Alan Phan - Những hỏa mù trong canh bạc

  • Bởi Admin
    05/07/2012
    4 phản hồi

    T/S Alan Phan

    Cái giá phải trả là sự khốn đốn của mọi người ngoài cuộc.

    Gần đây tôi từ chối không nhận làm diễn giả cho nhiều hội thảo về tài chánh hay kinh tế vì tôi nghĩ rằng các thân hữu trong đám khán thính giả có lẽ biết nhiều hơn tôi về thực trạng hàng ngày của nền kinh tế xứ này. Họ phải đối diện với sự thật và phải tìm giải pháp cụ thể cho cá nhân, nhân viên và khách hàng; vài lý thuyết hay vài câu khích lệ không giúp họ được gì. Trong khi đó, đám chuyên gia trên tháp ngà như tôi thì lại tùy thuộc vào những số liệu vô cùng mâu thuẫn của nhiều cơ quan công và tư để phân tích và tìm kết luận. Rác đầu vào, rác đầu ra. Dị ứng với rác, tôi nghĩ im lặng là thái độ hợp thời.

    Lấy những thảo luận về tái cấu trúc ngân hàng làm thí dụ. Tôi tin rằng ngay cả Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) cũng không nắm rõ con số nợ xấu thực sự của các ngân hàng thương mại. Ông Thống Đốc vừa tuyên bố là khoảng 10% dư nợ thì vài ngày sau đó, con số thống kê của NHNN là 4.6% . Trong khi đó, Fitch Rating đưa ra con số 13% chưa tính nợ xấu từ các doanh nghiệp nhà nước (chỉ Vinashin và Vinalines đã tổng cộng đến 6 tỷ USD). Một tư liệu của một ngân hàng tư nhân cho một ước tính không kiểm chứng được là 27%.

    Lập một công ty mua bán nợ xấu mà không biết số nợ là bao nhiêu; rồi chưa chắc là bán cho ai với giá như thế nào, thì chỉ có các đầu óc siêu việt mới dám kinh doanh kiểu này.

    Một yếu tố khác không ai rõ là tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại. Có nhiều xếp hạng 1, 2, 3, 4 gì đó, nhưng NHNN chi viện thường trực nên thứ hạng có thể thay đổi theo ngày theo giờ. Chánh sách khoanh giãn nợ vừa ban hành làm bức tranh mờ tối thêm. Rồi lượng tiền 300 ngàn tỷ NHNN vừa bơm ra đã chạy về đâu? Nếu dùng để mua nợ xấu thì lập thêm một công ty mua bán nợ xấu phải chăng là để hợp thức hóa số tiền đã sử dụng hay là một thủ thuật khác cho dòng tiền chạy quanh và biến mất?

    Một câu hỏi khác là NHNN có biện pháp và khả năng điều tra những sở hữu chéo của các cổ đông lớn kiểm soát ngân hàng và các công ty con của họ? Những tin đồn trên mạng Internet nêu đích danh những chủ ngân hàng rút ruột ngân hàng của mình (thực sự là OPM của khách hàng) và của nhà nước bằng những giao dịch “ảo” (tôi cho anh vay, anh cho thằng B vay, thằng B cho thằng C vay, rồi C quay lại cho tôi vay). Cứ mỗi lần tiền đổi tay, chúng ta lại thu thêm một số tiền phí và hoa hồng. Sau một hồi, khi tiền hết thì ngân hàng mất thanh khoản; nhưng may thay, đã có NHNN nhẩy vào mua các nợ xấu. Một công ty công cộng nhỏ ở Mỹ (các blue chips thì chắc chắn không dám) mà xoay tiền lối này qua các giao dịch chéo giữa những đối tác sẽ bị huýt còi và điều tra ngay.

    Khi Cơ Quan Dự Trữ Liên Bang Mỹ (Federal Reserve) in tiền để cứu viện qua các gói QE 1, QE 2 hay Twist, họ phải được sự chấp thuận của Quốc Hội qua những cuộc điều trần trực tiếp chiếu trên các mạng truyền thông đại chúng. Ngược lại, tôi có cảm giác là các quan chức và chuyên gia VN cố tình đưa ra những con số rất đối nghịch với mục đích làm rối mù thực tại, khiến không ai có thể rút ra một kết luận chính xác hay hợp lý. Càng nhiều phân tích bình luận, càng dễ làm người quan tâm lạc lối và cuối cùng quay qua đọc các bài hay các hình ảnh về siêu sao hay đại gia, dễ hiểu hơn.

    Một cách giữ niềm tin khác cho khách hàng (người dân, nhà đầu tư nội ngoại, cơ quan thẩm định, các mạng truyền thông…) là sự thẳng thắn trả lời những tin đồn và đưa ra bằng chứng về sự sai lầm của những tin đồn này. Nếu tin đồn đúng thì phải công nhận và đưa ra các giải pháp cụ thể cho công chúng tường tận. Giấu diếm che đậy chỉ làm tin đồn lạm phát và tiếng nói chánh thức của nhà nước bị nghi ngờ và chế diễu.

    Hiện nay, tin đồn lớn nhất trong giới tài chánh là dư nợ nhiều ngân hàng phần lớn là cho các công ty con của các cổ đông lớn vay. Số nợ của một vài cá nhân còn cao hơn dư nợ của nhiều ngân hàng nhỏ và khi NHNN chi viện, tiêu chí nào đã được dùng để bơm tiền?

    Bất cứ ai truy tìm trên Net cũng đều biết về các tin đồn này. Một cuộc họp báo về các tin đồn sẽ gây dựng niềm tin nơi công chúng nhiều hơn là các cuộc điều trần tại quốc hội.

    Do đó, khi các bạn BCA hỏi tôi về tình hình hiện tại hay dự đoán tương lai về nền kinh tế này, hay về các tin đồn trên mạng, tôi im lặng vì thực sự tôi không “biết” hay “đoán” được gì. Nếu đây là ý định của những vị lãnh đạo và nhóm lợi ích, thì các hỏa mù họ tung ra đã thành công. Kế hoạch nhiễu thông tin này tạo nên một “bất ổn” (uncertainty) khiến các thành phần kinh tế “bất động” và những người trong cuộc (insiders) có thể lợi dụng tình thế để thâu tóm, khởi động hay đầu cơ rất hiệu quả.

    Cái giá phải trả là sự khốn đốn của mọi người ngoài cuộc.

    Alan Phan

    _________________________________

    Mạnh Quân - Lỏng lẻo hệ thống giám sát tài chính Việt Nam

    Từ trường hợp Công ty Chứng khoán Sacombank có một câu hỏi rất lớn được đặt ra về hiệu quả hoạt động thực sự của hệ thống giám sát tài chính hiện nay, nhất là trong các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, chứng khoán.

    Mấy ngày qua, các nhà đầu tư chứng khoán bị sốc khi Công ty Chứng khoán Sacombank công bố số lỗ khủng khiếp: 788 tỷ đồng. Trong khi trước đó, giai đoạn 2007-2010, công ty này được cho là có lợi nhuận khá cao hàng năm từ vài chục đến vài trăm tỷ đồng mỗi năm. Công ty này cho biết, có số lỗ trên là do chi phí lãi vay và dự phòng quá cao, gần 1.000 tỷ đồng- trong khi doanh thu chỉ đạt 953,28 tỷ đồng. Cho nên, nếu tính gộp toàn bộ lãi SBS làm ra từ 2007 đến 2010 cũng chỉ bằng hai phần ba khoản thua lỗ của năm 2011.

    Từ trường hợp thua lỗ của Công ty Chứng khoán Sacombank và một số ví dụ trước đây ở những doanh nghiệp niêm yết báo cáo trước thì lãi, báo cáo sau thì lỗ... có một câu hỏi rất lớn được đặt ra về hiệu quả hoạt động thực sự của hệ thống giám sát tài chính hiện nay, nhất là trong các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, chứng khoán.

    Thực tế, hệ thống giám sát tài chính hiện nay là dày đặc, khác nào "thiên la địa võng". Chúng ta có Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, có thanh tra của Ngân hàng Nhà nước để thanh tra, giám sát chuyên ngành về ngân hàng; có thanh tra của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, có bộ máy Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước cũng thường xuyên thanh tra, kiểm toán các ngân hàng. Dưới các địa phương cũng có các cơ quan thanh tra, giám sát trực thuộc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố, thanh tra các cấp... Ngay tại nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng...cũng đều đã có các ban bệ kiểm sát, thanh tra nội bộ.

    Thế nhưng để xảy ra những vụ việc như tại Công ty Chứng khoán Sacombank rồi tình trạng hoạt động yếu kém của một số ngân hàng gần đây như Habubank.. để rồi phải sắp xếp, sáp nhập nếu không có thể dẫn tới đổ bể; tình trạng nợ xấu tăng nhanh trong hệ thống ngân hàng... thì rõ ràng, hệ thống giám sát tài chính đó, tuy là tầng tầng, lớp lớp và trên thực tế, cũng đã triển khai khá nhiều hoạt động thanh tra, giám sát thường xuyên và đột xuất nhưng vẫn không nắm chắc, phát hiện sớm những yếu kém, bất cập, những tín hiệu nguy hiểm từ nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính, các công ty chứng khoán...

    Có nhiều lý do để giải thích cho sự "bất cập" ấy. Ít nhất là về khung khổ thể chế để thực hiện thanh tra, giám sát. Có thể thấy, khung khổ chính sách, thể chế về hoạt động ngân hàng, tài chính, chứng khoán... đã được nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện dần nhưng hiện còn có thiếu vắng rất nhiều điểm tựa.

    Điều có thể thấy ngay là hiện nay, còn hàng loạt văn bản rất quan trọng để hướng dẫn thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Thanh tra còn chậm ban hành như nghị định về tổ chức hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; thông tư về trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng; thông tư về hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng....

    Một số chuyên gia về tài chính, ngân hàng cũng đã đưa ra nhận định là hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay tuy đã thực hiện được thường xuyên nhưng phương pháp thanh tra, giám sát hiện nay chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế vì mới chỉ thanh tra, giám sát tuân thủ chứ chưa áp dụng rộng rãi hình thức thanh tra, giám sát rủi ro nên hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát không cao. Hoạt động thanh tra, giám sát vẫn chủ yếu tập trung vào rủi ro an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng trong khi cơ sở pháp lý về thanh tra, giám sát rủi ro an toàn vĩ mô chưa được ban hành và không được thực hiện trên thực tế.

    Cũng có thể dễ dàng nhận thấy, phạm vi thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay chưa được toàn diện, chưa được thực hiện trên cơ sở hợp nhất nên chưa xác định đúng tính chất, mức độ rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Một vấn đề đáng nói là hiện nay, cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng không có quyền thực hiện thanh tra, giám sát các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm nên chưa có cơ sở đánh giá chính xác thực trạng hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

    Hệ thống các cơ quan thanh tra, giám sát hiện nay có thể nói đã là đầy đủ nhưng cũng dễ nhận thấy, sự phối hợp trong hoạt động của các cơ quan thanh tra, giám sát các tổ chức tài chính, ngân hàng...chưa hiệu quả. Cơ chế song trùng lãnh đạo đối với thanh tra, giám sát ngân hàng tại Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố không phát huy được vai trò, trách nhiệm của cơ quan thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh địa phương nên có nhiều vụ việc, đơn vị không được kiểm tra, thanh tra.

    Một vấn đề đáng chú ý nữa, theo một số chuyên gia về tài chính, ngân hàng thì hiện nay, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Việt Nam còn yếu do chưa đáp ứng được yêu cầu của 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu quả của ủy ban Basel.

    Theo đánh giá của tổ chức CIDA trong khuôn khổ dự án hợp tác về cải cách ngân hàng Việt Nam mới đây, hoạt động giám sát ngân hàng của Việt Nam mới chri đáp ứng được 6/25 nguyên tắc của Basel (gồm nguyên tắc 4-chuyển đổi sở hữu ngân hàng; nguyên tắc 5-sáp nhập ngân hàng; nguyên tắc 6: tỷ lệ bảo đảm an toàn vốn tối thiểu; nguyên tắc 10-giới hạn cấp tín dụng với khách hàng lớn; nguyên tắc 14: rủi ro thanh khoản; nguyên tắc 17: kiểm toán, kiểm soát nội bộ).

    Còn nhiều vấn đề nữa như: việc quản lý, sử dụng nhân sự thực hiện thanh tra, giám sát; hiệu quả hoạt động thanh, kiểm tra tại chỗ, tình trạng phân tán, chia cắt... trong hoạt động thanh tra...tất cả dẫn đến thực tế là bộ máy tổ chức thanh tra, giám sát tài chính hiện nay tuy đã đủ lớn nhưng còn lỏng lẻo, kém hiệu quả. Cho nên, riêng việc hoàn thiện thể chế, tổ chức hoạt động thanh tra, giám sát tài chính là một việc đầu tiên, quan trọng nhất cần phải thực hiện để hoạt động thanh tra, giám sát hệ thống tài chính của Việt Nam đi vào bài bản, nề nếp.

    Theo blog Mạnh Quân

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Nguyễn Ngọc Già viết:
    Quả thật, khi muốn viết một bài về kinh tế nghiêm túc để báo động cho người dân rất là khó khăn. Khó khăn chủ yếu từ số liệu thật và đủ. CÁc doanh nghiệp lại rất mâu thuẫn, vừa muốn được hiến kế vừa lại muốn dấu số thật. Nan giải! Ngay cả Nguyễn Vạn Phú chuyên gia viết về mảng kinh tế cũng đã kêu lên "khi chuyên gia cũng bó tay" (*)

    "Hỏi chuyện một số chuyên gia kinh tế vì sao dạo này không viết báo nữa, nhiều người trả lời, hầu như các quy luật kinh tế không có tác dụng ở Việt Nam cho nên họ không muốn bị hớ, càng viết e càng sai thực tế."

    Tôi thì bi quan hơn ông Alan Phan, ông Alan Phan nói:"Cái giá phải trả là sự khốn đốn của mọi người ngoài cuộc", tôi thì nghĩ: "Khốn cùng cho cả dân tộc, bởi chẳng ai ngoài cuộc cả"!

    http://danluan.org/node/11981 (*)

    Những người ngoài cuộc là bao gồm 85-90 triệu dân VN trừ đi đám người đang trong cuộc chơi mà tác giả đang nêu lên! Theo ý tôi, ông Alan viết như thế là rất đúng: chỉ có một nhúm người trong cuộc chơi của họ, còn tuyệt đại đa số dân VN dĩ nhiên là người ngoài cuộc bị lãnh đủ...

    Việt Thắng - Sự thật nợ bất động sản: Rùng mình những con số

    Những bất cập quá lớn về sự khác biệt số liệu cũng như tình trạng thiếu minh bạch về thông tin nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng khiến dư luận hoài nghi: 10% liệu đã phải là tỷ lệ nợ xấu cuối cùng trong hệ thống ngân hàng?

    Những con số biết nói

    Chỉ đến cuối quý II/2012, những con số có tính xác thực nhất về nợ và nợ xấu bất động sản mới được công bố. Một báo cáo "bất ngờ" của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đã cung cấp cho giới đầu tư, và đặc biệt là người dân, một cái nhìn toàn diện hơn nhiều về thực trạng này.

    Tính đến thời điểm cuối năm 2011, tổng dư nợ cho vay bất động sản là 348.000 tỷ đồng. Theo nhận định của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, con số này vượt hơn 1,8 lần so với con số đã được các ngân hàng công bố trước đây, tức khoảng xấp xỉ 200.000 tỷ đồng. Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước chính là hai địa chỉ đã phát ra con số ước đoán chưa thể trọn vẹn ấy.

    Cũng theo Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, số nợ xấu bất động sản tại các ngân hàng cao gấp 8 lần so với số liệu do chính các ngân hàng này thông tin. Điều đó cũng có nghĩa là trong một thời gian khá dài, từ tháng 6/2011 - thời điểm lần đầu tiên diễn ra "biến động" trong hệ thống ngân hàng về tình trạng nợ xấu, khi khối ngân hàng buộc phải kéo giảm tỷ lệ cho vay phi sản xuất về mức 22% theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, cho đến gần đây hầu hết các ngân hàng vẫn cố ém nhẹm con số dư nợ cho vay thực tế và kéo theo đó là tỷ lệ nợ xấu mà đã trở nên nguy hiểm đối với họ.

    Không quá trái ngược với những đồn đoán của dư luận giới đầu tư, BIDV đã trở thành "quán quân" về dư nợ cho vay xây dựng - hơn 42.000 tỷ đồng. Tiếp theo đó là Ngân hàng Vietinbank - 41.000 tỷ đồng. Cả hai ngân hàng này đều có tỷ lệ cho vay bất động sản và xây dựng chiếm 14% trong tổng dư nợ. ACB và Sacombank cũng nằm trong danh sách "top 10".

    Nhưng chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn trong tổng dư nợ lại là những ngân hàng nhỏ như Phương Nam, Phương Tây, Đông Á - 26%. Còn SHB cũng có tỷ lệ cho vay xây dựng và bất động sản chiếm đến 18% tổng dư nợ cho vay.

    Rõ ràng, những tỷ lệ trên không thể được coi là an toàn so với điều mà các ngân hàng thường tuyên bố - tỷ lệ an toàn cho phép chỉ từ 3-5%. Rải rác trong những công bố và báo cáo trước đây, ngoại trừ Agribank thừa nhận tỷ lệ nợ xấu trên 6%, còn các ngân hàng khác đều không chấp nhận thực tại như những gì đã xảy ra.

    Tuy vậy, thời gian gần đây lại xuất hiện một ước đoán từ giới chuyên gia ngân hàng. Theo đó, có khả năng đến 50% nợ bất động sản và xây dựng đang có nhiều triển vọng trở thành nợ khó đòi. Cũng có nghĩa là một nửa trong số nợ bất động sản có khả năng không cánh mà bay.

    Cũng trong báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tổng giá trị các khoản cho vay vào hai lĩnh vực bất động sản và xây dựng của 10 ngân hàng có số dư nợ lớn nhất được thống kê là 147 nghìn tỷ, bằng khoảng 73% dư nợ bất động sản được các ngân hàng báo cáo cuối năm 2011. Nếu so với con số điều chỉnh của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tỷ lệ này chiếm 42%.

    Như vậy, nếu tính đúng và đủ trên cơ sở con số 348.000 tỷ đồng dư nợ bất động sản mà Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố, khoản dư nợ bất động sản của 10 ngân hàng trên phải là 254.000 tỷ đồng, chứ không chỉ là 147.000 tỷ đồng theo báo cáo của ngân hàng.

    Có một chi tiết trùng hợp khá ngẫu nhiên nhưng lại rất đáng so sánh: 254.000 tỷ đồng trên lại đúng bằng con số dư nợ cho vay bất động sản mà một vài quan chức, trong một vài thông tin không chính thức, công bố vào thời điểm cuối năm 2011. Sự trùng hợp này cho thấy nhiều khả năng vẫn còn khoảng 1/3 số dư nợ không có địa chỉ rõ ràng.

    Tỷ lệ nợ xấu bất động sản, bao nhiêu?

    Bất động sản - một lĩnh vực lớn chi phối nền kinh tế quốc dân, đang diễn ra tình trạng mông lung hết sức khó hiểu, ít nhất trên bình diện những con số. Từ quý IV năm ngoái, TS. Lê Xuân Nghĩa - khi đó là Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, đã tuyên bố ngay cả ủy ban này và Ngân hàng Nhà nước đều không nắm rõ được con số nợ xấu và dư nợ cho vay bất động sản thực tế là bao nhiêu. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã ít nhất hai lần yêu cầu các ngân hàng báo cáo về hiện trạng nợ và nợ xấu, nhưng cuối cùng vẫn chưa có một con số cụ thể cuối cùng đưa ra và chưa có ngân hàng nào bị điểm mặt.

    Vào cuối tháng 5/2012, điều đáng ngạc nhiên khi công bố trước Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ lệ nợ xấu đã lên đến 10% chẵn, so với con số chỉ 3,4% cũng công bố trước Quốc hội vào 11/2011. Như vậy, chỉ trong thời gian 6 tháng, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đã tăng gấp ba lần mà không có một lần thông tin về sự tăng bất thường này.

    Những bất cập quá lớn về sự khác biệt số liệu cũng như tình trạng thiếu minh bạch về thông tin nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng khiến dư luận hoài nghi: 10% liệu đã phải là tỷ lệ nợ xấu cuối cùng trong hệ thống ngân hàng.

    Nếu có thể, cũng nên tham khảo đánh giá của một tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập có uy tín của quốc tế là Fitch Ratings. Từ tháng 6/2011, khi Ngân hàng Nhà nước chỉ thừa nhận tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vào khoảng 3,2%, Fitch đã công bố tỷ lệ này lên đến 13%, tức gấp 4 lần con số của các cơ quan hữu trách Việt Nam. Còn giờ đây, với tỷ lệ nợ xấu 10% mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố, chẳng lẽ tỷ lệ nợ xấu thực tế còn cao hơn nhiều?

    50%, tức khoảng 125.000 tỷ đồng, có khả năng "biến mất" từ con số dư nợ cho vay bất động sản, có thể chiếm đến 36% con số dư nợ 348.000 tỷ đồng do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố điều chỉnh.

    Và nếu chiếu theo con số thực này cũng như khả năng không thể thu hồi 50% số nợ, có khả năng nào nợ xấu thực tế đối với bất động sản sẽ gấp 3,6 lần so với số liệu 10% đã báo cáo trước Quốc hội vào tháng 5/2012. Nếu đó là sự thật thì thật đáng báo động.

    V. T.

    Nguồn: vietnamnet.vn

    Quả thật, khi muốn viết một bài về kinh tế nghiêm túc để báo động cho người dân rất là khó khăn. Khó khăn chủ yếu từ số liệu thật và đủ. CÁc doanh nghiệp lại rất mâu thuẫn, vừa muốn được hiến kế vừa lại muốn dấu số thật. Nan giải! Ngay cả Nguyễn Vạn Phú chuyên gia viết về mảng kinh tế cũng đã kêu lên "khi chuyên gia cũng bó tay" (*)

    "Hỏi chuyện một số chuyên gia kinh tế vì sao dạo này không viết báo nữa, nhiều người trả lời, hầu như các quy luật kinh tế không có tác dụng ở Việt Nam cho nên họ không muốn bị hớ, càng viết e càng sai thực tế."

    Tôi thì bi quan hơn ông Alan Phan, ông Alan Phan nói:"Cái giá phải trả là sự khốn đốn của mọi người ngoài cuộc", tôi thì nghĩ: "Khốn cùng cho cả dân tộc, bởi chẳng ai ngoài cuộc cả"!

    http://danluan.org/node/11981 (*)