Trương Nhân Tuấn - Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?

  • Bởi Hồ Gươm
    03/06/2012
    62 phản hồi

    Trương Nhân Tuấn

    Trả lời cho một số câu hỏi của bạn đọc Dân Luận <em>"Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?"</em> của tác giả Trương Nhân Tuấn

    Đôi lời giới thiệu về tác giả Trương Nhân Tuấn:

    Ông Trương Nhân Tuấn (Ngô Quốc Dũng)

    Ông Trương Nhân Tuấn tên thật là Ngô Quốc Dũng, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1956 tại Bạc Liêu. Năm 1974 đã đậu chứng chỉ căn bản về Khoa Học (MPC) tại Đại Học Khoa Học Sàigòn. Việc miền Nam sụp đổ năm 1975 khiến ông phải bỏ học một thời gian. Năm 1980 ông qua Pháp, vừa đi làm vừa học lại, lấy được bằng Cao Học về Toán và Vật Lý. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo công phu về chủ quyền biên giới lãnh thổ - lãnh hải của Việt Nam.

    Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp, đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả hai lần Trung Quốc đều không đáp ứng. Thái độ của Trung Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủ quyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa. Do đó họ chủ trương sử dụng mưu kế hay chờ đợi thời cơ, dùng vũ lực để giải quyết vấn đề. Kể từ đó, nhiều thế hệ lãnh đạo, hay chế độ chính trị, tiếp nối nhau, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc không thay đổi. Năm 1956 Trung Quốc lợi dụng cơ hội sự lúng túng của Pháp tại Đông Dương đổ quân chiếm nhóm đảo An Vĩnh. Năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm nốt nhóm đảo còn lại là nhóm Nguyệt Thiềm, qua một trận hải chiến bất cân xứng giữa hải quân nước này với hải quân của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều đáng ngại là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc bao gồm luôn quần đảo Trường Sa và một vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích biển Đông. Tham vọng bành trướng của Trung Quốc sẽ không ngừng ở Hoàng Sa. Họ có thể sử dụng vũ lực bất kỳ khi nào có thời cơ thuận tiện để chiếm quần đảo Trường Sa và vùng biển tại đây.

    Điều làm người ta bất mãn là thái độ hiện nay của nhà cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam như bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; hoặc các thái độ ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí, nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km. Hành động phản đối gọi là "kịch liệt" lắm của Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ở các tuyên bố suông. Trong khi đó, một mặt, các chiến hạm của Trung Quốc, ngụy trang dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, để khủng bố ngư dân Việt Nam và mặt khác, hàng năm, Bắc Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra lệnh cấm biển vì lý do quân sự: hải quân Trung Quốc diễn tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho đời sống của ngư dân Việt Nam đảo lộn, hầu hết lâm vào cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà phía Việt Nam vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.

    Bởi vì, một cách để chứng minh chủ quyền của quốc gia ở một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là áp đặt được quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm biển của Trung Quốc được ngư dân Việt Nam "thi hành", như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh cá tại các vùng biển do Trung Quốc cấm, cho dầu qua hình thức cưỡng bức, điều này cũng hàm ý Việt Nam chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức Việt Nam mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền thuộc về Trung Quốc.

    Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho Việt Nam.

    Trước nguy cơ lớn lao, đe dọa sự tồn vong và tương lai vinh nhục của cả dân tộc, nhà cầm quyền Việt Nam đến nay vẫn không có một biện pháp nào xem ra có thể thích nghi để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa. Trong khi đó quyền lợi của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa lại bị Trung Quốc đe dọa trầm trọng.

    Trong các năm vừa qua Việt Nam đã đảm nhận những vai trò quan trọng trên quốc tế, như là thành viên luân phiên của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hay làm chủ tịch ASEAN. Thời cơ do đó không phải là thiếu. Tại sao Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? không đưa các vụ tranh chấp ra tòa án quốc tế hay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc? Các hành động này có thể ít có hiệu quả trên thực tế, vì thái độ ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc, nhưng ít nhứt nó sẽ xoa dịu những bất bình đến từ công chúng trong nước, và trong chừng mực, khẳng định tính chính đáng về lãnh đạo của đảng CSVN.

    Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ "bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây hấn bên ngoài". Người ta có thể phê bình nước Pháp về nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.

    Nhưng hành động của đảng CSVN, từ khi "cướp chính quyền từ tay Pháp, Nhật", lập được nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1949, cho đến năm 1975 "đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào", gồm thu đất nước về một mối "Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", thì chưa bao giờ củng cố hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Câu hỏi chính đáng đặt ra: Tại sao Việt Nam không đề nghị một trọng tài quốc tế để phân xử tranh chấp biển Đông, ít ra tại Hoàng Sa, trong khi nước Pháp đã hai lần đề nghị trong quá khứ?

    Người ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời qua các hành vi của nhà nước này trong từ thập niên 90, qua vụ Trung Quốc xâm lấn bãi Tư Chính.

    Tháng 5 năm 1992, phía Trung Quốc ký hợp đồng với công ty khai thác dầu khí Cresston của Hoa Kỳ nhằm khai thác khu vực Vạn An Bắc, tức khu vực Tư Chính của Việt Nam. Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

    Lý lẽ của Trung Quốc như thế phải hiểu:

    1/ Trung Quốc có chủ quyền tại Trường Sa.

    2/ Các đảo Trường Sa có hiệu lực là "đảo"

    3/ vùng Tư Chính, tức Vạn An Bắc, là vùng chồng lấn giữa thềm lục địa bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? với các đảo Trường Sa.

    Theo lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington phụ trách bênh vực quyền lợi của Việt Nam. Hồ sơ bãi Tư Chính được thành hình năm 1995, do Brice M. Claget thuộc tổ hợp thành lập, mang tên: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Lập luận của hồ sơ này là:

    1/ bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam,

    2/ các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của "đảo" theo luật Biển 1982, và

    3/ vì vậy không hề có chồng lấn giữa các đảo Trường Sa với thềm lục địa Việt Nam.

    Ta thấy các nhược điểm trong lập luận của Brice M. Claget là:

    1/ không xác định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo Trường Sa, không phản đối chủ quyền của Trung Quốc ở các đảo Trường Sa, điều này có thể hiểu ngầm Việt Nam đồng ý Trung Quốc có chủ quyền tại các đảo này.

    2/ Các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của "đảo". Lý lẽ này không vững vì yếu tố lớn hay nhỏ của một đảo không hề được đề cập trong luật Biển 1982. Một đảo có hiệu lực hay không là do hai việc:

    a) có thích hợp cho người sinh sống và

    b) có một nền kinh tế tự túc.

    Tại sao phía Việt Nam chấp nhận lý lẽ của tổ hợp luật sư trong hồ sơ "Tư Chính" mà không hề có bảo lưu về chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa?

    Lý ra, Việt Nam có thể nhân vụ này kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế ít nhất về 3 lẽ :

    1/ khu vực Tư chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam (theo qui định 200 hải lý tính từ đường cơ bản theo luật Biển 1982.

    2/ Chủ quyền các đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, thực ra là Trường Sa, từ lâu đã thuộc về Việt Nam.

    3/ Không hề có việc "chồng lấn" hiệu lực giữa các đảo "Nam Sa" với thềm lục địa Việt Nam, đơn giản vì các đảo Trường Sa, mà Trung Quốc tiếm gọi là Nam Sa, thuộc về Việt Nam.

    Mấy ông luật sư của Hoa Kỳ trong tổ hợp Covington & Burling ở Washington đã "không ngu" như ta tưởng. Vì nếu đưa vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa vào hồ sơ thì phải thay đổi hoàn toàn các dữ kiện, mà điều quan trọng là phải chứng minh Việt Nam có chủ quyền tại các đảo này. Làm việc này thì sẽ gặp một trở ngại lớn lao là phải vô hiệu hóa các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

    Đó là

    1/ tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đồng về tuyên bố hải phận của Trung Quốc.

    2/ Sự im lặng của miền Bắc Việt Nam năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng các đảo Hoàng Sa. Sự im lặng này chính là sự đồng thuận ám thị hành động của Trung Quốc là chánh đáng, Trung Quốc có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều tuyên bố qua báo chí hay của các nhân vật lãnh đạo cũng như nhiều hành vi ám thị đồng thuận khác.

    Trong khi việc "kế thừa" di sản Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH thì nhà nước CHXHCNVN đến hôm nay vẫn chưa thực hiện.

    Về vấn đề này, nhiều người cho rằng nhà nước CHXHCHVN là người thừa kế hợp pháp VNCH. Tuy nhiên không thấy ai đưa ra các lý lẽ chứng minh.

    Phía CS miền Bắc gọi VNCH là "ngụy", tức là giả, không phải là một thực thể chính trị. Người ta không thể kế thừa ở một cái gì đó không thật (ngụy). Vả lại, nếu có tư cách "thừa kế", thì theo bộ luật về "kế thừa" của Việt Nam hiện nay, nhà nước CHXHCNVN có thể bị truất quyền "kế thừa" theo điều 643, khoản a và b.

    Điều 643 của bộ luật Dân sự 2005 (hoặc theo Pháp lệnh về kế thừa trước đó) Người không được quyền hưởng di sản

    1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

    a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

    b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

    Ta thấy khi cộng sản miền Bắc chiếm được miền Nam, một chính sách trừng phạt dân miền Nam đã được áp dụng liên tục trong nhiều thập niên. Văn hóa miền Nam bị xem là "văn hóa đồi trụy", đã bị xóa bỏ. Hầu hết nhân sự có liên quan, xa hay gần, đến chính quyền VNCH đều bị trừng phạt như bắt đi tù, bị truất hữu tài sản, nhà cửa, cả gia đình bị đuổi đi kinh tế mới. Lính miền Nam bị khinh miệt gọi là "lính ngụy", chính quyền miền Nam là "ngụy quyền", thậm chí dân miền Nam bị khinh bỉ gọi là "ngụy dân". Đến hôm nay, người dân miền Nam vẫn còn bị trừng phạt. Trên bình diện đầu tư, miền Nam đóng góp trên ¾ của cải cho cả nước, nhưng về hạ tầng cơ sở miền Nam không được đầu tư như miền Bắc. Thậm chí, trong vấn đề giáo dục, miền Nam chỉ được đầu tư một phần tỉ lệ rất nhỏ so với miền Bắc.

    Nhà cầm quyền CSVN, liên tục từ nhiều thập niên, đã "ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm" của người miền Nam. Tư cách gì nhà cầm quyền CSVN lên tiếng đòi "kế thừa" di sản VNCH ngày hôm nay?

    Vì thế ta không ngạc nhiên về các lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington trong hồ sơ: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Các lý lẽ của họ hôm nay, theo đúng như lập luận trong hồ sơ:

    1/ các đảo Trường Sa và Hoàng Sa quá nhỏ để có hiệu lực của đảo.

    2/ Khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng 200 hải lý (theo đúng qui định ZEE và thềm lục địa của luật Biển 1982).

    Đối với họ chỉ có hai chọn lựa: Việt Nam mất ít hay mất nhiều. Họ chọn giải pháp "mất ít".

    Đối với tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, là một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã nhận ra Việt Nam đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó không thể đứng trên căn bản "Việt Nam có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa" để lập hồ sơ mà phải dựa trên lập luận "các đảo Trường Sa và các đảo nhỏ, không thể có ZEE".

    Như thế, đối với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, Hoàng Sa và Trường Sa là đã mất.

    Sự việc như vậy thì làm sao có thể kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế?

    Nhưng nhượng bộ này của Việt Namcũng không xong. Chủ trương của Trung Quốc là "muốn hết". Chủ trương này, nếu Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, là khá phù hợp trên quan điểm pháp lý. Thỏa mãn Trung Quốc, Việt Nam không phải "mất ít" hay "mất nhiều" mà là "mất hết".

    Tôi đã viết một số bài, như bài "Chủ quyền của Việt Nam tại Tư Chính, Vũng Mây", trong đó đả kích đích danh một số cá nhân có chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam. Người ta chỉ có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của dân tộc chỉ khi nào lý lẽ của mình dựa trên nền tảng đúng. Lý lẽ "các đảo Trường Sa là các đảo nhỏ do đó không thể cho chúng vùng ZEE như lãnh thổ đất liền" là không thuyết phục trên phương diện pháp lý. Đảo lớn hay nhỏ, theo luật, chúng có tình trạng pháp lý như nhau, như lãnh thổ trên đất liền.

    Tôi chống, tôi đả kích nhưng người này và nhà nước CSVN, vì tôi thấy có giải pháp khác. Việt Nam "được ít, được nhiều hay được tất cả" thay vì "mất ít, mất nhiều hay mất tất cả".

    Làm thế nào thì tôi đã viết giới thiệu trong bài trước. Cốt lõi của việc này là làm thế nào để kế thừa di sản VNCH. Đây là một vấn đề thuộc về chính trị. Đảng CSVN có can đảm chính trị hay không? Có can đảm nhìn nhận VNCH như là một chế độ đã bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không? Có dám phục hồi danh dự và bồi xứng đáng cho tập thể "ngụy quân, ngụy quyền" mà họ dã truy bức và trả thù tàn độc trong quá khứ hay không?

    Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man? Không. Anh có thể ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể "kế thừa" di sản của người này được.

    Ngoài ra còn thái độ của các học giả Việt Nam hiện nay. Tôi đã viết, các tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hầu hết đều do các học giả VNCH viết từ năm 1974. Tôi nhận thấy rằng, các bài viết chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của các học giả Việt Nam hôm nay đều không ghi tên các tác giả VNCH. Việc này cho thấy, các học giả Việt Nam hiện nay cũng phủ nhận tính chính thống của các học giả VNCH. Các anh cứ nói ông Trần Văn Hữu tuyên bố thế này thế kia, chính quyền thực dân, chính phủ Bảo Đại bù nhìn, chính nguyền ngụy hành sử chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa thế này thế nọ… Trong khi điều nổi bật của chế độ CSVN là công hàm Phạm Văn Đồng 1958 cùng các tuyên bố ngu xuẩn khác. Các anh viết như thế là đã xác nhận tính chính thống của các chế độ đó nhưng các anh không có can đảm nói ra.

    Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của quốc gia Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên. Nhà cầm quyền CSVN chỉ là giai đoạn, trong khi đất nước và dân tộc là trường cửu. Nhà cầm quyền này không nhìn nhận di sản của VNCH thì sẽ có chính quyền khác trong tương lai nhìn nhận nó. Việc này có thể không còn xa lắm.

    Trương Nhân Tuấn

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    62 phản hồi

    Thôi xin các bác đừng nói thêm những lời có thể gây tổn thương nhau nữa. Tôi xin góp vài ý thế này:

    - Tôi nghĩ là phương diện chính trị và pháp lý là tách biệt nhau. Mối tương tác giữa VNDCCH và VNCH là phương diện chính trị, và đó chỉ là chuyện nhà giữa những người Việt Nam với nhau. Thế giới không quan tâm. Trong vấn đề chủ quyền của VN đối với HS và TS, thế giới chỉ nhìn vào khía cạnh pháp lý.

    - Suy nghĩ một cách logic thì thật khó có thể nào nghĩ được là giải pháp xóa sổ CHXHCN Việt Nam, xóa sổ ít nhất 37 năm tồn tại của nó, quay trở lại 1975 để kế thừa VNCH là giải pháp hợp lý. Giả sử thể chế XHCN hiện tại có được thay thế bởi thể chế cộng hòa thì tôi nghĩ đó cũng chỉ là sự nối tiếp kế thừa thể chế hiện tại.
    Còn nếu các bác tìm được trang nào trong luật pháp quốc tế, án lệ nào trước đây coi giải pháp này là có tính pháp lý thì làm ơn chỉ cho tôi biết, cho tôi link tài liệu gốc.

    - Lịch sử có những điều không công bằng và đây là một vấn đề mà dân tộc Việt Nam cũng phải giải quyết. Nhưng nó hoàn toàn tách biệt với chủ quyền đất nước. Chủ quyền đất nước là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Không ai được phép lợi dụng nó cho mục đích chính trị của mình, càng không thể vì mục đích cá nhân của mình mà gây tổn hại đến nó.

    - Quốc tế không phải là 1 Nhà nước, nên giải quyết tranh chấp lãnh thổ không giống như 1 NN giải quyết chi tiết các vấn đề tranh chấp về đất đai.

    - VN muốn đưa ra quốc tế, TQ không chịu thì làm được gì??? Nước mẹ Đại Pháp cũng đề nghị đưa ra quốc tế, Trung Hoa Dân quốc không chịu cũng có làm được gì đâu!!!

    - Quốc tế thực ra trong tranh chấp lãnh thổ chỉ đóng vai trò trọng tài là chính!!! chứ không phải thẩm phán, để phán quyết nước này phải nhường nước kia cái này, cái nọ. Những tranh chấp như giữa VN và TQ hiện nay đã từng có tiền lệ chưa??? Tức là quốc tế đã từng giải quyết 1 vụ nào tương tự trên thế giới hay chưa???

    - Nếu quốc tế đóng vai trò trọng tài, mà lại dùng trò biểu quyết thì sao??? Hiển nhiên TQ có lợi hơn VN, vì TQ có ảnh hưởng hơn. Ở ASEAN, TQ chỉ cần "mua" được Lào, Campuchia, trung lập hóa Thái Lan là ASEAN cũng đủ liểng xiểng rồi cần gì phải nói chuyện lớn hơn.

    - Cuối cùng là tính liên tục. Các chiến sỹ chống cộng gốc "quốc gia" dù có ghét cay, ghét đắng, muốn "xóa sổ" CHXHCN VN ra khỏi não thì nó vẫn tốn tại trong 36 năm qua (1976-2012). "Xóa sổ" tính hợp pháp của nó là xóa xổ tính liên tục!!! (không có nghĩa là không xóa sổ được nó, chỉ có nghĩa là phải thừa nhận tính hợp pháp của nó khi tồn tại. Nói rõ không các chiến sỹ lại nhảy dựng lên)

    Thế giới lên án TQ cưỡng chiếm Tibet, nhưng chưa thấy bao giờ lên án CHXHCN VN "cưỡng chiếm" miền Nam tự do của VNCH cả, thậm chí cũng không lên án việc đánh đổ chính quyền VNCH!!! Cho nên mọi việc cố gắng "hồi sinh" 1 cái "xác chết" đã 37 năm là vô nghĩa (nếu như không muốn nói là trò cười cho thế giới)

    PVĐ viết:
    Mấy hôm nay , mọi người tranh cãi quá dài dòng về quyền kế thừa của CHXHCN VN . Đôi khi đã đi theo hướng suy diễn vớ vẩn.
    Khi đã công nhận cái gì của VNCH hay của VNDCCH đều là của người VN thì khi người VN tụ tập lại hay thành lập 1 quốc gia mới thì mọi thứ đó vẫn là của người VN và là tài sản của Việt Nam nếu người Việt Nam không bán và nhượng lại theo luật lệ cho nước khác.
    Cái gì của VNCH trước kia không nhượng bán cho ai thì cái đó bây giờ thuộc của người VN là chuyện đương nhiên .
    Chỉ có cái dở là việc đòi phải thực hiện ở cấp Chính phủ, kể cả đưa ra tòa hay Tổng động binh quyết giành lại cho kỳ được . mà cấp Chính phủ cứ lần khất và không dám quyết liệt vì sợ các đồng chí Đ CS TQ đánh đập, dọa nạt . Bàn mãi cũng vậy thôi, nếu không tự giành chính phủ hoặc ép chính phủ phải thực hiện thì nói lắm cũng chỉ là nói mãi .

    Bác Trương Nhân Tuấn hoặc bác nào có link chứa nhận xét của "tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington" không ?

    Bác Khách Qua Đường, tôi sẽ tìm hiểu thêm về estoppel. DL không có độc giả nào chuyên về luật quốc tế và thương mại?

    Bác PVĐ, muốn ép chính phủ hoặc thay đổi chính phủ thì phải có bầu cử tự do và công bằng. Lúc đó bác PVĐ tha hồ vận động bầu cử, tranh cử. Ở VN làm gì có bầu cử tự do mà cũng không có nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó. Bác PVĐ không đọc thấy bác Phan Minh Ngọc (Phan Sơn ?) khẳng định một cách láo lếu là nhà nước có quyền làm những gì mà luật không cấm hay sao ! Mà ở VN ai làm ra luật ? Chính là đảng CSVN độc quyền chứ còn ai. Họ cứ ngâm tôm, không nhanh chóng sửa về luật đất đai vì quyền lợi của dân và cứ để nhà nước làm theo ý muốn mà vẫn không phạm luật

    Việc đưa HS-TS là tòa án quốc tế (Den Haag, Hòa Lan) hoặc tòa án biển (Hambourg, Đức) đều phải thực hiện ở cấp nhà nước

    Mấy hôm nay , mọi người tranh cãi quá dài dòng về quyền kế thừa của CHXHCN VN . Đôi khi đã đi theo hướng suy diễn vớ vẩn.
    Khi đã công nhận cái gì của VNCH hay của VNDCCH đều là của người VN thì khi người VN tụ tập lại hay thành lập 1 quốc gia mới thì mọi thứ đó vẫn là của người VN và là tài sản của Việt Nam nếu người Việt Nam không bán và nhượng lại theo luật lệ cho nước khác.
    Cái gì của VNCH trước kia không nhượng bán cho ai thì cái đó bây giờ thuộc của người VN là chuyện đương nhiên .
    Chỉ có cái dở là việc đòi phải thực hiện ở cấp Chính phủ, kể cả đưa ra tòa hay Tổng động binh quyết giành lại cho kỳ được . mà cấp Chính phủ cứ lần khất và không dám quyết liệt vì sợ các đồng chí Đ CS TQ đánh đập, dọa nạt . Bàn mãi cũng vậy thôi, nếu không tự giành chính phủ hoặc ép chính phủ phải thực hiện thì nói lắm cũng chỉ là nói mãi .

    BÀN THÊM VỀ QUYÊN THỪA KẾ VNCH CỦA NƯỚC CHXHCNVN

    Trong vấn đề chủ quyền của dân tộc VN trên hai quần đảo HS và TS, dân tộc ta đã gặp một điều đại bất hạnh là kẻ chiến thắng trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng 1960 - 1975 là VNDCCH chứ không phải là VNCH. Bởi vì, nếu VNCH chiến thắng, thì hôm nay cái Công hàm Phạm Văn Đồng cũng như những tuyên bố hay hành vi thừa nhận HS, TS thuộc TQ (xuất phát từ VNDCCH) đã trở thành vô nghĩa, không còn có giá trị áp dụng. Nếu đem ra trước một trọng tài quốc tế để tranh chấp với TQ trên mặt pháp lý, chủ quyền của VNCH trên HS, TS là TẤT THẮNG, do sự kiện rõ ràng là VNCH là kế thừa TRỰC TIẾP từ Chính quyền Quốc Gia VN (của Quốc Trưởng BẢO ĐẠI), tức là kế thừa pháp lý của Triều đại nhà Nguyễn, đã khám phá và thực thi quyền thủ đắc HS, TS. Trong giai đoạn Pháp thuộc (1884 - 1945) nước Pháp đã bảo hộ VN và đã thay mặt Triều đình VN để bảo vệ chủ quyền của An Nam trên HS và TS, cho đến ngày họ bàn giao lại cho VNCH vào năm 1954. Do đó chủ quyên của VNCH có tính liên tục pháp lý.

    Tiếc thay, nước CHXHCNVN ngày hôm nay là kẻ kế thừa VNDCCH, người chiến thắng cuộc chiến Nam Bắc vào ngày 30/04/1975, đã làm mất tố quyền của VN trên HS và TS qua việc VNDCCH đã phạm lỗi estopel qua những hành vi liên tục trong nhiều năm từ 1958 đến tận 1975. Do đó, để có được chủ quyền cho VN trên HS, TS, con đường DUY NHẤT, là thông qua quyền thừa kế VNCH, kẻ luôn luôn giữ được toàn vẹn chủ quyền pháp lý của dân tộc VN trên HS, TS, cho đến ngày bị VNDCCH bức tử, và bị XÓA SỔ vào năm 1975.

    Trên công pháp quốc tế, để cho nước CHXHCNVN hưởng quyền thừa kế VNCH, CHXHCNVN cần phải chứng minh hai điều sau:

    1) Chứng minh với thế giới rằng VNCH là một quốc gia hợp pháp, là kẻ thừa kế chủ quyền của VN từ thời nhà Nguyễn (1802 -1945) đến nay. Điều này, trên mặt tinh thần, là một điều MUỐI MẶT, ĐAU XÓT vì sau hàng chục năm chửi bới, nhục mạ, phủ nhận sự hiện hữu của VNCH và đối xử tàn nhẫn, ác độc với nhân dân Miền Nam VN, nay lại phải đứng ra chứng minh NGƯỢC LẠI rằng VNCH là một quốc gia hợp pháp. May thay, trên khía cạnh công pháp quốc tế, chứng minh rằng VNCH là một quốc gia hợp pháp là một điều rất DỄ DÀNG, bởi vì trong 21 năm hiện diện, VNCH đã được sự THỪA NHẬN của nhiều nước (đa số các quốc gia thuộc thế giới tự do, phương Tây), là hội viên của nhiều cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc, có một lãnh thổ rõ ràng, có một chính quyền được bầu cử ra hợp pháp, được thế giới công nhận (dĩ nhiên là TRỪ nước VNDCCH và các nước thuộc khối xã hội, anh em của VNDCCH). Số quốc gia thừa nhận VNCH đông GẤP RƯỠI số quốc gia thừa nhận VNDCCH.

    2) Chứng minh rằng sự THỐNG NHẤT hai miền Nam Bắc vào năm 1976 là một sự thống nhất giữa VNCH và VNDCCH, theo đúng thủ tục của công pháp quốc tế. Tiếc thay, sự thống nhất do ông Lê Duẩn và ĐCSVN thực hiện năm 1976 đã không HỢP PHÁP. Bởi vì, trước hết, sau ngày 30/04/1975 trên lãnh thổ thuộc VNCH không hề hiện diện một chính quyền đại diện cho nhân dân Miền Nam VN, mà chỉ do một nhóm người miền Bắc cai trị TẠM THỜI cho đến ngày VNDCCH tuyên bố thống nhất hai miền. VNDCCH đã tức khắc xóa sổ chính phủ MA Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, và nhanh chóng thay thế nó bằng những ngươi từ miền Bắc. Chính phủ Cộng Hòa Nam VN (do Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN tạo ra) CHƯA BAO GIỜ được quốc tế thừa nhận là đại diện hợp pháp của nhân dân Nam VN trước 1975 (vì đại diện hợp pháp lúc đó là chính quyền VNCH đang được thế giới thừa nhận), sau năm 1975 thì bị vất bỏ không kèn không trống. Bởi vì quá chủ quan, duy ý chí, và quá nóng vội thống nhất toàn cõi VN, ông Lê Duẩn và ĐCSVN đã phạm một LỖI LẦM quan trọng không thể cứu vãn. Đó là nhanh chóng lộ mặt đã xâm lấn VNCH và cưỡng chế VHCN sáp nhập vào VNDCCH, để lập ra CHXHCNVN, mà không kinh qua những thủ tục pháp lý hợp với công pháp quốc tế. Giá mà ĐCSVN để cho Chính phủ Cộng hòa Nam Việt Nam làm thủ tục kế vị VNCH, tuyên bố ra mắt Chính phủ và kêu gọi sự thừa nhận họ như là chính phủ của miền Nam VN, độc lập (nhưng thân hữu với VNDCCH)với một Hiến pháp của họ, sau đó, khi Chính phủ Cộng Hòa Nam VN đã được thế giới thừa nhận tính hợp pháp, ĐCSVN thực hiện bước kế tiếp, dù chỉ qua hình thức, tổ chức trưng cầu dân ý (dù là cuội) trên hai miền Nam Bắc để THỐNG NHẤT đất nước. Lúc đó sự thống nhất pháp lý giữa hai quốc gia VNCH và VNDCCH sẽ hợp pháp. Và nay CHXHCNVN có thể kế thừa chủ quyền của VNCH trên HS, TS.

    Visiteur viết:
    Bác Trương Nhân Tuấn và các bác,

    Việc mất tố quyền (forclusion – estoppel) có lẽ phải thỏa một số điều kiện : hành động tương tự bản chất và cũng dựa trên các quy ước tương tự và cùng các bên đối tác

    Ở đây không cùng các bên đối tác vì CHXHCNVN là bao gồm VNDCCH và VNCH khác với năm 1958 chỉ có VNDCCH đối với TQ

    Ở đây bản chất sự việc cũng khác : công nhận 12 hải lý chứ không phải công nhận chủ quyền HS-TS

    Ở đây dựa trên các quy ước cũng khác như luật biển 1982 mà CHXHCNVN đã thông qua

    Do đó theo suy luận của tôi, VN không chấp nhận việc mất tố quyền estoppel đối với HS-TS như tổ hợp luật sư nhận xét và VN vẫn có quyền khẳng định chủ quyền HS-TS.
    Chưa tính đến việc TT Phạm Văn Đồng ký công hàm 1958 có hợp pháp hay không và nó không có giá trị pháp lý đối với chủ quyền biển đảo của quốc gia khác, lúc đó là VNCH

    Trích dẫn:
    http://www.dictionnaire-juridique.com/definition/principe-d-estoppel.php

    Mais il existe des conditions pour que le principe d'estoppel puisse s'appliquer, c'est ainsi que l'Assemblée plénière de la Cour de cassation a jugé que la seule circonstance qu'une partie se contredise au détriment d'autrui n'emporte pas nécessairement fin de non-recevoir si les actions engagées n'étaient ni de même nature, ni fondées sur les mêmes conventions et n'opposaient pas les mêmes parties

    Xin được góp ý sơ sài với bác Visiteur về vài điểm (mà nhiều người nêu ra từ lâu nay):

    1)Bác nói : "Ở đây không cùng các bên đối tác vì CHXHCNVN là bao gồm VNDCCH và VNCH khác với năm 1958 chỉ có VNDCCH đối với TQ"

    VNDCCH, ngay từ khi thành lập vào năm 1945, luôn luôn PHỦ NHẬN sự hiện hữu của VNCH. Đối với VNDCCH, chính quyền hợp pháp DUY NHẤT đại diện cho TOÀN DÂN VN từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu là chính quyền VNDCCH. Miền Nam VN chỉ là vùng bị giặc TẠM CHIẾM đang chờ VNDCCH và toàn dân từ Nam đến Bắc, giải phóng khỏi giặc ngoại xâm (Mỹ). Chính quyền VNCH, đối với chính quyền VNDCCH, chỉ là NGỤY, nghĩa là không có giá trị, là GIẢ. Ngay cả sau năm 1975, Chính quyền CHXHCNVN (tức là VNDCCH tiếp nối qua tên mới) mà hầu hết mọi thành phần trong chính phủ là những nhân vật CŨ của chính quyền VNDCCH, vẫn tiếp tục chính sách XÓA BỎ VĨNH VIỄN sự hiện hữu trong 20 năm từ 1954 đến 1975 của VNCH. Tài liệu còn đầy nhan nhãn trong các thư viện trên toàn thế giới về quan điểm cùng hành động PHỦ NHẬN VNCH của VNDCCH (và hậu thân của nó là CHXHCNVN). Do đó khó mà chối cãi rằng CHXHCNVN là KHÁC HẲN với VNDCCH khi ông Phạm Văn Đồng theo lệnh ông Hồ và Bộ Chính trị Đảng Lao Động (tứ ĐCSVN) ký Công hàm 14/9/1958, bởi vì NÓ rành rành là cái KẾ TỤC của VNDCCH trước đây. Nếu chấp nhận VNDCCH và VHCH là hai quốc gia RIÊNG BIỆT, độc lập với nhau (như trong thực tế) thì vào năm 1975, VNDCCH đã XÂM LĂNG VHCH, và việc VNDCCH cai trị miền Nam VN từ 1975 đến nay là một sự CHIẾM ĐÓNG bất hợp pháp trên lãnh thổ của VNCH.

    Nói rõ hơn, vì sau năm 1975, VNDCCH đã ĐỔI TÊN thành CHXHCNVN và hoàn tất được ý nguyện giải phóng miền Nam VN để nới rộng quyền kiểm soát của mình lên vùng đất của họ (mà, theo họ, đang bị giặc tạm chiếm và giao cho bọn ngụy quyền VNVH cai trị), nên vào năm 1958 hay ngày hôm nay, cũng chỉ có một chính quyền hợp pháp cho toàn dân VN từ Nam đến Bắc. Chính quyền năm 1958 đã ký Công hàm thừa nhận HS và TS là của TQ và chính quyền ngày hôm nay đàng cai trị toàn thể VN là MỘT, là sự tiếp nối nhau trên công pháp quốc tế. Năm 1958 không hề có 3 quốc gia (VNDCCH, VNCH,TQ) mà chỉ có 2 là VNDCCH (=CHXHCNVN) và TQ.

    2) Bác nói : "Ở đây bản chất sự việc cũng khác : công nhận 12 hải lý chứ không phải công nhận chủ quyền HS-TS".

    Điều này KHÔNG ĐÚNG. Vì trong Công hàm PVĐ ngày 14/9/1958 đã VIẾT RÕ là VN thừa nhận và tôn trọng quyết định lãnh hải của TQ do Quốc Vụ Viện nước CHND TH thông qua ngày 4/9/1958 (mà hoàn toàn không bảo lưu chủ bất cứ điểm nào cả), tức là thừa nhận TOÀN BỘ những gì ghi trong Tuyên bố 4/9/1958 của TQ, trong đó điều 2 và 4 có NÊU RÕ Tây Sa (tức HS) và Nam Sa (tức TS) là của TQ. Công hàm PVĐ không hề nói VN công nhận 12 hải lý NHƯNG không công nhận điều 2 và 4 nói Tây Sa và Nam Sa là của TQ.

    Bác Trương Nhân Tuấn và các bác,

    Việc mất tố quyền (forclusion – estoppel) có lẽ phải thỏa một số điều kiện : hành động tương tự bản chất và cũng dựa trên các quy ước tương tự và cùng các bên đối tác

    Ở đây không cùng các bên đối tác vì CHXHCNVN là bao gồm VNDCCH và VNCH khác với năm 1958 chỉ có VNDCCH đối với TQ

    Ở đây bản chất sự việc cũng khác : công nhận 12 hải lý chứ không phải công nhận chủ quyền HS-TS

    Ở đây dựa trên các quy ước cũng khác như luật biển 1982 mà CHXHCNVN đã thông qua

    Do đó theo suy luận của tôi, VN không chấp nhận việc mất tố quyền estoppel đối với HS-TS như tổ hợp luật sư nhận xét và VN vẫn có quyền khẳng định chủ quyền HS-TS.
    Chưa tính đến việc TT Phạm Văn Đồng ký công hàm 1958 có hợp pháp hay không và nó không có giá trị pháp lý đối với chủ quyền biển đảo của quốc gia khác, lúc đó là VNCH

    Trích dẫn:
    http://www.dictionnaire-juridique.com/definition/principe-d-estoppel.php

    Mais il existe des conditions pour que le principe d'estoppel puisse s'appliquer, c'est ainsi que l'Assemblée plénière de la Cour de cassation a jugé que la seule circonstance qu'une partie se contredise au détriment d'autrui n'emporte pas nécessairement fin de non-recevoir si les actions engagées n'étaient ni de même nature, ni fondées sur les mêmes conventions et n'opposaient pas les mêmes parties

    @TNT.
    Tôi đã đọc kỹ bài theo link http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235411

    Rõ ràng, trong bài theo link trên,ông không nêu được ý mà tôi đã chứng minh:

    Cho đến 1/12/1943 , hai quần đảo HS, TS không nằm trong tư duy địa lý lãnh hải của TQ

    Lý lẽ đưa ra kết luận này tôi đã trình bầy trong phản hồi trước.

    Thật vậy, theo link trên ông chỉ nêu ra được

    Trích dẫn:
    Các điều kiện để Trung Hoa đứng về phía Đồng minh được xác định rõ rệt trong Tuyên bố. Nội dung tóm lược những vùng lãnh thổ mà Nhật phải trả lại là:
    – Tất cả những đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến I;
    – Trả lại cho Trung Hoa những vùng mà Nhật đã cướp của Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ;
    – Tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm bằng vũ lực;
    – Nhân dân Hàn Quốc lấy lại chủ quyền đất nước mình trong một thời gian nhất định.
    Tuyên bố cũng nhấn mạnh: "Tam đại cường quốc đồng minh có mục tiêu chấm dứt sự xâm lược của Nhật Bản mà không nhằm vào việc bành trướng về lãnh thổ."
    Tức điều kiện để Trung Hoa đứng vào phe Đông minh là : Nhật phải trả lại cho Trung Hoa lãnh thổ Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (ở kế cận, phía bắc Đài Loan). Khi phía TQ đòi hai quần đảo HS và TS cho họ tức là đã có khuynh hướng « bành trướng lãnh thổ » mà việc này đi ngược với tuyên bố Caire (Cairo).

    Rất mong ông chú ý đến kết luận này.

    Điều thứ 2 mà tôi đã lưu ý là : Tỉnh Quảng Đông không đại diện cho TQ. Việc tỉnh này cử 1 phái đoàn tới HS không nói lên điều gì. Chỉ nói lên rằng họ mù mờ về chủ quyền của VN tại HS. Ngay cả việc tỉnh này tổ chức đấu thầu khai thác khoáng sản cũng chỉ là hành động tham lợi của 1 địa phương, không chú ý đến luật pháp quốc tế, như hành động ăn cắp , ăn trộm, chứ không phải đã là có ý tranh giành chủ quyền với VN.

    Do vậy nếu nói là từ năm 1909, TQ lên tiếng tranh giành HS, là thiếu chính xác, vì thế bài báo đã mất đi tính khoa học.

    Khi 1 quốc gia muốn tuyên bố chủ quyền phải tuyên bố đàng hoàng, có lý do lịch sử, pháp lý.
    Chúng ta không nên suy đoán là cứ họ ra HS, là họ có ý định tranh chấp với ta.

    Trân trọng.

    Nhưng văn bản vẫn còn đó, tức là kể từ khi văn bản được ký và gửi đi, nó có hiệu lực . Hiệu lực gì ? Chính quyền của ô Đồng sẽ tôn trọng chủ quyền của TQ ở những nhóm lãnh thổ được nêu ra trong bản tuyên cáo của TQ mà không được quyền tranh cãi .

    Hay nói đúng hơn, nhờ bản công hàm Phạm Văn Đồng, Việt Nam có (chủ) quyền không dám tranh cãi đối với Hoàng Sa và Trường Sa .

    Thanks bác Tran Thi Ngự,
    MTGPMN VN cùng VNCH, VNDCCH và Mỹ tham dử hội nghị Paris, vậy họ có thể coi là là thừa kế VNCH về HS và TS được không ?

    Trích dẫn:
    Đối với tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, là một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã nhận ra Việt Nam đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Bác Trương Nhân Tuấn, tôi không hiểu rõ lắm về estoppel trong lý luận của tổ hợp luật sư Covington & Burling.

    HS-TS vào năm 1974 là do VNCH quản lý.
    Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận 12 hải lý của TQ thì ăn thua gì đến HS-TS của VNCH, một quốc gia khác năm 1958 ?
    Phạm Văn Đồng không thể hứa, không thể công nhận cái gì không do Phạm Văn Đồng quản lý, sở hữu ở thời điểm đó.
    Phạm Văn Đồng đã thảo luận với chính phủ chưa hay chỉ là quan điểm của riêng thủ tướng ?
    Chủ tịch nước lúc ấy là Hồ Chí Minh, kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao, không hề biết việc này hay sao ?
    Lúc đó 1958 VNDCCH đang áp dụng hiến pháp nào ? Nếu là HP 1946 thì chủ tịch nước là người có thẩm quyền làm việc này chứ không phải thủ tướng

    Trả lời (góp ý) tiếp với ông Nguyễn Nghĩa: Gồm có hai phần. 1/ Về thời điểm chính thức hai bên Trung-Pháp (Việt) đòi chủ quyền Hoàng Sa. 2/ Về nội dung tuyên bố Cairo.

    1/ Về thời điểm chính thức bắt đầu tranh chấp Hoàng Sa. Theo các án lệ của Tòa án Công Lý quốc tế (CIJ) mà tôi có đọc, thí dụ như tranh chấp Mã Lai – Singapour về các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán quyết ngày 23-5-2008. Theo đó thời điểm chính thức được tòa công nhận bắt đầu cuộc tranh chấp là khi một bên lên tiếng đòi hỏi chủ quyền (hay có hành vi hành sử chủ quyền) trên một lãnh thổ mà danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ này trước đó đã thuộc về (hay cho rằng thuộc về) một quốc gia khác. Trường hợp HS, thời điểm chính quyền Quảng Đông tuân lệnh Thanh triều cho 2 chiến hạm nhỏ ra thám thính một số đảo HS, ngày 6-6-1909, có thể xem là thời điểm chính thức mở đâu cuộc tranh chấp vì sau đó các nhà cầm quyền tiếp nối của TQ đều lấy thời điểm này là ngày TQ chính thức tuyên bố chủ quyền tại HS. (VN đã khẳng định danh nghĩa chủ quyền tại HS từ thời vua Gia Long).

    Ta cũng có thể chọn thời điểm 4 tháng 12 năm 1931 là ngày chính phủ Pháp ra thông điệp cho lãnh sự TQ tại Paris biết rằng HS thuộc chủ quyền của Pháp. Nhưng thời điểm này sẽ không hay cho VN bằng thời điểm 1909 mà phía TQ đã chọn. Hành vi cho hai chiếc thuyền năm 1909 thám hiểm HS của các viên chức Quảng Châu, có chứng kiến của hai công dân Đức, không thể gọi là hành vi « chiếm hữu » một « lãnh thổ vô chủ », để dựa vào đó tuyên bố chủ quyền của TQ tại HS. Đơn giản vì HS lúc đó đã thuộc VN.

    Dĩ nhiên ông Nguyễn Nghĩa có thể chọn một thời điểm khác khởi đầu tranh chấp có lợi cho VN. Ý kiến này của ông tôi tôn trọng.

    2/ Về nội dung và ý nghĩa của tuyên bố Cairo 1943. Tôi đã viết nhiều bài viết trong đó nói về các kết ước của các nước Đồng Minh có liên quan đến số phận các quần đảo HS và TS. Bài gần đây nhất là bài theo link sau đây:

    http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235411

    Trong đó tôi nói sơ lược về ý nghĩa các kết ước này. Đặc biệt, dựa trên một tài liệu mà tôi vừa tham khảo, theo đó nhận thấy rằng đường chữ U chín gạch dành 80% biển Đông của TQ chỉ mới xuất hiện sau năm 1947. Vì chính phủ họ Tưởng ở Nam Kinh, năm 1947, chỉ tuyên bố lãnh thổ của họ chỉ tới HS mà thôi.

    Tôi dẫn lại đây một đoạn trong bài viết của tôi để ông Nguyễn Nghĩa tường lãm. Tôi cũng rất tiếc là không đọc được bài viết của ông đã đề cập trong góp ý:

    1/ Sơ lược địa lý Quần đảo Trường Sa – Spratleys – Đảo Ba Bình:

    Quần đảo Trường Sa – Spratleys còn được gọi qua nhiều tên khác nhau: Nansha Gunto, tức Nam Sa Quần Ðảo (Trung Hoa), Kalayaan (Phi Luật Tân), Sinnan Gunto, tức Tân Nam Quần Ðảo (Nhật-Bản)… Trường Sa cũng có một vài tên gọi ít người biết là South Sandy islands, Freedomland, Kingdom of Humanity. Những nhà nghiên cứu thềm lục địa gọi vùng nầy là « The Reed bank Area ».

    Ðây là một tập hợp nhiều đảo (île), hòn (îlot), đá san hô (récif), bãi ngầm (haut-fond), dải cát (banc de sable), bãi san hô (caye)... trải dài từ vĩ tuyến 6° đến 12° vĩ độ Bắc và từ kinh tuyến 111° đến 118° kinh độ Ðông. Số lượng chính xác các bãi ngầm, bãi cạn, cồn nổi, cồn chìm, đá lớn, đá nhỏ, dải cát… tại đây chưa được xác định rõ rệt. Tập hợp địa chất này tọa lạc trên một vùng biển có diện tích rất lớn, chiều Bắc Nam dài hơn 500 Km, chiều Ðông Tây dài hơn 1.000 km, chiếm khoảng 160.000 km2. Khoảng cách giữa các đảo đôi khi khá lớn. Tâm điểm của quần đảo cách đều bờ biển hai nước Việt Nam và Phi Luật-Tân : cách Palawan 400 km, cách Cam Ranh 450 km, cách Sabah 500 km, cách Yu-lin (Hải Nam) 1.100 km, cách Hồng Kông 1.400 km, cách Tân Gia Ba 1.500 km và cách Cao Trung (Ðài Loan) 1.700 km. Chỉ khoảng 15 đảo (iles) ở đây là có cây cỏ và giếng nước ngọt, có thể cho loài người sinh sống. Hầu hết các đảo nầy rất nhỏ, lớn nhất diện tích không quá 43 hectares, phần lớn có diện tích vài trăm mét vuông đến vài ngàn mét vuông, quần tụ theo nhiều nhóm khác nhau. Ðộ cao trung bình so với mặt biển từ 2 đến 6 mét, đa số không có cây lớn. Quần đảo nầy, cũng như quần đảo Hoàng Sa, đều do san hô cấu tạo thành.

    Ðảo Ba Bình, tức Itu Aba, có tọa độ 10° 23’ Bắc, 114° 22’ Ðông, thuộc nhóm Tizard. Nhóm Tizard, trải dài 30 dặm từ Ðông sang Tây và 8 dặm từ Bắc xuống Nam. Ðây là một bãi do san hô (récif) kết tạo nên, gồm có nhiều đảo và cồn cát, có hình vành, giữa là một đầm (lagon). Phần lớn những đảo chánh (cao hơn mặt biển) của Trường Sa thì ở trên bãi nầy (như đảo Ba Bình, đảo Nam Yết, đá Tizard, Cồn Sandy, Ðảo Petley, Ðảo Eldad, hai đảo Gaven...). Ðảo Ba Bình ở phía tây bắc của nhóm và là đảo lớn nhất ở Trường Sa. Ðảo có chu vi 2,8 km, diện tích 43,2 hectares và có một viền đá san hô bao chung quanh. Chiều dài đảo là 1470m, chiều rộng 500m, có độ cao trung bình 2,8m. Trên đảo có mọc các loại cây dừa, chuối, đu đủ, cây cọ cao khoảng 7m và nhiều bụi rậm.

    Trước kia, thời VN còn thuộc Pháp, trên đảo Ba Bình đã có một sân bay nhỏ. Từ năm 2006, chính quyền Trần Thủy Biển cho xây dựng một sân bay khá quan trọng, với mục đích, theo tuyên bố của bộ trưởng bộ quốc phòng là Michael Tsai : « Phi đạo mà phía Đài Loan đang tiến hành xây dựng trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa có khả năng phục vụ cho mục đích quân sự, có ý nghĩa chiến lược, có khả năng cảnh báo trước bất kỳ sự tấn công nào từ phía Bắc Kinh. »

    2/ Sơ lược lịch sử pháp lý:

    Trong khoảng thời gian Ðệ Nhị Thế Chiến, quân đội Nhật chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, sát nhập hành chánh vào Đài Loan. Sau khi Nhật đầu hàng, một khoảng trống pháp lý thiết lập trên hai quần đảo. Theo luật của kẻ chiến thắng, ở đây là các nước Đồng minh, tất cả các vùng lãnh thổ của Nhật chiếm đóng trái phép của các nước khác, dĩ nhiên liên quan đến các quần đảo HS và TS, sẽ được quyết định qua các thỏa ước giữa các nước đồng minh. Các kết ước đó là : Hòa ước San Francisco ngày 8 tháng 9 năm 1951, Hòa ước Trung Nhật ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952. Tuy vậy, cũng phải nhắc lại các tuyên bố hay thỏa ước đã ký kết trước đó như Hội đàm tại Caire (Cairo) 23 đến 26 tháng 11 năm 1943, Mật ước Yalta 11-2-1945, tối hậu thư Potsdam gởi cho Nhật Bản ngày 26 tháng 7 năm 1945 cũng như các điều kiện mà Nhật Bản chấp nhận đầu hàng, Thỏa ước Pháp-Trung ký tại Trùng Khánh ngày 28 tháng 2 năm 1946, v.v… vì các thỏa ước này có quan hệ đến Hòa Ước San Francisco 1951 hoặc hai quần đáo HS và TS.

    2.1 Nội dung Hội đàm Caire (Cairo) tháng 11 năm 1943, được công bố ngày 1 tháng 12 năm 1945, gọi là Tuyên bố Caire (Cairo), giữa đại diện ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa là Theodore Roosevelt, Winston L.S. Churchill và Tưởng Giới Thạch. Hội đàm này xác định quyền lợi của Trung Hoa để nước này đứng về phía Đồng minh tuyên bố chiến tranh với Nhật. Các điều kiện để Trung Hoa đứng về phía Đồng minh được xác định rõ rệt trong Tuyên bố. Nội dung tóm lược những vùng lãnh thổ mà Nhật phải trả lại là:

    – Tất cả những đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến I;

    – Trả lại cho Trung Hoa những vùng mà Nhật đã cướp của Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ;

    – Tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm bằng vũ lực;

    – Nhân dân Hàn Quốc lấy lại chủ quyền đất nước mình trong một thời gian nhất định.

    Tuyên bố cũng nhấn mạnh: "Tam đại cường quốc đồng minh có mục tiêu chấm dứt sự xâm lược của Nhật Bản mà không nhằm vào việc bành trướng về lãnh thổ."

    Tức điều kiện để Trung Hoa đứng vào phe Đông minh là : Nhật phải trả lại cho Trung Hoa lãnh thổ Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (ở kế cận, phía bắc Đài Loan).

    Hôm nay phía TQ đòi hai quần đảo HS và TS cho họ tức là đã có khuynh hướng « bành trướng lãnh thổ » mà việc này đi ngược với tuyên bố Caire (Cairo).

    2.2 Tối hậu thư Potsdam: Sau khi Nhật đầu hàng tháng 8 năm 1945, theo tinh thần của tối hậu thư Potsdam, Trung Hoa đưa quân vào VN để giải giới quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở về bắc. Tuy nhiên, theo một điều khoản đính kèm thỏa ước Trùng Khánh ký kết với Pháp ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Tưởng rút khỏi VN để cho quân Pháp vào thay thế. Để đạt được việc này, Pháp phải tuyên bố hủy bỏ nhiều quyền lợi của họ tại TQ, như các nhượng địa, quyền sở hữu các hệ thống đường sắt cũng như dành cho dân Trung Hoa nhiều sự dễ dàng về kinh tế tại đông Dương. Việc giải giới quân Nhật vùng dưới vĩ tuyến 16 thì thuộc quyền của Anh. Qua sự thỏa thuận của Anh, Pháp vào lại VN thay Anh. Qua các việc này Pháp tái khẳng định quyền bảo hộ của Pháp tại VN. Sẽ nói lại ở phần dưới.

    2.3 Quốc hội lập hiến Trung Hoa Dân Quốc 1947 và đường chữ U: Trong khi đó, tại lục địa, cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức từ ngày 21 đến 23 tháng 11 năm 1947, mỗi đại biểu đại diện cho 500.000 dân, tại 32 tỉnh huyện trên tổng số 47 (vì các nơi khác đã bị hồng quân Mao chiếm đóng). Quốc hội nhóm họp đầu tiên ngày 29 tháng 3 năm 1948, ngày kỹ niệm 72 liệt sĩ Hoàng Hoa Cương (Quảng Châu). Buổi họp diễn ra với nhiều tố cáo (của các đảng khác) tình trạng gian lận hay không hợp lệ, vì thế tính chính thống của quốc hội này bị đặt lại. Tuy vậy quốc hội vẫn không bị giải tán, được thành hình với quyền hạn nghe giải trình các việc làm của hành pháp, tranh cãi trên các vấn đề chính trị và đề nghị qua chính phủ kết quả các việc này. Một số công việc được thông qua, đáng chú ý là việc « xác nhận quyền bất khả thất hiệu» của Trung Hoa tại quần đảo Hoàng Sa[v]. Việc này xảy ra sau khi quân Trung Hoa chiếm đóng đảo Phú Lâm (l’ile Boisée) thuộc Hoàng Sa ngày 7 tháng 1 năm 1947. Như thế hành động của quốc hội Trung Hoa là nhằm « hợp pháp hóa » việc chiếm đóng này.

    Hành động chiếm đảo Phú Lâm của chính phủ họ Tưởng đã vi phạm các thỏa ước mà chính phủ này đã ký kết. Trước hết là trái với tuyên bố Caire: « không bành trướng lãnh thổ ». Thứ hai đi ngược với tinh thần của tối hậu thư Potsdam, cũng như không tôn trọng thỏa ước Trùng Khánh ký kết với Pháp, nhượng cho Pháp quyền tước vũ khí quân Nhật tại VN, để đổi lấy quyền lợi kinh tế. Nhưng dầu thế nào, nếu chiếu theo tinh thần Potsdam thì Trung Hoa chỉ có bổn phận giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở lên, do đó không liên quan đến quần đảo HS và TS.

    (Trước hành động này chính phủ Pháp lên tiếng phản đối, yêu cầu quân Tưởng rút về nhưng không thành công. Lo ngại quân họ Tưởng chiếm đóng các đảo khác, Pháp gởi một đạo quân hỗn hợp Việt Pháp lên đóng tại đảo Hoàng Sa (Pattle). Việc này chính phủ Tưởng Giới Thạch phản đối nhưng lại tiếp tục từ chối một trọng tài quốc tế để giải quyết vấn đề do Pháp đề nghị.)

    Khi chính phủ Tưởng Giới Thạch sụp đổ phải rút ra Đài Loan, quân đội Trung Cộng thay thế tại các đảo trong nhóm An Vĩnh thuộc Hoàng Sa vào tháng 4 năm 1950. Trong khi đó quân đội Pháp Việt vẫn còn ở nhóm Nguyệt Thiềm. Ngày 14 tháng 10 cùng năm thì Pháp chuyển thẩm quyền HS lại cho chính quyền Bảo Đại.

    Điều cần nhấn mạnh ở nơi đây là ý nghĩa của đường chữ U. Theo các tài liệu của Pháp đã ghi lại ở trên, đến tháng 11 năm 1947 thì quốc hội Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, tháng 3 năm 1948 thì có việc xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa nhưng không hề nhắc đến quần đảo Trường Sa. Do đó, chủ quyền Trường Sa và đường chữ U chín gạch (như đã thấy hiện nay) chỉ là sản phẩm của các chính phủ kế tiếp sau này (chứ không phải từ năm 1947 như có nhiều nguồn tin đã nói).

    2.4 Chủ quyền của VN tại Trường Sa: Về quần đảo Trường Sa, cũng như quần đảo Hoàng Sa, từ lâu đã thuộc về Việt Nam, liên tục qua các thời kỳ chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn… và dân VN đã tổ chức thành đội ngũ, qua nhiều thế kỷ, thường xuyên khai thác hải sản cũng như thâu lượm các phế vật hay phẩm vật do các thuyền bè các nước bị vướng đá chìm ở đó. Chủ quyền của VN tại hai quần đảo này như thế đã được khẳng định. Sau khi thuộc Pháp, nước này lại xem TS và vùng đất vô chủ, từ năm 1930 đã cho thuyền ra thám hiểm, đến ngày 23 tháng 9 năm 1930 ra thông cáo đã thông báo cho các cường quốc khác về sự chiếm đóng của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Ngày 21 tháng 12 năm 1933, Toàn Quyền M.J. Krautheimer ký nghị định sát nhập những đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba (tức Ba Bình), Sóng Tụ, Loại Ta, Thị Tứ vào tỉnh Bà Rịa.

    Như vậy sự chiếm hữu của Pháp tại Trường Sa, dầu bằng phương pháp nào, nhân danh nước bảo hộ thâu nhận Hoàng Sa hay là khám phá và chiếm hữu đất vô chủ như Trường Sa, thì những quần đảo này cũng thuộc về VN. Các đảo TS sát nhập vào Bà Rịa, khi trả lại độc lập cho VN, nếu Pháp trả Bà Rịa cho VN thì cũng giao TS lại cho VN. Vì đó là tính liên tục của quốc gia về lãnh thổ.

    Cũng dựa trên điểm này, tính liên tục của quốc gia về lãnh thổ, phía Đài Loan cho rằng TS thuộc chủ quyền của họ. Bởi vì, khi chiếm TS từ tay Pháp, Nhật đã cho sát nhập hành chánh vào Đài Loan. Nhưng việc này không ổn, trước khi Nhật chiếm TS thì nó thuộc VN, qua đại diện là Pháp. Nhật chiếm TS là chiếm một lãnh thổ đã có chủ. TS không hề thuộc Đài Loan trước đó. Theo Hòa ước San Francisco 1951 cũng như các thỏa ước khác trước đó, Nhật phải trả lại các vùng đất mà họ đã chiếm hữu trước đó, trong đó gồm có HS và TS. Theo đó không hề nói TS và HS thuộc về Đài Loan.

    2.5 Hòa ước San Francisco 1951: được thương thảo và ký kết giữa phe bại trận là Nhật Bản với phe chiến thắng là các nước Đồng minh. Việt Nam là một thành viên ký kết vào Hòa ước San Francisco.

    Vào thời điểm đầu hàng, 14-8-1945, Nhật đã có tuyên chiến với 46 nước, trong đó không có Việt Nam. Từ thời điểm này đến ngày mở đầu Hội nghị San Francisco ngày 4 tháng 9 năm 1951 thì hội nghị đón nhận thêm 9 nước khác (tuyên bố chiến tranh với Nhật). Các nước này đa phần là các nước đã bị Nhật chiếm đóng lúc chiến tranh, nhưng vì các lý do như đang ở tình trạng dưới quyền bảo hộ của một nước khác, không tự chủ về ngoại giao, do đó đã không có phản ứng đúng lúc. Một trong 9 nước đó là Việt Nam.

    Như thế Nhật Bản phải ký hòa ước với tất cả các nước mà họ đã gây chiến (hay tuyên bố chiến tranh), trong đó có Việt Nam. Các điều khoản của hòa ước quan trọng vì nó đề cập đến việc bồi thường chiến tranh mà Nhật đã gây ra cho các nước liên hệ. Đối với Việt Nam, việc tham dự hội nghị với tư cách một nước độc lập, có tuyên bố chiến tranh với Nhật, thì tầm quan trọng không chỉ ở việc có quyền đòi hỏi bồi thường, mà tiếng nói của Việt Nam về số phận của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị cũng có giá trị quyết định nếu không gặp sự phản đối.

    Về các điều khoản liên hệ đến lãnh thổ của Hòa ước San Francisco (điều 2), Nhật phải từ bỏ mọi đòi hỏi chủ quyền tại: (a) Triều Tiên, và công nhận nền độc lập của xứ này, (b) đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, (c) quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline cũng như các đảo khác đã nhượng cho Nhật qua Hiệp ước Portsmouth năm 1905, (d) tại các đảo đã được giao cho Hội Quốc Liên quản lý và theo quyết định của Hội đồng Bảo an ngày 2 tháng 4 năm 1947, e/ vùng Bắc cực, (f) các quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

    Như thế, ngoại trừ Triều Tiên và các đảo đã được Hội Quốc Liên quản lý trước đó đã được xác định rõ số phận, các đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline, vùng Bắc cực và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì không xác định là sẽ giao cho nước nào quản lý.

    Hòa ước San Francisco cũng không có sự hiện diện của hai phe Trung Hoa, vì không thể mời bên này bỏ bên kia. Do đó, hội nghị chấp nhận để Nhật có toàn quyền lựa chọn phe để ký hòa ước. Rốt cục Nhật đã chọn phe Trung Hoa Dân quốc để ký hòa ước.

    Hòa ước Trung-Nhật được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, trong đó khoản nói về lãnh thổ được lặp lại nguyên văn nội dung điều (2) của Hòa ước San Francisco: Nhật từ bỏ chủ quyền tại các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Hoàng Sa, Trường Sa nhưng cũng không xác định là trả cho phe nào.

    Thực ra số phận của các vùng lãnh thổ đó đã được định đoạt. Đề nghị của Pháp tại hội nghj đã được chấp thuận. Theo đó phe lâm trận nào chiếm ở đâu thì sẽ tuyên bố chủ quyền ở đó.

    Ta thấy điều này xảy ra như thế ở Kouriles và phần đảo Sakhaline (do Nga chiếm), Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (do chính phủ họ Tưởng quản lý).

    Về phía Pháp, do đã toan tính trước, Pháp liền ký kết với Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (Tchong Quing) ngày 28 tháng 2 năm 1946. Theo đó quân đội Trung Hoa sẽ rời Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946 để quân Pháp vào thay thế. Đổi lại, Pháp tuyên bố hủy bỏ tất cả các quyền lợi và tô giới của Pháp tại Trung Hoa đồng thời cam kết dành sự ưu đãi về kinh tế cho Trung Hoa, như nhượng tuyến đường xe lửa Vân Nam – Hải Phòng, dành ưu đãi về kinh tế, kiều dân Trung Hoa sống tại Việt Nam được hưởng qui chế ưu đãi đặc biệt.

    Trong khi đó, phía nam vĩ tuyến 16, vì lý do chiến lược, Anh cũng đồng ý nhượng quyền lại cho Pháp.

    Về thái độ của Anh về chủ quyền của Pháp tại Trường Sa, mặc dầu nước này đã có tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa từ các năm 1877, nhưng đã tuyên bố không giành chủ quyền với Pháp.

    Sau khi quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa năm 1946, Pháp đã gởi quân đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để khẳng định chủ quyền. Tại Hoàng Sa và Trường Sa, quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm 1946. Đến tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.

    Như thế, hành động của Pháp phù hợp hoàn toàn ới tinh thần Hòa ước San Francisco 1951 về việc giải quyết các vùng đất do Nhật từ bỏ. Pháp đã khẳng định lại chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, dưới sự mặc nhiên chấp thuận của Hoa Kỳ và Anh.

    Mặt khác, tại Hội nghị San Francisco, đại diện Quốc gia Việt Nam là ông Trần Văn Hữu, đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này và không bị một sự chống đối nào. Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách một nước độc lập, có tuyên chiến với Nhật, do đó có tư cách pháp nhân để đưa ra ý kiến của mình về số phận các vùng đất mà Nhật Bản đã buộc bị từ bỏ. Việt Nam đã ký kết Hòa ước, Nhật Bản cam kết bồi thường cho Việt Nam 39 triệu đô la tương đương giá trị hàng hóa và công trình xây dựng. Nếu việc bồi thường đã chấp thuận thì việc tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa đương nhiên là có giá trị pháp lý. Nhưng vấn đề là lúc đó Việt Nam không có khả năng tiếp thu hai quần đảo này từ tay Nhật.

    Vì thế thái độ của Pháp - mặc dầu chỉ vì quyền lợi của Pháp - vô tình cũng có lợi cho Việt Nam, vì Pháp đại diện cho Việt Nam đã tiếp thu, tuyên bố chủ quyền và chiếm đóng thực sự trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Như thế, sự chiếm đóng hiện nay của Đài Loan tại đảo Ba Bình là một sự chiếm đóng bất hợp lệ, dân tộc VN vào bất cứ lúc nào tiện lợi, đều có thể thâu hồi một cách hợp pháp đảo này về với tổ quốc.

    NiMarxNiJesus viết:
    1 đoạn của bài bị gõ lẫn lộn:

    Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

    Tôi nghĩ là BBT nên sửa lại :

    Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý. Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?

    Cảm ơn bác NiMarxNiJesus, tôi đã sửa lại sai sót này, chắc tại táy máy thế nào nên bị chèn tiêu đề của bài viết vào đoạn đó mà không biết. :)

    HG

    1 đoạn của bài bị gõ lẫn lộn:

    Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

    Tôi nghĩ là BBT nên sửa lại :

    Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý. Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?

    Trả lời ông Nguyễn Nghĩa:

    Có nhiều tài liệu tiếng Việt, Pháp và Hoa nói về tranh chấp Hoàng Sa. Tài liệu tiếng Việt, theo tôi, tác giả viết tỉ mỉ và đầy đủ nhất về lịch sử chủ quyền của VN tại Hoàng Sa có lẽ là TS Nguyễn Nhã. Đó là tập luận án tiến sĩ của ông này. Tập luận án này bạn Nguyễn Nghĩa có thể tìm dễ dàng trên web.

    Theo tài liệu này, nguyên nhân TQ dòm ngó đến HS năm 1909 là sự việc năm 1907 người Nhật cắm mốc chủ quyền quần đảo Pratas, tức quần đảo Trung Sa. Tổng đốc Lưỡng Quảng nhận trách nhiệm quan hệ với lãnh sự Nhật ở Quảng Châu để lấy lại quần đảo này. Qua vụ này Thanh triều bắt đầu có ý thức về tầm quan trọng kinh tế và chiến lược của các đảo nhỏ phía nam, do đó có ý muốn thâu các đảo đó vào lãnh thổ. Người Pháp đã được tin mật báo cho biết ý muốn của Thanh triều về quần đảo HS. Cuối tháng 5, hai chiến pháo hạm cỡ nhỏ trực thuộc Quảng Châu ra khơi, hướng về HS, nhưng hai chiếc thuyền này chưa đi tới đâu, thì phải cập vào bến Du Lâm chờ cho đến tháng 6 mới xuất bến. Ngày 6 tháng 6 người trên hai thuyền thấy được một đảo thuộc HS, sau đó thám sát vài đảo khác rồi trở vào bờ. Nhân chứng sống của cuộc « du hành » này là hai người Đức. Dĩ nhiên việc « du hành » này không có ý nghĩa chiếm hữu lãnh thổ, vì thiếu các nghi thức cần thiết của chính quyền trung ương. Điều quan trọng hơn cả, các đảo thuộc HS đã thuộc về VN từ thời Gia Long. Sau này, các nhà cầm quyền TQ đều vịn vào lý lẽ này để biện luận rằng họ đã chiếm hữu HS. Phía người Pháp, mặc dầu đã biết trước việc dòm ngó này, nhưng đã không lên tiếng phản đối vì họ cho rằng việc chiếm hữu của nhà cầm quyền địa phương Quảng Đông thì không hợp lệ, do đó không có hiệu lực pháp lý.

    Pháp đề nghị hai lần với TQ ra trọng tài quốc tế để phân giải tranh chấp HS.

    Theo tài liệu của bà Monique Chemilier-Gendreau, « La Souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys », năm 1931, TQ cho đấu thầu khai thác phân chim tại HS. Ngày 4 tháng 12 năm 1931, chính phủ Pháp phản đối qua việc đã gởi cho lãnh sự TQ tại Paris một thông điệp cho biết HS thuộc chủ quyền của Pháp. Tháng 4 năm 1932, chính phủ Pháp chính thức lên tiếng phản đối TQ đồng thời công bố các bằng chứng chứng minh chủ quyền lịch sử của An Nam tại HS. Cũng trong năm này Pháp đề nghị TQ giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài quốc tế nhưng TQ từ khước.

    Cũng theo tài liệu trên, năm 1947, lợi dụng việc Pháp chưa kịp chiếm đóng các đảo HS (theo kết ước trao đổi quân sự Pháp-Trung 1946, Pháp thay thế quân Hoa giải giới quân Nhật), nhà cầm quyền Quốc Dân Đảng đã cho chiếm đảo Phú Lâm. Chính phủ Pháp phản đối việc chiếm đóng này đồng thời phái một đội quân hỗn hợp Pháp-Việt ra đóng đảo Hoàng Sa (Pattle) và xây dựng một công sự tại đây. Phía TQ phản đối. Hai bên Pháp-Trung vào bàn thuơng lượng từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1947. Dịp này phía TQ lại từ chối đề nghị của Pháp lẫn nữa đưa vấn đề tranh chấp ra phân xử trước một trọng tài quốc tế.

    Các tài liệu này hiện còn tồn trữ tại Trung tâm văn khố hải ngoại Pháp (Centre des Archive d’Outre-Mer – CAOM tại Aix-En-Provence). Tôi đã từng vào đây trong nhiều năm để làm nghiên cứu. Nếu thấy cần thiết, hồ sơ này có thể tìm thấy dễ dàng.

    Trong trang web Nghiên cứu biển đông, mục Đại sử ký tranh chấp Biển Đông chỉ nghi nhận là chính quyền Quảng Đông quan tâm và cử 1 đội khảo sát do Lý Chuẩn phụ trách ra HS.

    Có phải tác giả muốn nói đến sự kiện này không?

    Nếu chỉ có 1 sự kiện lạc lõng, cục bộ, địa phương mà khẳng định

    Trích dẫn:
    Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909.

    sai rất cơ bản.

    Mong tác giả chỉ ra những dẫn chứng khác.

    Tôi, Nguyễn Nghĩa, trong nhiều bài viết/ xem mục blog Danluan, thí dụ bài Cảm nhận về phát biểu của TT Nguyễn Tấn Dũng/ đã chỉ ra rằng :
    cho đến 1/12/1943, HS,TS không có trong tư duy lãnh hải của TQ.

    Chứng cớ, mà tôi dùng, là tuyên bố Cairo chỉ nói đến Đài Loan, Bành Hồ...là lãnh hải TQ bị Nhật chiếm , mà không có 1 chữ nói về HS,TS. Chỉ có 3 nhân vật ký bản tuyên bố này là Tưởng Giới Thạch, Franklin Roosevelt và Winston Churchill.

    Nếu HS, TS nằn trong tư duy lãnh hải của Tưởng, thì đã biểu hiện trong tuyên bố này.
    Tại thời điểm này,Tưởng có thừa khả năng để đòi hỏi về HS,TS, nếu có, được thông qua bởi Franklin Roosevelt và Winston Churchill.

    Mong tin từ tác giả.

    Nguyễn Nghĩa.

    Đối với tôi, tương lai của VN gắn liền với 2 quần đảo HS,TS. VN sẽ trở nên giầu có, văn minh hay trở lại thành thuộc địa kiểu mới của TQ, tất cả phụ thuộc vào cuộc chiến giành lại HS,TS.
    Do vậy tôi rất quan tâm đến những gì liên quan đến HS,TS.
    Trong đoạn văn đầu tiên, tác giả có viết

    Trích dẫn:
    Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp, đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả hai lần Trung Quốc đều không đáp ứng. Thái độ của Trung Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủ quyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa.

    Mong tác giả trả lời giúp tôi thắc mắc liên quan đến các khẳng định trên:

    1. TQ quan tâm đến HS,TS ở cấp bậc nào : chính phủ hay địa phương? Hình thức nào : Công hàm ngoại giao hay tuyên bố trên báo chí? Sự quan tâm này dựa trên cơ sở nào? Vì lúc này Pháp và VN đã có chủ quyền trên HS,TS rồi. Đây không còn là 2 quần đảo vô chủ nữa.
    2. Nước Pháp 2 lần đề nghị cùng TQ ra 1 trọng tài phân giải? Tại sao lại như vậy.
    VN và Pháp đang thực thi chủ quyền trên HS,TS. Nếu TQ không biết điều này mà có đòi hỏi chủ quyền thì họ đã là ở thế yếu rồi, những đòi hỏi này đã là vô lý rồi.
    Văn bản về đề nghị ra trọng tài quốc tế của Pháp và VN, tác giả có không, xin cho biết.
    Cám ơn nhiều.
    Nguyễn Nghĩa.

    Nếu cho rằng Việt Nam đang ở thế yếu về pháp lý đối với HS & TS (có nghĩa Trung Quốc ở thế mạnh hơn) thì một câu hỏi nữa là tại sao Trung Quốc không đưa vấn đề HS & TS ra một tòa án quốc tế?

    Nguyễn SG viết:

    Việc đầu tiên tôi muốn biết là CP MTGPMN VN có được công nhận không ? Hiệp định Paris có tham dự chính thức như một chính phủ không ?

    Tôi không biết gì về biển đảo, chỉ đưa vài thông tin có thể trả lời lời thắc mắc trên của bác Nguyển SG:

    Trích dẫn:
    One of the largest hurdles to effective negotiation was the fact that North Vietnam and its ally in South Vietnam, the National Front for the Liberation of South Vietnam (NLF, or Viet Cong), refused to recognize the government of South Vietnam; with equal persistence, the government in Saigon refused to acknowledge the legitimacy of the NLF. Harriman resolved this dispute by developing a system by which North Vietnam and U.S. would be the named parties; NLF officials could join North Vietnam team without being recognized by South Vietnam, while Saigon's representatives joined their U.S. allies.

    http://en.wikipedia.org/wiki/Paris_Peace_Accords#Paris_peace_talks

    Theo như thông tin trên và những gì tôi được biết trước 1975, trong hoà đàm Paris, Mỷ đứng cùng vị trí với miền Bắc, và VNCH đứng cùng vị trí với MTGPMNVN, mặc dù VNCH không công nhận MTGPMNVN.

    Ý kiến của Nguyễn Jung (NJ) về yếu tố thời gian là rất mới, xứng đáng để các học giả cùng bàn luận sâu xa. Trong nhất thời, tôi đưa một vài thí dụ cho thấy yếu tố thời gian không hề là một yếu tố ép buộc, hay giới hạn, để các tòa án quốc tế giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ.

    Tranh chấp Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc khá giống với tranh chấp Anh và Argentina về quần đảo Falklands. Tranh chấp quần đảo Falklands xảy ra trước tranh chấp Hoàng Sa. Năm 1816, sau khi Argentina dành được độc lập, có tuyên bố kế thừa Tây Ban Nha về chủ quyền quần đảo Falklands. Đến năm 1832 nước này bắt đầu cho xây dựng một số cơ sở hành chánh trên đảo. Tuy nhiên, năm 1833 tàu chiến của Anh đuổi các di dân Argentina vừa định cư trên đảo và chiếm đóng đảo này. Tranh chấp kéo dài đến năm 1982 thì đưa đến xung đột vũ trang. Argentina thua trận, nhưng vẫn không tuyên bố từ bỏ chủ quyền. Gần đây nhất, bà tổng thống Argentina, được sự ủng hộ của nhiều nước Nam Mỹ, dự định đưa vấn đề tranh chấp ra tòa án quốc tế. Điều đáng chú ý, hai nhà nước Argentine, năm 1982 và hiện nay, là hai nhà nước đối chọi nhau về thể chế (độc tài và dân chủ). Tuy vậy tính liên tục quốc gia không hề bị đặt lại.

    Nếu so sánh với tranh chấp Hoàng Sa, ta thấy tranh chấp Việt-Trung khoảng 100 năm, trong khi tranh chấp Anh-Argentina là khoảng 180 năm. Cuộc chiến Falklands đến nay là 30 năm, cuộc chiến Hoàng Sa là 37 năm.

    Còn nhiều thí dụ khác như tranh chấp Nga-Nhật về quần đảo Kouriles từ năm 1945, tranh chấp Trung-Nhật về quần đảo Điếu Ngư từ năm 1945 … để ý, tranh chấp các đảo này bắt nguồn từ thế kỷ 17, 19… Tranh chấp Phi-Mã Lai về lãnh thổ kéo dài từ những năm hai nước vừa độc lập đến nay vẫn chưa giải quyết. Còn nhiều tranh chấp khác trên thế giới về lãnh thổ cũng kéo dài hàng thế kỷ. Một số đã được đưa ra toàn án quốc tế để giải quyết như tranh chấp Thái-Miên về ngôi đền Preah Vihear. Tranh chấp Thái-Miên là một tranh chấp kéo dài hơn ½ thế kỷ, với những xung đột vũ trang, phe này chiếm, phe kia chiếm lại nhiều lần v.v…

    Các nước Nhật-Nga, Nhật-Trung, Argentina-Anh, cũng như các nước khác… có thế đưa ra một trọng tài phân xử về chủ quyền ở các lãnh thổ tranh chấp bất kỳ lúc nào mà các nước này đồng thuận mong muốn. Vì vậy, tôi thấy thời gian là một yếu tố tương đối. Luật pháp quốc tế, theo tôi biết, qua các trường hợp trên, không hề xác định giới hạn thời gian là bao lâu việc tranh chấp đó xem như khóa sổ, không đưa ra phân xử nữa.

    Ở nhiều nước có những đạo luật giới hạn thời gian khởi kiện một số vấn đề nào đó.
    Có vấn đề, đơn khởi kiện chỉ được nộp trong vòng 3 năm hay 5 năm hay 10 năm ..... Qua thời gian này, vấn đề sẽ không được tòa xét đến, coi như là thua, là chấp nhận.

    VNCH mất HS vào năm 1974.
    Những CQ tiếp theo đó là CP CMLT CHMN VN, và CHXHCN VN đã im lặng từ 37 năm nay. Như vậy quyền khởi kiện có còn trong vòng được nộp đơn, hay quyền này đã mất giá trị vì đã quá hạn cho phép??????

    Tại sao TQ mới giở trò những năm gần đây, trước đó thì tình đồng chí, anh em " răng hở, môi lạnh "?????

    Nguyễn Jung

    Đùa thêm với ông KQĐ , tôi là dân Thanh Hóa , nơi tạo ra Chúa Nguyễn Hoàng vào khai phá trời Nam . Mọi thành quả đó phải được con riêng , cháu chung dính dáng đến dân Thanh Hóa thừa hưởng đó nhé .Bọn Thanh Hóa chúng tôi hứng lên gọi từ sông Gianh trở vào Nam là Thanh Hóa 2 đấy. Chứng minh thư hay hộ chiếu phải làm lại đấy . Lúc đó mệt đấy .

    Khách Qua Đường viết:
    Bạn PVĐ cần nhớ là những kiểu thống nhất như của Quang Trung, Gia Long và Tần Thủy Hoàng là thống nhất trong thời đại phong kiến, thống nhất theo kiểu cá lớn nuốt cá bé vào thuở chưa có cái mà thế giới văn minh hiện đại gọi là công pháp quốc tế.

    Làm gì có công pháp quốc tế nào quy định cho nhóm nào được quyền công nhận sự thống nhất của một quốc gia. Ong^ KQĐ đem công pháp nào ra dọa nước CHXHCNVN vậy ? Bây giờ , các nước có chế độ phong kiến vẫn tồn tại , đâu có phân biệt là phông kiến thì "công pháp quốc tế" ( trời ơi đất hỡi nào đó ) không chiếu đến.

    Khách Qua Đường viết:
    Xin thưa, chủ nhân và thừa kế của VNCH ngày nay là không ai khác ngoài nhân dân gốc miền Nam trên lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 vào Nam, và hậu duệ của họ. Những người miền Bắc (tức là công dân VNDCCH trước 1975) không được quyền thừa kế di sản VNCH này, tuy con cháu của họ CÓ THỂ hưởng quyền thừa kế vì chúng sinh trưởng trên lãnh thổ của cựu VNCH.

    Đây là một quan điểm phi pháp . Không có một công pháp quốc tế nào chứng nhận quyễn thừa kế như vậy . Không có 1 điều khoản nào cổ vũ cho công dân ma VNCH nhận di sản . Và cũng không có quốc gia nào dám cấp hộ chiếu VNCH ma để làm thủ tục nhận quyền thừa kế . Câu chuyện của ông Trương Nhân Tuấn có thể sẽ trở thành trò cười nếu những ngưỡi như ông KQĐ tán dương theo quan niệm như vậy .

    VN2006A viết:
    Vấn đề là phải tìm cách chứng minh tính liên tục. Thể chế trên 1 quốc gia thì cứ 3 hôm thay đổi 1 lần, nhưng đâu có nghĩa là sở hữu lãnh thổ quốc gia đó bị thay đổi theo???

    Cần gì phải tìm mà chỉ cần hỏi xoáy mấy ông đưa ra cái lý lởm khởm đó như sau : 1. Nếu CHXHCN VN không đủ tư cách kế thừa di sản .... thì Sài Gòn , Đà Nẵng, Huế ... trao lại cho ai ? Ai dám lao vào nhận dù có di chúc đội mồ của VNCH ?
    Tôi cho rằng ông Trương Nhân Tuấn đã dựa vào một quan niệm sai , nhưng lại nghi ông Khách Qua Đường có các còm trong bài chủ này không phải là ông Khách Qua Đường của mấy hôm trước . Tư duy và quan niệm đã đổi chiều 180 độ .

    PVĐ viết:
    Khách Qua Đường viết:

    Muốn cho quốc gia VN thống nhất có được giá trị pháp lý mà thế giới thừa nhận, cần phải tái thực hiện sự thống nhất này bằng những thủ tục hợp lệ và hợp pháp.

    Đây là quan điểm không đúng đắn . Quang Trung thống nhất Việt Nam cóc cần thế giới thừa nhận . Tần Thủy Hoàng lại càng không cần ai. Thế giới là những con khỉ nào thừa nhận và nhận cái gì , tích sự gì . Ví dụ như sự việc ở Korea , thế giới nào thừa nhận hay làm được cái gì, chỡ đến lúc nào thì nhóm Ngao Sò Oc Hến đó thừa nhận ?

    Khách Qua Đường viết:
    . Bằng không, nước CHXHCNVN chỉ là kẻ kế thừa của VNDCCH, nhưng không bao giờ là kẻ kế thừa của VNCH trên công pháp quốc tế.

    Xin ông trả lời câu hỏi phản biện : Vậy VNCH bây giờ ở đâu ? Di chúc đâu ( dành cho ngưỡi không hiểu việc quốc sự và dân sự )? Ai đủ tiêu chuẩn thừa kế ? Cao Miên , Thái Lan, Hồng Công , Hoa Kỳ , Trung Quốc hay Somali ... ?

    Bạn PVĐ cần nhớ là những kiểu thống nhất như của Quang Trung, Gia Long và Tần Thủy Hoàng là thống nhất trong thời đại phong kiến, thống nhất theo kiểu cá lớn nuốt cá bé vào thuở chưa có cái mà thế giới văn minh hiện đại gọi là công pháp quốc tế.

    Ai là thừa kế của VNCH (Cao mên, Thái Lan, v.v...)? Xin thưa, chủ nhân và thừa kế của VNCH ngày nay là không ai khác ngoài nhân dân gốc miền Nam trên lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 vào Nam, và hậu duệ của họ. Những người miền Bắc (tức là công dân VNDCCH trước 1975) không được quyền thừa kế di sản VNCH này, tuy con cháu của họ CÓ THỂ hưởng quyền thừa kế vì chúng sinh trưởng trên lãnh thổ của cựu VNCH.

    Tuy nhiên, nếu có cuộc THỐNG NHẤT hợp với công pháp quốc tế (qua những thủ tục hợp lệ và hợp pháp) của hai thực thể pháp lý VNCH và VNDCCH thì mọi người VN (bất kể là Nam hay Bắc trước 1975 và hậu duệ của họ) đều là thừa kế của cả VNCH lẫn VNDCCH. Đây là trường hợp LÝ TƯỞNG nhất mà theo tôi mọi người đều mong muốn.

    Nếu VN hợp nhất với Lào, hay trường hợp TQ với Tây Tạng thì ý kiến của ông "Khách Qua Đường" hoàn toàn đúng!!!

    Nhưng VN trước đó là 1 nước thống nhất. Do tranh giành của chiến tranh lạnh nên bị chia ra làm đôi. Sau đó lại thống nhất, dù bằng vũ lực, nhưng vẫn có thể coi đó là biện pháp mạnh chống tình trạng "ly khai".

    Tôi không nghĩ là phải "tái tạo" lại CQ Miền Nam mới kế thừa được VNCH!!! Mà nếu "tái tạo" lại 1 CQ thì phải có luật là 1 CQ được phép "chết" bao lâu thì được phép "tái tạo". Không có luật về thời hạn, TQ "tái tạo" lại triều Hán thì VN mất hết à???

    Vấn đề là phải tìm cách chứng minh tính liên tục. Thể chế trên 1 quốc gia thì cứ 3 hôm thay đổi 1 lần, nhưng đâu có nghĩa là sở hữu lãnh thổ quốc gia đó bị thay đổi theo???

    Khách Qua Đường viết:

    Muốn cho quốc gia VN thống nhất có được giá trị pháp lý mà thế giới thừa nhận, cần phải tái thực hiện sự thống nhất này bằng những thủ tục hợp lệ và hợp pháp.

    Đây là quan điểm không đúng đắn . Quang Trung thống nhất Việt Nam cóc cần thế giới thừa nhận . Tần Thủy Hoàng lại càng không cần ai. Thế giới là những con khỉ nào thừa nhận và nhận cái gì , tích sự gì . Ví dụ như sự việc ở Korea , thế giới nào thừa nhận hay làm được cái gì, chỡ đến lúc nào thì nhóm Ngao Sò Oc Hến đó thừa nhận ?

    Khách Qua Đường viết:
    . Bằng không, nước CHXHCNVN chỉ là kẻ kế thừa của VNDCCH, nhưng không bao giờ là kẻ kế thừa của VNCH trên công pháp quốc tế.

    Xin ông trả lời câu hỏi phản biện : Vậy VNCH bây giờ ở đâu ? Di chúc đâu ( dành cho ngưỡi không hiểu việc quốc sự và dân sự )? Ai đủ tiêu chuẩn thừa kế ? Cao Miên , Thái Lan, Hồng Công , Hoa Kỳ , Trung Quốc hay Somali ... ?

    Thanks bác Trương Nhân Tuấn - Ngô Quốc Dũng đã lên tiếng.
    Nếu bác TNT-NQD và các bác khác có cho thêm nguồn thì hay hơn

    Việc đầu tiên tôi muốn biết là CP MTGPMN VN có được công nhận không ? Hiệp định Paris có tham dự chính thức như một chính phủ không ?

    Khi thống nhất VN, chính phủ MTGPMN VN có tuyên bố như thế nào ? Nếu họ công bố bằng công văn chính thức với ý "tiếp quản toàn bộ lãnh thổ do chính phủ VNCH quản lý" thì đương nhiên phải có HS-TS trong đó chứ ?

    Tôi nghĩ các bác nên nhanh chóng lập một hồ sơ pháp lý về HS-TS cho VN như một "kênh không chính thức" trong mục đích chuẩn bị, tìm hiểu pháp lý cho VN.

    Cái gọi là "thống nhất hai miền Nam Bắc" do ông Lê Duẩn và ĐCSVN thực hiện năm 1976, theo tôi, thực chất là một sự CƯỠNG BÁCH nhân dân miền Nam phải KHUẤT PHỤC miền Bắc bằng súng đạn, bằng xe tăng, đại pháo, chứ hoàn toàn không là một sự HỢP NHẤT do sự đồng thuận tự do và tự nguyện của nhân dân VN trên hai miền Nam Bắc. Nó lại càng không phải là một sự THỐNG NHẤT pháp lý của hai thực thể pháp lý VNCH và VNDCCH theo nghĩa của công pháp quốc tế. Cho nên, dù ĐCSVN và một số "trí thức phò Đảng" có rêu rao gì đi chăng nữa, sự "THỐNG NHẤT" này khi đem ra trước một Tòa án Quốc tế để tranh cãi hầu mang về cho CHXHCNVN cái chủ quyền trên HS, TS qua tư cách là "quốc gia kế thừa" của VNCH (chủ nhân đích thực và nước kế thừa các triều đình nhà Nguyễn sau năm 1954, cho đến năm 1975, ngày VNCH bị XÓA SỔ bởi VNDCCH) sẽ nhanh chóng bị BÁC BỎ dưới cái nhìn nghiêm túc của các vị luật gia quốc tế.

    Muốn cho quốc gia VN thống nhất có được giá trị pháp lý mà thế giới thừa nhận, cần phải tái thực hiện sự thống nhất này bằng những thủ tục hợp lệ và hợp pháp. Việc đầu tiên là phải tái tạo chính quyền miền Nam và sau đó tổ chức cuộc trưng cầu dân ý trên hai miền Nam Bắc xem cả hai miền có muốn THỐNG NHẤT hay không. Cuộc trưng cầu dân ý này phải công khai, công bình, tự do, có sự quan sát của Liên Hiệp Quốc. Nếu qua cuộc trưng cầu dân ý mà đa số người dân trên cả hai miền bỏ phiếu chấp thuận, thì sau đó cuộc HỢP NHẤT mới có giá trị trên công pháp quốc tế. Từ đó, quốc gia thống nhất mới là kẻ thừa kế của hai quốc gia cũ là VNCH và VNDCCH. Bằng không, nước CHXHCNVN chỉ là kẻ kế thừa của VNDCCH, nhưng không bao giờ là kẻ kế thừa của VNCH trên công pháp quốc tế.

    vớ vẩn,

    - thứ nhất chuyện đối xử tàn tệ với 1 người thì bị truất quyền thừa kế thì đúng là có! (hình như Đức cũng có cái luật ấy) Nhưng chỉ áp dụng cho dân sự, chẳng thấy ai áp dụng cho thể chế cả???

    - Thứ 2 chuyện gọi VNCH là Ngụy cũng chẳng có giá trị pháp lý! Đó là tuyên truyền trong chiến tranh, giữa người Việt với nhau. VNCH thì cũng gọi VNDCCH là tay sai, nô lệ của Nga, Tầu thì sao???

    Tiếp nữa là thế giới không quan tâm đến chuyện bọn Vietnam gọi nhau là gì!!! Họ chỉ quan tâm là trên lãnh thổ VN có 2 thể chế tồn tại, và đây mới là điểm chính. À không, phải là 3 Chính quyền chứ!!!???

    Chiện viện lý do là VNDCCH tuyên bố với VNCH : "các anh đã thất bại hoàn toàn, không còn gì để bàn giao nữa!" để "truất quyền thừa kế" của CHXHCN VN cũng chẳng thuyết phục!

    Đó chỉ là 1 câu nói miệng, không có văn bản chính thức. Chính quyền thất bại hoàn toàn là CQ Nguyễn Văn Thiệu/ Dương Văn Minh!!! Nhưng vẫn còn 1 chính quyền nữa trên lãnh thổ VNCH. Chính quyền của chị gái Nguyễn Thị Bình (mặc quần thủng đáy, điều đình Ba Lê)!!!

    Khách Qua Đường viết:
    Trương Nhân Tuấn viết:

    Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man? Không. Anh có thể ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể "kế thừa" di sản của người này được.

    Câu nói này hay tuyệt vời, à không, phải nói là trên cả tuyệt vời.
    Tôi hoàn toàn đồng ý và chia sẻ với ông Trương Nhân Tuấn

    Pages