đem vụ này ra tòa quốc tế, thua chắc luôn. Có câu ngu thì chết, chuyện rất bình thường. Ra luật biển, bật đèn xanh cho dân chúng biểu tình cũng chỉ mong cố giữ nguyên mọi thứ trong tình trạng "tranh chấp" như hiện tại là tốt rồi, như vậy còn có đường trên biển mà đi. Phía TQ chắc chắn không ngán VN ở vụ đảo nếu ra tòa quôc tế. Nó chỉ ngập ngừng ở vụ biển, vì tự nó biết đường lưỡi bò... hơi tham, chạm thềm lục địa, đụng UNCLOS, DOC.

    Ông Tuấn đặt hy vọng mong manh vào 2 "bóng ma" thực dân Pháp và VNCH. Nhưng có lẽ mãi là vô vọng, vì với nhà nước CHXHCN VN và nhân dân Việt Nam anh hùng thì 2 thực thể đĩ-điếm-đáng-khinh-bỉ này đã chết vùi xác từ lâu, không đáng được coi là một chính thể, ai còn lôi lên làm gì nữa. Chính quyền CHXHCN VN là đại diện hợp pháp duy nhất từ trước đến nay và mãi về sau trên dải đất chữ S này.

    Phản hồi: 

    [quote=Khách Bùi Văn Nịt]Tôi là nông dân, ít học, ít hiểu biết, nhưng hay nói thẳng, nhờ trời mấy hôm nay thời tiết xấu, không đi làm được nên tôi có thời gian lên mạng. Đọc bài của ông Nhân Tuấn, tôi xin hỏi ông:
    - Ông nêu những luận điểm và bằng chứng (không thuyết phục) như thế là ông đứng về phía Trung quốc hay ông đứng về phía Việt Nam? Ông có bênh Trung quốc không?
    Mông ông trả lời ngắn gọn cho. Sau đây tôi có một vài ý kiến: Các bằng chứng HS và TS là của nước ta đã rõ ràng, đã được công bố trong nhiều tài liệu. Nay tôi chỉ đưa thêm vài câu hỏi: Năm 1974 Trung quốc đánh chiếm HS do chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý. Nếu của Trung quốc thì tại sao Trung quốc phải đem quân đi đánh chiếm và phải chết bao nhiêu người? Năm 1988 và 1992 Trung quốc lại đem quân đi đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa. Nếu các đảo ấy của Trung quốc thì việc gì Trung quốc phải đem quân đi cướp?
    Có điều đáng trách của nhà cầm quyền CS là không bắt chước Philipin và Pa lau dám kiên quyết dùng vũ lực để đuổi tàu Trung quốc ra khỏi lãnh hải của mình. Mặt khác không tuyên bố rõ ràng trước toàn dân thái độ của mình đối với việc bảo vệ biển đảo này mà lại đàn áp người dân biểu tình chống Trung quốc. Phải chăng trong việc này có gì khuất tất?[/quote]

    Bác Bùi Văn Nịt là một người có nhiều ý kiến tôi thường thích đọc và đồng ý. Nhưng ý kiến này của bác, khi hỏi ông rằng ông Trương Nhân Tuấn đứng vê phía TQ hay VN, thì tôi phải thành thật KHÔNG ĐỒNG Ý với bác. Tại sao? Xin thưa là tôi rất thất vọng với câu hỏi này của bác, và tôi tự hỏi ông Trương Nhân Tuấn đã làm gì để bác nghĩ ông ấy KHÔNG đứng về phía VN. Thử hỏi những điều ông TUẤN nêu ra trong bài này hay những bài khác, có SAI hay không? Nếu bảo ai là người đứng về phía TQ, thì tôi xin nói thẳng là những ai đã nhân danh chính phủ hợp pháp của VN để gửi công hàm chính thức cho TQ thừa nhận HS và TS là của TQ, những kẻ đó mới đứng về phía TQ, và phản bội lại quyền lợi của Tổ quốc, dân tộc VN. Việc ông TUẤN nêu ra những SAI TRÁI và NGUY HẠI của cái Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng, và nhất là nêu ra những giải pháp để HÓA GIẢI cái công hàm quái ác này, RÕ RÀNG là vì quyền lợi của VN, RÕ RÀNG là đứng về phía của VN. Bởi vì, nói lên SỰ THẬT và tìm cách sửa chữa những SAI LẦM do ĐCSVN gây ra mới THỰC SỰ hữu ích và tốt hơn ngàn vạn lần tự ru ngủ chính mình qua những lời "giải thích" kiểu TỰ SƯỚNG hay kiểu ĐÀ ĐIỂU VÙI ĐẦU VÀO ĐỐNG CÁT, tự mình bưng tai, bịt mắt chính mình, không thấy những HIỂM NGUY đàng rình rập, và cuối cùng để cho HSIS lọt vào tay TÀU.

    Về việc ông TUẤN nêu ra cái hiệu lực thấp của BẢN ĐỒ (nếu không đi kèm với văn bản) trong việc đánh giá chủ quyền khi tranh chấp lãnh thổ, theo tôi, là HOÀN TOÀN chính xác như trong một số bài phân tích về tranh chấp lãnh thổ của các chuyên gia về luật quốc tế đã nêu ra (như trong cuốn sách "Biên Giới Đại Dương của TQ" của Tiến sĩ Greg Austin chẳng hạn). Lấy thí dụ, như cái bản đồ thời TQ nhà THANH năm 1904 không có vẽ HS TS hiện đang được dư luận bàn tán sôi nổi, tuy là CÓ LỢI cho phía VN ta, nhưng cũng như nhiều bản đồ tương tự do các triều đại phong kiến TQ vẽ trước năm 1909 (như trong luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Nhã mà tôi đã post trong một ý kiến trước đây) tự chúng không thể giúp cho phía VN chứng minh rằng HSTS không thuộc về TQ trước năm 1909. Bởi vì, như đã nói trên đây, đối với các tòa án quốc tế phân xử các tranh chấp lãnh thổ, thì các bản đồ, nếu không có VĂN BẢN đi kèm, giá trị hiệu lực sẽ THẤP và thường không được tòa dựa vào để quyết đoán. Chúng chỉ được quan tòa xem như là THÔNG TIN và dùng để HỖ TRỢ cho các lý lẽ mà thôi. Chỉ các bản văn mới có giá trị LỚN HƠN nhiều. Mà tiếc thay, Công hàm Phạm Văn Đồng là một BẢN VĂN theo loại này, cũng như các SẮC LỆNH của các chính phủ v.v...

    Có người nói rằng bài này của ông TNT là tạt nước lạnh vào lòng yêu nước của người dân VN. Theo tôi, cáo buộc thuộc loại này là RẺ TIỀN và VÔ CĂN CỨ, không đáng cho ta quan tâm. Nếu bảo ý kiến của ông TUẤN là TẠT TUYẾT vào lòng yêu nước của người dân VN, thì xin hỏi các bác và quý vị rằng, trong lúc TQ đang hung hăng lấn chiếm biển đảo của tổ quốc ta, đang giết chóc, cưỡng hại ngư dân ta, đang trắng trợn ra mặt ĂN CƯỚP HSTS của tổ tiên ta qua viễ thành lập thành phố TAM SA, và kêu gọi đấu thầu khai thác trên ngay vùng Đặc Quyền Kinh Tế của ta, mà những vị lãnh đạo chính phủ và Quân đội nhân dân VN, như ông Nguyễn Thiện Nhân, Phùng Quang Thanh lại lên tiếng tỏ lòng TRI ÂN TQ, thì đây là tạt chất gì lên lòng yêu nước của nhân dân ta đây? Đem so với bài viết của ông TUẤN thì thấy thế nào? Ai đã TẠT NƯỚC vào MẶT toàn dân VN? Sao các bác không lên tiếng trách móc họ đi.

    Phản hồi: 

    Đọc các bài viết của ông TNT về chủ quyền của VN với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hầu hết chỉ thấy ông xoay quanh cái công hàm 1958, chứ không hề đưa ra được lý lẽ nào thuyết phục.

    1)Trung Quốc luôn tuyên bố có chủ quyền lịch sử (lâu đời) với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng chính họ đã phản lại lịch sử của mình, bởi vì bản đồ năm 1904 không hề có chúng.
    2)Theo UNCLOS, chủ quyền được xác lập chỉ khi quản lý liên tục và hòa bình, chứ không phải thông qua hành động cưỡng chiếm.
    3)Trước thời điểm năm 1904, nhiều tư liệu và bản đồ của phương Tây cũng như VN đã chứng minh rằng VN có chủ quyền với 2 quần đảo này (qua việc khai thác và sử dụng liên tục)… cho đến thời điểm bị Trung Quốc xâm chiếm (thời điểm từ năm 1956 đến năm 1988). Một hành động đánh chiếm là không được thừa nhận về mặt hiệu lực xác lập chủ quyền.
    4)Công hàm 1958 thì đã có nhiều phân tích rồi (nên không nói lại nữa), đã có rất nhiều tài liệu và bài viết chứng tỏ là nó không giá trị về mặt pháp lý.
    5)Sau cùng, một nước như Trung Quốc, mạnh hơn VN về mọi phương diện thì có lẽ sẽ không cần phải “nhờ” VN xác nhận “chủ quyền của mình” qua một cái gọi là 'công hàm'. Đó chỉ là “lý lẽ yếu đuối” để bao biện cho hành động ăn cướp.

    Phản hồi: 

    Theo tôi hiểu thì để Tòa An' Công Lý Quốc tế sớm được hình thành xem xét chủ quyền HSTS thuộc về ai thì chắc chỉ có 3 cách .Đó là tự VN và Trung Quốc cùng đâm đơn ra tòa , hay 2 bên VN-TQ choảng nhau tơi bời ở một đảo nào đó , ví dụ như ở Phú Lâm . Tình hình nước Biển Đông sẽ sôi lên và không còn cách nào khác , Quốc tế , HĐBA phải lập ra Tòa án Công Lý hoặc các ỦY BAN đặc biệt để giải quyết . Việc phổ biến các bằng chứng lịch sử rộng rãi cho toan thế giới nhằm tìm sự hậu thuẫn của Công Lý cũng như triệt tiêu tư tưởng sẵn sàng đánh VN vì HSTS của người TQ VÌ HỌ đang luôn cho rằng HSTS thuộc TQ. Cách cuối cùng là cùng thế giới áp chế đuổi TQ ra khỏi HSTS .

    Phản hồi: 

    Tôi là nông dân, ít học, ít hiểu biết, nhưng hay nói thẳng, nhờ trời mấy hôm nay thời tiết xấu, không đi làm được nên tôi có thời gian lên mạng. Đọc bài của ông Nhân Tuấn, tôi xin hỏi ông:
    - Ông nêu những luận điểm và bằng chứng (không thuyết phục) như thế là ông đứng về phía Trung quốc hay ông đứng về phía Việt Nam? Ông có bênh Trung quốc không?
    Mông ông trả lời ngắn gọn cho. Sau đây tôi có một vài ý kiến: Các bằng chứng HS và TS là của nước ta đã rõ ràng, đã được công bố trong nhiều tài liệu. Nay tôi chỉ đưa thêm vài câu hỏi: Năm 1974 Trung quốc đánh chiếm HS do chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý. Nếu của Trung quốc thì tại sao Trung quốc phải đem quân đi đánh chiếm và phải chết bao nhiêu người? Năm 1988 và 1992 Trung quốc lại đem quân đi đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa. Nếu các đảo ấy của Trung quốc thì việc gì Trung quốc phải đem quân đi cướp?
    Có điều đáng trách của nhà cầm quyền CS là không bắt chước Philipin và Pa lau dám kiên quyết dùng vũ lực để đuổi tàu Trung quốc ra khỏi lãnh hải của mình. Mặt khác không tuyên bố rõ ràng trước toàn dân thái độ của mình đối với việc bảo vệ biển đảo này mà lại đàn áp người dân biểu tình chống Trung quốc. Phải chăng trong việc này có gì khuất tất?

    Phản hồi: 

    Tại sao mình cứ bị dị ứng với bác Tuấn là bởi vì 90% các bài về HS, TS của bác là cứ nhằm vào cái công hàm 1958 (người Việt có tính rất xấu là nhằm vào cái sai của người khác để hả hê sung sướng mới thôi), đương nhiên đó là sự thật, là một sai trái của Phạm Văn Đồng, tuy nhiên kể cả khi không có cái công hàm đó thì cũng không làm biến thể tính chất của vấn đề biển Đông. Trung Quốc áp đặt chủ quyền tại biển Đông bất chấp mọi chứng cứ pháp lý của nước khác và quốc tế, nhìn Scarborough thì biết. Và quốc tế thì họ chẳng công nhận cái mấy cái đảo tranh chấp là của nước nào cả, tất cả các chính phủ trên thế giới ngoài các quốc gia tuyên bố chủ quyền đều xem đó là các đảo tranh chấp, không đứng về bên nào. Vấn đề chủ quyền ở đây nó gắn với địa chính trị, kinh tế, cách ứng xử của các bên mà ảnh hưởng đến cách hành xử của quốc tế. Còn để thực sự giải quyết được nó hay không chỉ phụ thuộc nội lực của các quốc gia tranh chấp, sống với một thằng bá cường tính khí chí phèo, thì chỉ có tàu to súng lớn mà thôi, tuyệt không có cách nào khác. Mà muốn có tàu to súng lớn lại không biến mình thành con tốt cho các cường quốc tiêu khiển thì chỉ có cách xây dựng nội lực quốc gia gồm có các yếu tố then chốt như: cơ chế, khoa học công nghệ, trình độ tổ chức,...
    Cũng là lèo lái đến chố chúng ta cần hướng đến, nhưng phải nhìn gốc, chứ nhìn ngọn, nay mai cái ngọn ấy thay đổi thì hậu nhân lại chả chửi cho tiền nhân xui dại mà thực chất vấn đề không thay đổi.

    Phản hồi: 

    Dĩ nhiên với tư cách một người nghiên cứu khoa học, thì ông Tuấn phải rất thận trọng và cầu thị. Tôi tán thành ý thức này của ông Tuấn.

    Tuy nhiên, qua đọc các bài báo của ông Tuấn, tôi thấy ông Tuấn luôn dội, phải nói là băng tuyết chứ không phải là nước lạnh, vào ngọn lửa ái quốc của dân VN. Ông cứ tự đọc lại các bài viết của mình về Biển Đông trên các blog và web đã đăng.
    Đương nhiên phải tỉnh táo, nhưng cách thức góp ý của ông thì quá ông nội người ta. Và tôi còn tự đặt câu hỏi khó trả lời : ông có ăn tiền của một thằng 3 tàu nào đó, mà luôn kết luận, chỉ cần thiếu một chứng cứ pháp lý nào đó là dân VN mất biển Đông; còn tụi 3 Tàu thì chẳng cần có đủ mọi chứng cứ cũng nuốt đuợc Biển Đông.
    Thử hỏi có phải ông đang tư vấn cho Tàu để nó nuốt biển Đông không? Mà người tư vấn thì luôn được trả thù lao xứng đáng, nhất là tư vấn cho một vụ làm ăn tầm cở thiên niên kỷ này!

    Đứng có nóng! Ráng mà tiêu hóa cái còm này, ông Tuấn nhé!

    F 361

    Phản hồi: 

    Trong bài này , ông Trương có những sai lầm sau:
    1/ Văn bản của 2 vương quốc quân chủ Cam-Thái chỉ cần Vua gật là xong khác với văn bản của VN phải theo thể chế lập hiến . Vua gật có hiệu lực pháp lý với quốc gia khác , còn với VN và các nước lập hiến , văn bản của một số quan chức không không có giá trị với quốc gia khác trừ khi hai bên có các công ước công nhận các loại văn bản này .
    2. Do ở biển Đông đang có tranh chấp bởi ai cũng tự nhận mình là chủ nhân của HSTS ,nhưng thủ tục " thụ đắc" chỉ là giả tưởng chứ không có luật nào quy định cụ thể phải như thế nào và vào thời điểm nào thì còn quyền và thời điểm nào thì hết quyền . Giong như luật dân sự , hình sự đều có thời hạn tố tụng và hết hạn tố tụng. Nên ông Trương đã nêu ra một khái niệm mơ hồ " thụ đắc" không có giá trị .
    3/Sự việc đang xảy ra ở Biển Đông , theo nguyên tắc của thì Tòa Công Lý Quốc Tế sẽ xem xét sự việc HSTS để xác nhận chủ nhân của HSTS là của ai .Sau đó mới cần đến Tòa án Quốc tế về luật biển nếu các nước không tự thỏa thuận được với nhau về việc chia vùng
    4/ Ông Trương NT đã không chú ý đến tài liệu mà Tòa án Công Lý QT cần để giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ( cũng như đảo có người ở , có sự sống) không những gồm các văn kiện pháp lý mà còn gồm các bằng chứng, các tập quán quốc tế với tính chất là những chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như những qui phạm pháp luật cũng như các nguyên tắc đã được hình thành từ lâu đời được các quốc gia văn minh thừa nhận.
    Sự thừa nhận ở chỗ các quốc gia đã vẽ bản đồ , giao dịch quan hệ vào thời điểm đó như đã xem HSTS là của VN.
    5. Cái cốt lõi là TQ cho rằng HSTS thuộc TQ do có chủ quyền lịch sử, NHƯNG khi đem bằng chứng lịch sử thì HSTS lại thuộc VN. Bản đồ ,tập quán quốc tế đã bổ xung quý giá cho việc khẳng định HSTS thuộc về VN.
    Tóm lại là phía VN phải khẩn trương đào tạo một Uỷ ban nghiên cứu Luật pháp quốc tế chuyên về Biển Đông để sẵn sàng tham mưu mọi vấn đề về tranh chấp ở Biển Đông. Riêng luật biển VN có tỷ lệ đồng 495/496 để khẳng định VN hầu hết các ông nghị hiểu rõ luật Biển QT hay các Luật QT khác để tự tin giải quyết trong tương lai vấn đề Biển Đông thì quá chi là lạc quan mạo hiểm.Kết hợp với ông Trương NT cứ hay chỉ ra các việc "thụ đắc" mơ hồ thì bơi không biết đến ngày nào thấy đảo. Nghĩ mà nản quá .

    Phản hồi: 

    [quote]Ông Trương Nhân Tuấn nói:

    "Vấn đề vì thế, cấp bách, là phải làm các thủ tục để kế thừa di sản VNCH để có một thế đứng chính thống trước quốc tế. Hiện nay chưa có nước nào chính thức công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (kể cả Pháp). Với một hồ sơ như thế thì ai mà công nhận?"[/quote]

    Không biết ông có thể giải thích rõ hơn:

    1. Các thủ tục để kế thừa di sản VNCH là gì?

    2. Theo tôi hiểu từ nhận định trên của ông, thì tức là ông cho rằng trong 37 năm qua VN đã không kế thừa di sản VNCH? Và nghĩa là VN đã không kế thừa chủ quyền HSTS từ VNCH và chủ quyền HSTS hẳn đã thuộc về một nước nào khác?

    Và theo như ông thì bây giờ làm xong các thủ tục kế thừa rồi thì có thể làm thay đổi được việc nước nào có chủ quyền với HSTS? Ông có thể cho tôi biết ông dựa trên điều khoản nào của luật quốc tế không?

    Tôi xin cảm ơn trước.

    Phản hồi: 

    Vấn đề là tất cả các bản dồ của VN dưới CQ VNDCCH đều do TQ in. VN có quyền chỉ đích danh TQ đã lợi dụng vị thế của mình để cướp HS và TS của VN. Tôi nghĩ đó là lí do tại sao CP TQ hầu như không nhắc tới các bản đồ này dù họ có hàng đống mà chỉ nhắc tới Công hàm PVĐ mà thôi.