Trương Nhân Tuấn - Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?

  • Bởi Hồ Gươm
    03/06/2012
    62 phản hồi

    Trương Nhân Tuấn

    Trả lời cho một số câu hỏi của bạn đọc Dân Luận <em>"Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?"</em> của tác giả Trương Nhân Tuấn

    Đôi lời giới thiệu về tác giả Trương Nhân Tuấn:

    Ông Trương Nhân Tuấn (Ngô Quốc Dũng)

    Ông Trương Nhân Tuấn tên thật là Ngô Quốc Dũng, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1956 tại Bạc Liêu. Năm 1974 đã đậu chứng chỉ căn bản về Khoa Học (MPC) tại Đại Học Khoa Học Sàigòn. Việc miền Nam sụp đổ năm 1975 khiến ông phải bỏ học một thời gian. Năm 1980 ông qua Pháp, vừa đi làm vừa học lại, lấy được bằng Cao Học về Toán và Vật Lý. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo công phu về chủ quyền biên giới lãnh thổ - lãnh hải của Việt Nam.

    Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp, đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả hai lần Trung Quốc đều không đáp ứng. Thái độ của Trung Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủ quyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa. Do đó họ chủ trương sử dụng mưu kế hay chờ đợi thời cơ, dùng vũ lực để giải quyết vấn đề. Kể từ đó, nhiều thế hệ lãnh đạo, hay chế độ chính trị, tiếp nối nhau, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc không thay đổi. Năm 1956 Trung Quốc lợi dụng cơ hội sự lúng túng của Pháp tại Đông Dương đổ quân chiếm nhóm đảo An Vĩnh. Năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm nốt nhóm đảo còn lại là nhóm Nguyệt Thiềm, qua một trận hải chiến bất cân xứng giữa hải quân nước này với hải quân của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều đáng ngại là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc bao gồm luôn quần đảo Trường Sa và một vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích biển Đông. Tham vọng bành trướng của Trung Quốc sẽ không ngừng ở Hoàng Sa. Họ có thể sử dụng vũ lực bất kỳ khi nào có thời cơ thuận tiện để chiếm quần đảo Trường Sa và vùng biển tại đây.

    Điều làm người ta bất mãn là thái độ hiện nay của nhà cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam như bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; hoặc các thái độ ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí, nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km. Hành động phản đối gọi là "kịch liệt" lắm của Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ở các tuyên bố suông. Trong khi đó, một mặt, các chiến hạm của Trung Quốc, ngụy trang dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, để khủng bố ngư dân Việt Nam và mặt khác, hàng năm, Bắc Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra lệnh cấm biển vì lý do quân sự: hải quân Trung Quốc diễn tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho đời sống của ngư dân Việt Nam đảo lộn, hầu hết lâm vào cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà phía Việt Nam vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.

    Bởi vì, một cách để chứng minh chủ quyền của quốc gia ở một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là áp đặt được quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm biển của Trung Quốc được ngư dân Việt Nam "thi hành", như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh cá tại các vùng biển do Trung Quốc cấm, cho dầu qua hình thức cưỡng bức, điều này cũng hàm ý Việt Nam chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức Việt Nam mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền thuộc về Trung Quốc.

    Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho Việt Nam.

    Trước nguy cơ lớn lao, đe dọa sự tồn vong và tương lai vinh nhục của cả dân tộc, nhà cầm quyền Việt Nam đến nay vẫn không có một biện pháp nào xem ra có thể thích nghi để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa. Trong khi đó quyền lợi của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa lại bị Trung Quốc đe dọa trầm trọng.

    Trong các năm vừa qua Việt Nam đã đảm nhận những vai trò quan trọng trên quốc tế, như là thành viên luân phiên của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hay làm chủ tịch ASEAN. Thời cơ do đó không phải là thiếu. Tại sao Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? không đưa các vụ tranh chấp ra tòa án quốc tế hay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc? Các hành động này có thể ít có hiệu quả trên thực tế, vì thái độ ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc, nhưng ít nhứt nó sẽ xoa dịu những bất bình đến từ công chúng trong nước, và trong chừng mực, khẳng định tính chính đáng về lãnh đạo của đảng CSVN.

    Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ "bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây hấn bên ngoài". Người ta có thể phê bình nước Pháp về nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.

    Nhưng hành động của đảng CSVN, từ khi "cướp chính quyền từ tay Pháp, Nhật", lập được nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1949, cho đến năm 1975 "đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào", gồm thu đất nước về một mối "Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", thì chưa bao giờ củng cố hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Câu hỏi chính đáng đặt ra: Tại sao Việt Nam không đề nghị một trọng tài quốc tế để phân xử tranh chấp biển Đông, ít ra tại Hoàng Sa, trong khi nước Pháp đã hai lần đề nghị trong quá khứ?

    Người ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời qua các hành vi của nhà nước này trong từ thập niên 90, qua vụ Trung Quốc xâm lấn bãi Tư Chính.

    Tháng 5 năm 1992, phía Trung Quốc ký hợp đồng với công ty khai thác dầu khí Cresston của Hoa Kỳ nhằm khai thác khu vực Vạn An Bắc, tức khu vực Tư Chính của Việt Nam. Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

    Lý lẽ của Trung Quốc như thế phải hiểu:

    1/ Trung Quốc có chủ quyền tại Trường Sa.

    2/ Các đảo Trường Sa có hiệu lực là "đảo"

    3/ vùng Tư Chính, tức Vạn An Bắc, là vùng chồng lấn giữa thềm lục địa bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? với các đảo Trường Sa.

    Theo lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington phụ trách bênh vực quyền lợi của Việt Nam. Hồ sơ bãi Tư Chính được thành hình năm 1995, do Brice M. Claget thuộc tổ hợp thành lập, mang tên: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Lập luận của hồ sơ này là:

    1/ bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam,

    2/ các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của "đảo" theo luật Biển 1982, và

    3/ vì vậy không hề có chồng lấn giữa các đảo Trường Sa với thềm lục địa Việt Nam.

    Ta thấy các nhược điểm trong lập luận của Brice M. Claget là:

    1/ không xác định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo Trường Sa, không phản đối chủ quyền của Trung Quốc ở các đảo Trường Sa, điều này có thể hiểu ngầm Việt Nam đồng ý Trung Quốc có chủ quyền tại các đảo này.

    2/ Các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của "đảo". Lý lẽ này không vững vì yếu tố lớn hay nhỏ của một đảo không hề được đề cập trong luật Biển 1982. Một đảo có hiệu lực hay không là do hai việc:

    a) có thích hợp cho người sinh sống và

    b) có một nền kinh tế tự túc.

    Tại sao phía Việt Nam chấp nhận lý lẽ của tổ hợp luật sư trong hồ sơ "Tư Chính" mà không hề có bảo lưu về chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa?

    Lý ra, Việt Nam có thể nhân vụ này kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế ít nhất về 3 lẽ :

    1/ khu vực Tư chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam (theo qui định 200 hải lý tính từ đường cơ bản theo luật Biển 1982.

    2/ Chủ quyền các đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, thực ra là Trường Sa, từ lâu đã thuộc về Việt Nam.

    3/ Không hề có việc "chồng lấn" hiệu lực giữa các đảo "Nam Sa" với thềm lục địa Việt Nam, đơn giản vì các đảo Trường Sa, mà Trung Quốc tiếm gọi là Nam Sa, thuộc về Việt Nam.

    Mấy ông luật sư của Hoa Kỳ trong tổ hợp Covington & Burling ở Washington đã "không ngu" như ta tưởng. Vì nếu đưa vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa vào hồ sơ thì phải thay đổi hoàn toàn các dữ kiện, mà điều quan trọng là phải chứng minh Việt Nam có chủ quyền tại các đảo này. Làm việc này thì sẽ gặp một trở ngại lớn lao là phải vô hiệu hóa các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

    Đó là

    1/ tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đồng về tuyên bố hải phận của Trung Quốc.

    2/ Sự im lặng của miền Bắc Việt Nam năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng các đảo Hoàng Sa. Sự im lặng này chính là sự đồng thuận ám thị hành động của Trung Quốc là chánh đáng, Trung Quốc có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều tuyên bố qua báo chí hay của các nhân vật lãnh đạo cũng như nhiều hành vi ám thị đồng thuận khác.

    Trong khi việc "kế thừa" di sản Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH thì nhà nước CHXHCNVN đến hôm nay vẫn chưa thực hiện.

    Về vấn đề này, nhiều người cho rằng nhà nước CHXHCHVN là người thừa kế hợp pháp VNCH. Tuy nhiên không thấy ai đưa ra các lý lẽ chứng minh.

    Phía CS miền Bắc gọi VNCH là "ngụy", tức là giả, không phải là một thực thể chính trị. Người ta không thể kế thừa ở một cái gì đó không thật (ngụy). Vả lại, nếu có tư cách "thừa kế", thì theo bộ luật về "kế thừa" của Việt Nam hiện nay, nhà nước CHXHCNVN có thể bị truất quyền "kế thừa" theo điều 643, khoản a và b.

    Điều 643 của bộ luật Dân sự 2005 (hoặc theo Pháp lệnh về kế thừa trước đó) Người không được quyền hưởng di sản

    1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

    a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

    b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

    Ta thấy khi cộng sản miền Bắc chiếm được miền Nam, một chính sách trừng phạt dân miền Nam đã được áp dụng liên tục trong nhiều thập niên. Văn hóa miền Nam bị xem là "văn hóa đồi trụy", đã bị xóa bỏ. Hầu hết nhân sự có liên quan, xa hay gần, đến chính quyền VNCH đều bị trừng phạt như bắt đi tù, bị truất hữu tài sản, nhà cửa, cả gia đình bị đuổi đi kinh tế mới. Lính miền Nam bị khinh miệt gọi là "lính ngụy", chính quyền miền Nam là "ngụy quyền", thậm chí dân miền Nam bị khinh bỉ gọi là "ngụy dân". Đến hôm nay, người dân miền Nam vẫn còn bị trừng phạt. Trên bình diện đầu tư, miền Nam đóng góp trên ¾ của cải cho cả nước, nhưng về hạ tầng cơ sở miền Nam không được đầu tư như miền Bắc. Thậm chí, trong vấn đề giáo dục, miền Nam chỉ được đầu tư một phần tỉ lệ rất nhỏ so với miền Bắc.

    Nhà cầm quyền CSVN, liên tục từ nhiều thập niên, đã "ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm" của người miền Nam. Tư cách gì nhà cầm quyền CSVN lên tiếng đòi "kế thừa" di sản VNCH ngày hôm nay?

    Vì thế ta không ngạc nhiên về các lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington trong hồ sơ: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Các lý lẽ của họ hôm nay, theo đúng như lập luận trong hồ sơ:

    1/ các đảo Trường Sa và Hoàng Sa quá nhỏ để có hiệu lực của đảo.

    2/ Khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng 200 hải lý (theo đúng qui định ZEE và thềm lục địa của luật Biển 1982).

    Đối với họ chỉ có hai chọn lựa: Việt Nam mất ít hay mất nhiều. Họ chọn giải pháp "mất ít".

    Đối với tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, là một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã nhận ra Việt Nam đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó không thể đứng trên căn bản "Việt Nam có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa" để lập hồ sơ mà phải dựa trên lập luận "các đảo Trường Sa và các đảo nhỏ, không thể có ZEE".

    Như thế, đối với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, Hoàng Sa và Trường Sa là đã mất.

    Sự việc như vậy thì làm sao có thể kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế?

    Nhưng nhượng bộ này của Việt Namcũng không xong. Chủ trương của Trung Quốc là "muốn hết". Chủ trương này, nếu Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, là khá phù hợp trên quan điểm pháp lý. Thỏa mãn Trung Quốc, Việt Nam không phải "mất ít" hay "mất nhiều" mà là "mất hết".

    Tôi đã viết một số bài, như bài "Chủ quyền của Việt Nam tại Tư Chính, Vũng Mây", trong đó đả kích đích danh một số cá nhân có chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam. Người ta chỉ có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của dân tộc chỉ khi nào lý lẽ của mình dựa trên nền tảng đúng. Lý lẽ "các đảo Trường Sa là các đảo nhỏ do đó không thể cho chúng vùng ZEE như lãnh thổ đất liền" là không thuyết phục trên phương diện pháp lý. Đảo lớn hay nhỏ, theo luật, chúng có tình trạng pháp lý như nhau, như lãnh thổ trên đất liền.

    Tôi chống, tôi đả kích nhưng người này và nhà nước CSVN, vì tôi thấy có giải pháp khác. Việt Nam "được ít, được nhiều hay được tất cả" thay vì "mất ít, mất nhiều hay mất tất cả".

    Làm thế nào thì tôi đã viết giới thiệu trong bài trước. Cốt lõi của việc này là làm thế nào để kế thừa di sản VNCH. Đây là một vấn đề thuộc về chính trị. Đảng CSVN có can đảm chính trị hay không? Có can đảm nhìn nhận VNCH như là một chế độ đã bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không? Có dám phục hồi danh dự và bồi xứng đáng cho tập thể "ngụy quân, ngụy quyền" mà họ dã truy bức và trả thù tàn độc trong quá khứ hay không?

    Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man? Không. Anh có thể ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể "kế thừa" di sản của người này được.

    Ngoài ra còn thái độ của các học giả Việt Nam hiện nay. Tôi đã viết, các tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hầu hết đều do các học giả VNCH viết từ năm 1974. Tôi nhận thấy rằng, các bài viết chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của các học giả Việt Nam hôm nay đều không ghi tên các tác giả VNCH. Việc này cho thấy, các học giả Việt Nam hiện nay cũng phủ nhận tính chính thống của các học giả VNCH. Các anh cứ nói ông Trần Văn Hữu tuyên bố thế này thế kia, chính quyền thực dân, chính phủ Bảo Đại bù nhìn, chính nguyền ngụy hành sử chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa thế này thế nọ… Trong khi điều nổi bật của chế độ CSVN là công hàm Phạm Văn Đồng 1958 cùng các tuyên bố ngu xuẩn khác. Các anh viết như thế là đã xác nhận tính chính thống của các chế độ đó nhưng các anh không có can đảm nói ra.

    Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của quốc gia Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên. Nhà cầm quyền CSVN chỉ là giai đoạn, trong khi đất nước và dân tộc là trường cửu. Nhà cầm quyền này không nhìn nhận di sản của VNCH thì sẽ có chính quyền khác trong tương lai nhìn nhận nó. Việc này có thể không còn xa lắm.

    Trương Nhân Tuấn

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    62 phản hồi

    Tôi xin góp ý với BBT Dân Luận và các độc giả như sau: Hãy coi bài chủ là một công trình nghiên cứu tầm vĩ mô và góp ý của các thành viên đọc giả phía dưới là mổ sẻ chi tiết từng ý của công trình đó , tìm ra cái đúng và cái chưa hợp lý trong bài chủ . Việc sao chép các bài của các học giả khác , bất chấp các mổ sẻ phía dưới của đọc giả là việc chặn ngang , đánh trống lảng và tạo ra sự bát nháo của một diễn đàn . Đem 1 công trình nghiên cứu của người khác vào phần góp ý sẽ mọi người lại quan tâm đến công trình đó mà có thể dẫn sang chủ đề khác .
    Nếu các thành viên muốn tranh luận bằng việc cóppy các công trình của người khác thì tôi xin hết ý kiến

    HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, VIỆT NAM THỐNG NHẤT CÙNG CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

    Hãn Nguyên Nguyễn Nhã

    - Từ 1975 đến 1990, Việt Nam hợp tác toàn diện với Liên Xô, Trung Quốc đã ký với Mỹ Thông cáo chung ở Thượng Hải năm 1972, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô không giảm ; Việt Nam và Trung Quốc xảy ra chiến tranh năm 1979 khiến tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trở nên gay gắt.
    Chính Quyền Việt Nam thống nhất tiếp tục khẳng định chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vẫn chịu những dư âm tác động đối đầu của các thế lực quốc tế trước đây chưa chấm dứt được sự tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.
    Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược giải phóng Miền Nam đã đến. Bộ chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong mùa khô 1975 bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc…
    Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương chuẩn bị chiến đấu giải phóng quần đảo Trường Sa. Lực lượng tham gia giải phóng gồm có các tàu của đoàn vận tải quân sự 125, đoàn 126 đặc công, tiểu đoàn 471, đặc công quân khu 5 và tiểu đoàn 407 cùng lực lượng đặc công tỉnh Khánh Hoà. Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương nhanh chóng đánh đảo Song Tử Tây trước để làm bàn đạp và rút kinh nghiệm đánh tiếp các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa và các đảo còn lại của quần đảo.
    Ngày 9 tháng 9 năm 1975, đại biểu chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam tại hội nghị khí tượng thế giới tiếp tục đăng ký đài khí tượng Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.
    Ngày 10 tháng 9 năm 1975, Bắc Kinh gửi công hàm cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).
    Ngày 24 tháng 9 năm 1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Tổng Bí Thư Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc về vấn đề Tây Sa và Nam Sa.
    Ngày 12 tháng 5 năm 1977, chính phủ Việt Nam tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.
    Tháng 9 năm 1977, khi thăm Philippines và tháng 10 năm 1977 khi đi thăm Malaysia, thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với tổng thống Ferdinand Marcos và thủ tướng Hussein On rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng thương lượng hoà bình.
    Tháng 3 năm1978, Hội nghị hành chính thế giới về thông tin vô tuyến điện thông qua một nghị quyết cho phép Trung Quốc sử dụng một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa.
    Ngày 30 tháng 12 năm 1978, người phát ngôn Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong tuyên bố ngày 29 tháng 2 năm 1978 của người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất bình bằng thương lượng hoà bình.
    Ngày 30 tháng 7 năm 1979, Trung Quốc đã công bố tại Bắc Kinh tài liệu để chứng minh rằng Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    Ngày 7 tháng 8 năm 1979, Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu của Việt Nam liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.
    Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam công bố một số tài liệu về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
    Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam bác bỏ việc Philippines tuyên bố sát nhập hầu hết lãnh thổ Trường Sa vào lãnh thổ Philippines.
    Ngày 30 tháng 1 năm 1980, Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện về Tây Sa và Nam Sa. Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980.
    Ngày 29 tháng 4 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Malaysia phản đối việc Malaysia công bố bản đồ Malaysia lấn vào vùng biển và thềm lục địa Việt Nam tại vùng Trường Sa.
    Ngày 8 tháng 5 năm 1980, nhân chuyến viếng thăm và hội đàm với Malaysia, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định đảo An Bang là của Việt Nam.
    Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí Tượng Khu Vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm như cũ.
    Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM.
    Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu Điện Việt Nam điện cho Chủ Tịch Ủy Ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
    Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại Giao Việt Nam công bố sách trắng : “ Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam ”.
    Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin là một hải cảng lớn được xây dựng tại Hoàng Sa.
    Tháng 10, tại Hội Nghị Toàn Quyền của UIT, đại biểu Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève.
    Ngày 12 tháng 11 năm 1982, chính phủ Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
    Ngày 4 tháng 2 năm 1982, chính phủ Việt Nam thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
    Ngày 9 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam lập huyện Trường Sa. Đến ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam quyết định huyện Trường Sa được nhập vào tỉnh Phú Khánh.
    Tháng 1 năm 1983, Hội Nghị Hành Chính Thế Giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới.
    Cũng tháng 01 năm 1983, Hội Nghị Hàng Không Khu Vực Châu Á Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng FIR Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và FIR TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội Nghị quyết định duy trì nguyên trạng.
    Từ ngày 4 đến 16 tháng 4 năm 1984, đoàn đại biểu Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu tỉnh Phú Khánh thăm huyện Trường Sa. Thứ trưởng Bộ Thủy Sản Việt Nam Vũ Văn Trác đi khảo sát nghề cá tại huyện Trường Sa.
    Ngày 25 tháng 4 năm 1984, Uỷ Ban Địa Danh Trung Quốc công bố tên mới cho các đảo, bãi, đá trong Biển Đông trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
    Ngày 6 tháng 5 năm 1984, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối việc đặt tên của Trung Quốc.
    Tại Hội Nghị Tổ Chức Thông Tin Vũ Trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc.
    Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối Malaysia chiếm đóng đảo Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa.
    Vào đầu năm 1985, Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.
    Sang năm 1986, ông Hồ Diệu Bang, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc cùng Lưu Hoa Thanh, Trương Trọng Tiến đi thị sát Hoàng Sa.
    Tháng 5 năm 1987, đô đốc Giáp Văn Cường, Tư lệnh hải quân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.
    Từ 16 tháng 5 đến 6 tháng 6 năm 1987, hải quân Trung Quốc tập trận tại vùng biển Trường Sa.
    Tháng 10 năm 1987, hải quân Trung Quốc diễn tập quân sự tại Tây Thái Bình Dương và Nam Biển Đông.
    Ngày 10 tháng 11 năm 1987, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên đá Louisa (Nandong Jiao) (113° – 6°8').
    Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa, đi từ đảo Hải Nam xuống phía Nam, trong đó có bốn chiếc được phái đến khu vực quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của hai tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên là hai bãi san hô còn đang lập lờ mặt nước. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải của Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do quân đội Việt Nam bảo vệ. Trong đợt hoạt động trên, Trung Quốc đã thành lập một bộ tư lệnh đặc biệt, sử dụng lực lượng của hạm đội Nam Hải, được tăng cường một bộ phận của hạm đội Đông Hải và họ thường xuyên dùng trên 20 tàu các loại ở khu vực quần đảo Trường Sa.
    Về sự kiện xảy ra ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc nói rằng : “ Trung Quốc buộc phải phản kích để tự vệ ”. Theo cách nói đó, có nghĩa là hải quân Việt Nam là kẻ tấn công (bằng hai tàu vận tải!), còn hải quân Trung Quốc là kẻ phòng thủ tự vệ. Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tiến công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Lan Đao, Cô Lin, Gac Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.
    Ngày 14 tháng 3 năm 1988, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển Nam Trung Quốc. Cuộc chiến đấu này mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi. Tàu vận tải số 64 của hải quân Việt Nam chở đầy binh lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ số 505 và một tàu vận tải khác số 605 bị bắn trọng thương, kéo theo đám cháy và cột khói đen ngòm. Tàu đổ bộ số 505 bị chìm trên đường về, còn tàu đổ bộ số 605 thì bị mắc cạn. Cuộc chiến đấu không cân sức trên giữa các tầu vận tải của Việt Nam vời các tầu chiến của Trung Quốc, vẻn vẹn chỉ diễn ra có 28 phút đã kết thúc với kết quả phía Việt Nam có một tàu bị chìm tại chỗ, hai tàu bị thương, chết và bị thương 20 người, mất tích 74 người. Còn phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên khác trên đảo bị thương, ngoài ra không bị tổn thất gì, đây là một trận chiến đấu trên biển mà phía Trung Quốc cho là « đánh gọn và đẹp mắt » (sic). Sau các va chạm trên, hải quân Trung Quốc tiếp tục ngăn cản các hoạt động tiếp tế do tàu Việt Nam thực hiện.
    Tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã chiếm đóng : Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi.
    Ngày 3 tháng 1 năm 1989, Trung Quốc đặt bia chủ quyền trên các bãi họ chiếm được trong năm 1988 : Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi.
    Năm 1988, Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ ngoại giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (nghị quyết ngày 13 tháng 4 năm 1988 thành lập tỉnh Hải Nam).
    Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố Sách trắng Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế.
    Ngày 14 tháng 8 năm 1989, chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh Tế Khoa Học Dịch Vụ trên vùng bãi ngầm Tứ Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam có toạ độ 7 - 8°3' B, 109 - 112°20' Đ.
    Ngày 2 tháng 10 năm1989, người phát ngôn Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28 tháng 4 năm 1989. Người phát ngôn bộ ngoại giao Trung Quốc đã lên án Việt Nam xâm phạm trái phép một số đảo và cù lao tại bãi Vạn An và Bãi Vạn Nhã thuộc “quần đảo Nam Sa” .
    Ngày 9 tháng 3 năm 1990, Trung Quốc kết thúc đợt khảo sát khoa học ở quần đảo Trường Sa bắt đầu từ ba năm trước.
    Ngày 18 tháng 3 năm 1990, nhiều tàu đánh cá từ Quảng Châu đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.
    Ngày 28 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa.
    - Từ năm 1990 đến nay, khối Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam đổi mới, làm bạn với tất cả các nước kể cả Trung Quốc và Mỹ, sự tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa Trung Quốc và Việt Nam không còn gay gắt như trước, song số dự trữ dầu lửa lớn ở Biển Đông khiến Trung Quốc vẫn chưa chịu trả Hoàng Sa cho Việt Nam và các nước khu vực và Trung Quốc vẫn tiếp tục tranh chấp với Việt Nam ở Trường Sa.
    Tháng 8 năm 1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai thác chung khu vực quần đảo Trường Sa.
    Ngày 1 tháng 12 năm 1990 trong cuộc đi thăm Philippines, Thủ tướng Lý Bằng nói : “ Chúng ta có thể tìm ra một giải pháp thích hợp đối với vấn đề Trường Sa với các bên hữu quan vào lúc thích hợp, nếu không phải là vào lúc này, tôi nghĩ chúng ta có thể gác lại vấn đề này và không để nó gây trở ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng hữu quan ”.
    Ngày 1 tháng 2 năm 1991, Trung Quốc xây dựng nhiều hải đăng trên các bãi đá ngầm mới chiếm được trong quần đảo Trường Sa.
    Ngày 25 tháng 5 năm 1991, Trung Quốc công bố kết quả 8 năm khảo sát khoa học ở Trường Sa kể từ năm 1984.
    Ngày 4 tháng 7 năm 1991 tại KuaLa Lumpur tổ chức một hội thảo không chính thức về giải quyết các tranh chấp trên vùng Biển Đông, Trung Quốc có cử đoàn cán bộ tham gia, người phát ngôn Bắc Kinh tuyên bố việc tham gia như thế không phải là Trung Quốc đã thay đổi lập trường và nói : “ Trung Quốc chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, Trung Quốc sẵn sàng cùng các nước liên quan thảo luận con đường và phương pháp cùng khai thác ” .
    Từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1991, do sáng kiến của Indonésia, một hội nghị quốc tế đã được tổ chức giữa các quốc gia trong khu vực về vấn đề quần đảo Trường Sa. Bản thông cáo cuối cùng khuyến khích đối thoại và đàm phán.
    Ngày 10 tháng 11 năm 1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký tại Bắc Kinh thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.
    Ngày 25 tháng 2 năm 1992, quốc hội Trung Quốc công bố luật lãnh hải và vùng tiếp giáp Trung Quốc, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý và lãnh thổ Trung Quốc giữa bốn quần đảo Đông, Tây, Nam, Trung Sa và đảo Điếu Ngư. Việt Nam đã lên tiếng công khai phản đối sự kiện này. Năm 1994, Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với công ty Crestones (Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc gọi là hợp đồng Vạn An Bắc 21. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, ông R.C. Thompson, chủ tịch công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ) ra thông báo với báo chí, nói rằng họ đang tiến hành khảo sát địa chấn và chuẩn bị thăm đảo để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng "Vạn An Bắc 21". Thông báo nói rằng : " Việc nghiên cứu khoa học và kế hoạch khai thác thương mại trong tương lai là những bước phát triển mới nhất của lịch sử nghiên cứu khoa học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực vạn An Bắc của Trung Quốc, bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trươc Công Nguyên vào thời Hán Vũ Đế ".
    Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phát hiện dầu thương mại. Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như AGIP (Ý), DIMINEX (CHLB Đức), BOW VALLEY (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam. Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động. Tháng 9/1975, Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí. Thềm lục địa Việt Nam rộng chừng 1,3 triệu km2, được chia thành 171 lô với diện tích trung bình mỗi lô khoảng 8000 km2. Trong đó có 31 lô có độ sâu mực nước biển dưới 50m, 35 lô từ 50 -100m, 10 lô từ 100 - 250m, 38 lô từ 200-2000m và 57 lô là có mực nước sâu trên 2000m. Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triển vọng chứa dầu khí. Cho đến cuối những năm 80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên 100.000 km tuyến địa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã phát hiện được ba mỏ dầu khí (Bach Hổ, Rồng và Đại Hùng). Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác. Sản lượng năm 1986 : 0,04 triệu tấn, 1988 : 0,68 triệu tấn, 1989 : 1,5 triệu tấn, 1990 : 2,7 triệu tấn, 1991 : 3,96 triệu tấn… (PTS Nguyễn Hiệp, Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Dầu Khí Việt Nam, " Thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam ", Khoa học và Tổ Quốc, (số 93), 1992, tr5).
    Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trên khiến người ta thấy tiềm năng vùng Biển Đông có nhiều triển vọng về dầu khí. Các tài liệu của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa cho con số trữ lượng từ 23 đến 30 tỷ tấn dầu tại vùng Nam Biển Đông. Chính số lượng dự trữ dầu lớn như vậy đã khiến cho sự tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chưa dễ gì chấm dứt.

    SỰ THỰC VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA & GIẢI PHÁP BỀN VỮNG CHO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA & BIỂN ĐÔNG.

    Như trên đã trình bày, Trung Hoa khi bắt đầu khảo sát Tây Sa vào năm 1909 cho rằng Tây Sa là vô chủ. Hồi năm 1898, Chính quyền Quảng Châu, Trung Hoa đã trả lời các khiếu nại của công sứ Anh ở Bắc Kinh về công ty Bảo hiểm người Anh bảo hiểm các tàu Bellona của Đức (bị đắm năm 1895) và tàu Humeji-Maru của Nhật (bị đắm năm 1896) đã bị những người Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá rằng : “ Quần đảo Tây Sa là những ḥòn đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng ” ( Monique Chemillier- Gendreau, sđd, p.158).
    Đến khi Pháp bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử sự chiếm hữu của Việt Nam, Trung Hoa hồi đó và Trung Quốc bây giờ lại luôn luôn nói rằng Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) đã thuộc về Trung Quốc từ lâu, bất khả tranh nghị, khi thì nói từ đời Minh, khi thì nói từ đời Tống. Sự thực thế nào ?
    Sự thực là quần đảo Hoàng Sa không hề là vô chủ như luận điểm của chính quyền Trung Hoa hồi năm 1909 : Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời : từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, không ít ỏi như thư của Toàn Quyền Pasquier gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930, mà đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.
    Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ, trong Hồng Đức Bản Đồ năm 1686 và Phủ Biên Tạp Lục năm 1776 của Lê Quý Đôn.
    Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tư liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
    Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :
    - Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.
    - Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
    - Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848) ; đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864) ; đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    - Tài liệu rất quý gía, châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.
    - Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản...
    Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.
    Đặc biệt nhất sự kiện năm 1836 Vua Minh Mạng sai suất đội thủy binh Phạm Hữu Nhật, người gốc đảo Lý Sơn chỉ huy thuỷ quân đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó thành lệ hàng năm. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua hàng năm cử người ra Hoàng Sa ngòai việc đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. Châu bản, Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ : “ Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc ”. Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ : “ Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mỗt bài khắc những chữ :
    “ Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hòang Sa tương đồ chí thử hữu chí đẳng tư ”(tờ 25b).
    (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).
    Vì̀ sự kiện trên đã thành lệ hàng năm, nên Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851), quyển 207, tờ 25b-26a và quyển 221 đã chép lại việc dựng miếu, dựng bia đá, cắm cột mốc năm 1836 và lệ hàng năm phái biền binh thủy quân đi vãng thám, vẽ bản đồ…

    Về những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy :
    - Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
    - Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.
    Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc.
    Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.

    Về những tư liệu Phương Tây cũng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :
    • Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.
    • “Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.
    • “Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816.
    • An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh- Annam, ghi rõ « Paracels seu Cát Vàng » với tọa độ rõ ràng như hiện nay chứ không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển.(« Seu » tiếng la tinh có nghĩa « hay là », Cát Vàng : chữ nôm, Hoàng Sa : chữ Hán)..
    • The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels.
    • “The Journal of the Geographycal Society of London” (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels...
    ….
    Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng ngụy tạo nói ngược lại luận điệu ban đầu, từng cho là đất vô chủ hồi 1909, cho rằng Tây Sa đã thuộc Trung Quốc từ lâu. Ngay tên Tây Sa và Nam Sa cũng mới đặt từ sau năm 1907 và Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa, khi chỉ Nam Sa ở vị trí hiện nay (Spratleys). Có chăng thời Minh hay thời Hán thì cả nước Nam đã bị Trung Hoa đô hộ, Thời Tống Đại Việt cũng bị xâm lược, song đã giành được độc lập rồi !
    Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đã rõ ràng như trên. Khi bị Trung Hoa xâm phạm, vào thời điểm ban đầu, với tư cách là người đến xâm chiếm thuộc địa, người Pháp chưa hiểu hết lịch sử chủ quyền lãnh thổ Việt Nam nên có lúc đã không lên tiếng bảo vệ kịp thời. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Chính quyền thực dân Pháp đã có đủ thông tin và thay đổi quan điểm, bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
    Sự thực là bất cứ chính quyền nào kể cả chính quyền thuộc địa chịu trách nhiệm về quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
    Và nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đã bị Pháp đô hộ và chịu ảnh hưởng những biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ thời chiến tranh lạnh và sau nà̀y và tham vọng bành trướng mở rộng yêu sách lãnh thổ bằng vũ lực.
    Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã quá rõ ràng như thế thì khi Việt Nam không còn bị Pháp đô hộ và tình hình thế giới và Việt Nam đã biến chuyển, khác trước thì giải pháp phải là “ cái gì của César phải trả lại cho César ”.
    Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào dù khác chính kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử cho biết dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, khi có thời cơ, sẽ đấu tranh thành công. Đối với các nước Asean trên cơ sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối càng ngày càng chặt chẽ, đôi bên đều có lợi.
    Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông, đã có những bài học lịch sử quí giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc.
    Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 cũng như Trung Quốc dùng võ lực năm 1974 chỉ mang tính nhất thời, không có giá trị pháp lý. Có đế quốc nào mạnh như đế quốc La Mã thời Cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời Trung đại hay đế quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lãnh thổ chiếm giữ bằng võ lực.
    Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự trước tiên tại Hoàng Sa và Trường Sa, chưa có ai tranh chấp và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi có Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc sau đó và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982.
    Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rõ sự thật lịch sử trên !
    Việt Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho cả thế giới được biết rằng vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 là trái phép hoàn toàn, trái với Hiến Chương và các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi vụ chiếm đóng Hoàng Sa như đã xong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh thì dứt khoát không ký kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt hại cho Việt Nam.
    Việc cần làm ngay là làm rõ, quảng bá lịch sử nhà nước Việt Nam đã từ lâu chiếm hữu thật sự Hoàng Sa & Trường Sa và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường.
    Sự đấu tranh đòi lại Hoàng Sa cho Việt Nam cũng như sự bảo toàn quần đảo Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhứt định sẽ thành công cũng như Việt Nam đã từng bị Phong kiến Phương Bắc đô hộ hơn một ngàn năm, khi có thời cơ, sẽ giành được độc lập tự chủ./

    Hãn Nguyên Nguyễn Nhã

    (Source: http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/dien-trinh-lich-su-cuoc-tranh-chap-chu-quyen-o-bien-111ong/ )

    HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA VÀ PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA HOÀNG SA & TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945, THỜI GIAN PHÁP CÒN ĐÔ HỘ VIỆT NAM

    Hãn Nguyên Nguyễn Nhã

    Từ 1931 đến 1933, Cucherousset lại tiếp tục viết 7 bài viết cũng trên báo L’Éveil Économique de L’Indochine trong các số 685 (10-5-1931), 688 (31-5-1931), 743 (26-6-1932), 744 (03-7-1932), 746 (17-7-1932), 777 (26-02-1933) và 790 (28-5-1933). Trong loạt bài báo kể trên, không thấy nhắc đến lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam nữa mà chỉ tập trung vào thái độ của Toàn quyền Pasquier về việc xử lý việc bảo vệ chủ quyền ấy. Tác giả chỉ trích một lá thư của Toàn quyền Pasquier khi Ông này viết : “ Chủ quyền của xứ Annam trên quần đảo Hoàng Sa là điều không thể chối cãi được nhưng lúc này chưa phải cơ hội để xác nhận chủ quyền ấy ”. Tác giả gay gắt chất vấn Ông Toàn Quyền : “ Tại sao nay không phải là cơ hội ? Trở lực nào đã ngăn cản xứ “Annam” nhìn nhận chủ quyền trên đảo Hoàng Sa mà họ đã chấp hữu từ trăm năm trước ? Có phải chăng đợi đến lúc người Nhật khai thác đến tấn phốt phát cuối cùng ? Có phải người Nhật đã trả thù lao một phần cho ai chăng ? ”
    Vì những bài báo lập luận vững chắc và chỉ trích nặng lời toàn quyền Pasquier, Ṭòa Soạn báo E.E.I. bị ông Dự thẩm Bartet ra lệnh khám xét ban đêm buộc nhà báo phải nộp hồ sơ liên quan đến vụ Hoàng Sa. Trong số báo 743, Cucherousset cực lực phản đối và nhất quyết không giao nộp, nếu muốn nghiên cứu thì chỉ cho đọc tại chỗ. Trong số báo 746, Cucherousset viết nếu không có loạt bài của E.E.I. thì có lẽ chính quyền Pháp làm ngơ vụ Trung Hoa chiếm hữu Hoàng Sa.
    Trong số báo 777, Cucherousset đã trình bày tại sao ông phản đối Toàn quyền Pasquier nhún nhường trước hành động của Tổng Đốc Quảng Đông : 1/ Chính quyền tỉnh Quảng Đông không hề bao giờ được nước Pháp thừa nhận là một chính quyền tự trị. 2/ Chính phủ Trung Hoa ở Bắc Kinh lúc trước, ở Nam Kinh bây giờ, không hề bao giờ lên tiếng tranh giành quần đảo này và không thừa nhận chủ quyền Quảng Đông. 3/ Ngược lại từ hơn 100 năm nay rồi, nước Nam đã chấp hữu chủ quyền trên Hoàng Sa và sự việc này có ghi rõ trong văn khố của triều đình Huế. Hơn nữa chính quyền Quảng Châu không thể dựa vào lý do ngư phủ Trung Hoa thường xuyên ghé đảo để bắt rùa, phơi lưới để bảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa bởi ngư phủ Pháp cũng thường làm như vậy tại bờ biển Terre Neuve nhưng Terre Neuve vẫn thuộc nước Anh. Trong khi ấy trong 1 phiên họp của Hội Đồng Tư Vấn Đông Dương, để trả lời vị đại diện của xứ Annnam là ông Piguax, Toàn Quyền Pasquier cho biết vụ Hoàng Sa đã có tiếng vang tại Pháp và vị Tổng trưởng Bộ Thuộc Địa đã quyết định đưa nội vụ ra Ṭòa án quốc tế La Haye.
    Ngoài tờ báo E.E.I., còn nhiều báo của người Pháp ở Đông Dương và cả ở Pháp cũng đăng những bài về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa như Revue Indochinoise Illustrée, số 38, 1929 (Sàig̣òn), tr.605-616, P.A. La Picque đã dẫn nhiều tài liệu về chủ quyền của Viêt Nam ; việc chính quyền Quảng Đông trả lời không chịu trách nhiệm về việc dân Hải Nam cướp trên các tầu bị đắm Le Bellona năm 1895 và Imezi Maru 1896 vì Hoàng Sa không thuộc chủ quyền Trung Quốc ; dịch lại bài báo đăng trên Quảng Châu Báo ngày 10-7-1909 kể chuyện chuyến đi khảo sát Hoàng Sa của hải quân tỉnh Quảng Đông. Mémoire No 3 du Service Océanographique de L’Indochine (Saigon), 1930, 24 tr. do J. de Lacour & Jabouillé kể chuyến đi khảo sát Hoàng Sa 21-7-1926 theo lời mời của M.A.Krempf. Avenir du Tonkin, số 10495 (17-04-1931), tr2 khẳng định năm 1816, vua Gia Long long trọng cho dựng cờ trên đảo vì thế cho nên dù năm 1909, Trung Hoa có muốn giành chủ quyền, chánh phủ Pháp phải lên tiếng xác nhận quyền bảo vệ các đảo ấy. Trong hoàn cảnh hiện nay, không ai có thể phủ nhận sự quan trọng có tính cách chiến lược của Hoàng Sa.
    Nature (Paris), số 2916,01-11-1933, tr.385-387 do Sauvaire-Jourdan viết trên tờ Công báo ngày 19-7-1933 đăng một thông tư về việc hải quân Pháp chiếm cứ một vài đảo ở Phía nam Biển Đông, điểm qua lịch sử chiếm hữu, vua Gia Long cho hải đội đổ bộ và dựng cờ trên đảo năm 1816 rồi đến sự kiện năm 1909 được bài báo ở Quảng Châu ngày 20-6-1909 mà tác giả cho là khôi hài cùng những đề nghị không nên bỏ rơi quyền sở hữu các đảo ấy. La Géographie, bộ LX (tháng 11-12-1933), tr.232-243, A. Olivier Saix đưa ra những luận cứ theo đó chánh quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam phải bảo vệ và duy trì chủ quyền cho Việt Nam vì : 1/ Hoàng Sa có vị trí rất cần thiết lập hải đăng. 2/ Là vị trí thiết lập đài quan sát khí tượng và trạm vô tuyến kịp thời bào thời tiết băo cho tàu bè. 3/ Hoàng Sa nhiều nguồn lợi kinh tế : phốt phát, cá, rùa.. 4/ lợi ích quân sự từ Hoàng Sa phong toả Vịnh Bắc Việt, cảng Đà Nẵng, hải lộ quốc tế. 5/ Lịch sử xác lập chủ quyền : Vua Gia Long đã cho hải đội Hoàng Sa đổ bộ lên đảo dựng cờ, lập cứ điểm, Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề ngày 3-3-1925 nói rằng : “ Các đảo đó bao giờ cũng là sở hữu của nước Annam, không có gì tranh căi trong vấn đề này ”.
    Rõ ràng với sức ép dư luận trên, chính quyền thực dân Pháp đã phải hành động, trước hết khoảng 1930 đến 1933, Pháp đã thiết lập chủ quyền tượng trưng tại Trường Sa cũng như Hoàng Sa..
    Với Hoàng Sa thuộc về Trung Kỳ, đất bảo hộ của Pháp, nên không cần phải hành động xác lập chủ quyền mà chỉ cần những hành động thực thi chủ quyền, tiếp theo những hành động khảo sát Hoảng Sa đầu tiên năm 1925 của Viện Hải Dương Học Nha Trang là những hoạt động thể theo đề nghị của dư luận báo chí thời ấy. Ngày 15.6.1932, chính quyền Pháp ra nghị định số 156-SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chánh gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa.
    Năm 1937, kỹ sư trưởng công chánh Gauthier nghiên cứu khả năng xây dựng một hải đăng trên đảo Pattle (Hoàng Sa) ; năm 1938 Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và xây dựng môt hải đăng, môt trạm khí tượng (OMM đăng ký số 48860) đặt ở đảo Pattle (Hoàng Sa) và số 48859 ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée), một trạm vô tuyến TSF trên đảo Pattle. Tháng 3-1938, Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngãi như các triều trước. Tháng 6 năm 1938, một đơn vị bảo an lính Việt Nam tới trấn đóng Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Pattle với dòng chữ : “ République Francaise - Royaume d’Annam - Archipels des Paracels 1816- Ile de Pattle 1938 ”.
    Còn với quần đảo Trường Sa phía Nam thuộc địa giới Nam Kỳ lại là đất thuộc địa của Pháp, nên Pháp có hành động xác lập chủ quyền cho nước Pháp. Song để ngăn chặn nước thứ ba cũng như đối phó với pháp lý quốc tế, Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại Giao Pháp đã viết trong Bản Ghi Chú cho Vụ Châu Á Đại dương rằng “ việc chiếm hữu quần đảo Spratleys do Pháp tiến hành năm 1931-1932 là nhân danh Hoàng Đế Annam ”. Ngày 13 tháng 4 năm 1933, một hạm đội nhỏ do trung tá hải quân De Lattre chỉ huy từ Sàigòn đến đảo Trường Sa (Spratley) gồm thông báo hạm La Malicieuse, pháo thuyền Alerte, các tàu thuỷ văn Astrobale và De Lanessan. Sư chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ truyền của Phương Tây. Một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bản. Mỗi đảo nhận 1 bản, được đóng kín trong 1 chai rồi được gắn trong 1 trụ xi măng xây trên mỗi đảo tại một địa điểm ấn định và cố định trên mặt đất. Người ta kéo cờ Tam tài và thổi kèn trên từng hòn đảo…
    Ngày 26 tháng 7 năm 1933, Bộ Ngoại Giao Pháp đã có một thông tin đăng trên Công báo Pháp, ghi rõ 6 nhóm hải đảo và tiểu đảo từ nay đã thuộc chủ quyền Pháp quốc, trong đó gồm nhóm Spratley (8°39’ bắc - 111°55 đông) và các tiểu đảo nhỏ xung quanh được chiếm hữu sớm nhất từ ngày 13-4-1930 và đảo Thị Tứ được chiếm cuối cùng vào ngày 12-4-1933. Ngày 21 -12-1933, thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký nghị định số 4762 sát nhập các nhóm hải đảo thuộc quần đảo Pratleys (Trường Sa) vào tỉnh Bà Rịa.
    Năm 1938 Pháp cũng thiết lập một bia chủ quyền, một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến tại đảo Itu - Aba (Ba Bình)...
    Tất cả những hành động thực thi chủ quyền của Pháp nhân danh “Annam” trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra một cách suôn sẻ, dù muộn màng, không gặp bất cứ ngăn cản nào, bởi chỉ duy có chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông có ý đồ, có dự án khai thác Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, và muốn chiếm hữu Hoàng Sa khi cho là đất vô chủ, song các dự án của chính quyền địa phương mới chỉ trên giấy tờ, chính quyền trung ương Trung Quốc chưa mặn mà. Tuy vậy Nhật Bản lại giấu mặt về ý đồ chiếm giữ Hoàng Sa và Trường Sa, đã lên tiếng phản đối sự chiếm giữ của Pháp trong thông báo cho chính phủ Pháp vào ngày 24 -7-1933. Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bô Ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố gửi tới Đại sứ Pháp ở Nhật Bản khẳng định Nhật Bản là người đầu khám phá Trường Sa vào năm 1917 và tuyên bố Nhật kiểm soát Trường Sa. Nhật đã nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm (Ile Boisée) của Hoàng Sa và đảo Itu-Aba (Ba Bình) của Trường Sa vào năm 1938, song mãi đến ngày 9-3-1945, Nhật mới bắt làm tù binh những lính Pháp đóng ở các đảo Hoàng Sa cũng như đất liền của Việt Nam.
    Luật pháp quốc tế thời đó sau Định ước Berlin năm 1885 được hiểu là :
    - Việc thụ đắc lãnh thổ là hành động của quốc gia, chính quyền địa phương (tỉnh Quảng Đông) không đủ danh nghĩa đại diện cho quốc gia.
    - Cũng theo Định ước này, hành động của phía Trung Quốc (năm 1909) không đủ mang lại danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc vì chưa thoả mãn các tiêu chí về thụ đắc lãnh thổ thời đó. Do vậy, sự im lặng của chính quyền Phpá ở Đông Dương không có nghĩa là sự thừa nhận chủ quyền của phía Trung Quốc và không tạo ra estopel.
    Nhật Bản đã bại trận và đã đầu hàng vô điều kiện Đồng Minh 16 tháng 8 năm 1945 và đã rút khỏi Hoàng Sa &Trường Sa.

    HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA, PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA TỪ THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN THÁNG 4 NĂM 1956, KHI PHÁP XÂM CHIẾM TRỞ LẠI
    Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Cách Mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở Quảng Trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.
    Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại đô hộ Việt Nam, Quân Tưởng Giới Thạch tiếp quản nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16, cả hai nước Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa & Trường Sa của Việt Nam, vẫn tiếp tục coi trọng vị trí chiến lược Hoàng Sa & Trường Sa.
    Việt Nam bận lo kháng chiến chống Pháp trong khi quân Pháp làm chủ Biển Đông.
    Quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946, Pháp trở lại Việt Nam làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ tháng 5 năm 1946, nhưng đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27 tháng 5 năm 1946, đô đốc D’Argenlieu, cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
    Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26 tháng 10 năm 1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân thuỷ đánh bộ) xuất phát từ cảng Ngô Tùng ngày 9 tháng 10. Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn Sa chưa phải mang tên Nam Sa (tác giả nhấn mạnh).
    Trong phiên họp ngày 11 tháng 10 năm 1946, Uỷ Ban Liên Bộ về Đông Dương thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng việc xây dựng một đài khí tượng. Theo ý kiến của đại tướng Juin cho rằng “ lợi ích cao nhất ” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý đồ của một cường quốc nào muốn chiếm lại các đảo đó là những đảo kiểm soát việc ra vào căn cứ tương lai Cam Ranh, con đường hàng hải Cam Ranh - Quảng Châu - Thượng Hải (Thư số 199/DN/S. col ngày 7 tháng 10 năm 1946 của Đại tướng Juin, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Pháp tại Paris). Mãi đến năm 1935, Trung Quốc mới chú ý đến Trường Sa, gọi là Đoàn Sa sau thời điểm năm 1933.
    Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung Hoa Dân Quớ́c và ngày 17 tháng 10 năm 1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút. Pháp gửi một phân đội lính trong đó có cả quân lính "Quốc gia Việt Nam" đến đóng một đồn ở đảo Pattle (Hoàng Sa). Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947 tại Paris. Tại đây, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày 1 tháng 12 năm 1947, Bộ Nội Vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.
    Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp song Pháp vẫn cho rằng theo hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Pháp bổ sung quân sự bằng cách đóng quân và thực hiện quản lý trên hai quần đảo. Điều này chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đã được củng cố vững chắc từ thời Pháp thuộc.
    Do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà kháng chiến chống Pháp và hải quân Pháp làm chủ Biển Đông, nên với hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp còn gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với Chính quyền Cách Mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên thực tế, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay mặt nhà nước Việt Nam.
    Tháng 4 năm 1949, Đổng lý văn phòng của quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sàigòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.
    Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã rút lui ra Đài Loan. Tháng 4 năm 1950, đồn lính Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức trao lại quyền quản lý cho Chính phủ Việt Nam.
    Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ toạ việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.
    Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951, ký kết hoà ước với Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1951, họp khoáng đại, ngoại trưởng Gromyko đề nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ một Hội nghị quốc tế.
    Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam : « Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam ».
    Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.
    Kết thúc hội nghị là ký kết hoà ước với Nhật ngày 8 tháng 9 năm 1951. Trong hoà ước này có điều 2, đoạn 7 ghi rõ :
    Nguyên văn là « Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracels và Spratly ». Song đến đây, tình hình chính trị thế giới đã bắt đầu biến chuyển, chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu và khối xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu đã bắt đầu tác động đến Việt Nam trong đó có chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa lại tăng lên sự tranh chấp, càng ngày càng phức tạp khiến sự bảo vệ chủ quyền trở nên hết sức khó khăn với nhiều danh nghĩa khác nhau với nhiều thế lực quốc tế can thiệp.
    Ngày 24 tháng 8 năm 1951, lần đầu tiên Tân Hoa Xã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines, thân Mỹ và kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.
    Khi ra thông báo về bản dự thảo Hiệp Ước với Nhật ở San Francisco, ngày 15 tháng 8 năm 1951, Bộ Trưởng Ngoại Giao nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra bản tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là « tính lâu đời » của các quyền của Trung Quốc đối với quần đảo, trong khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không tham dự hội nghị này.
    Cũng lợi dụng cục diện chiến tranh lạnh đang xảy ra, sự giành giật thế lực ở một nơi trong đó có Biển Đông, phái đoàn Liên Xô đề xuất giao cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã không được Hội Nghị chuẩn nhận, song cũng là cái cớ để Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa lên tiếng. Dù sao, sau năm 1950, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài chiếm đóng ngoài lực lượng trú phòng Việt Nam của Chính quyền Bảo Đại.
    Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều 1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp định. Cũng theo điều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chánh trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chánh của phía chính quyền quản lý miền Nam vĩ tuyến 17.
    Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới sự quản lý hành chánh của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, lúc ấy hai quần đảo này chưa có sự chiếm đóng của bất cứ quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp. Chính quyền ở Phía Nam vĩ tuyến 17 phải chịu trách nhiệm quản lý hai quần đảo trên ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam dưới vĩ tuyến 17.
    Tháng 4 năm 1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Miền Nam Việt Nam, Philippines nêu vấn đề chủ quyền.
    HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, PHÁP, VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1956 ĐẾN 1975.
    Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, khiến tháng 4-1956 quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực trong đó có Cộng Ḥòa Nhân Dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Philippines cho là cơ hội tốt chiếm đóng trái phép Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam.
    Khi ấy, quân đội Quốc Gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam Cộng Hoà đã chiếm đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle). Ngày 1 tháng 6 năm 1956, Ngoại Trưởng Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày hôm sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền hạn mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.
    Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.
    Tháng 10 năm 1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba). Ngày 22 tháng 10 năm 1956, sắc lệnh số 143 – NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại « Nam Việt » (Nam Bộ). Trong danh sách các đơn vị hành chánh « Nam Việt » (Nam Bộ) đính kèm theo sắc lệnh có những thay đổi tên mới, trong đó có tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nay được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy được gọi là Hoàng Sa cùng tên với quần đảo phía Bắc là Paracels.
    Trong khi ấy, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng đã nhanh chóng chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa, song hành với việc Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Một tình hình hết sức phức tạp, đen tối cho chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa. Song từ sau Hiệp định Genève mà Trung Quốc đã ký, chính quyền phía Nam mới có trách nhiệm quản lý chủ quyền Ḥoàng Sa & Trường Sa vì hai quần đảo này nằm phía dưới vĩ tuyến 17. Vụ việc công hàm của Thủ tướng Phạm văn Đồng năm 1958 chỉ ủng hộ Tuyên bố 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc cũng như những biểu hiện khác thuộc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥoà vào thời gian này cũng không có giá trị pháp lý quốc tế về sự từ bỏ chủ quyền mà Chính quyền Trung Quốc tố cáo là lật lọc là không đúng sự thực và thực chất về chủ quyền ở Hoàng Sa. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, đối đầu của hai khối chính trị mà Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đang là đồng minh chí cốt của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và cùng thù địch với Mỹ lại là đồng minh của Đài Loan và Việt Nam Cộng Hòa, nên tất cả những hành động đối đầu cũng chỉ là đối sách chính trị thù địch nhất thời.
    Ngày 13 tháng 7 năm 1961, sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.
    Trong sắc lệnh trên, ghi rằng : « Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam » (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính (điều 2). Tháng 2 năm 1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa, nhưng không thành công, bị hải quân Việt Nam Cộng Hoà bắt và hoàn trả lại Trung Quốc.
    Ngày 13 tháng 7 năm 1971, Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà, ông Trần Văn Lắm có mặt ở Manila đã lên tiếng nhắc lời yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho những yêu sách đó trên quần đảo Trường Sa.
    Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã sửa đổi việc quản lý hành chính của Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy mà trước đây vào năm 1956, thời chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sắc lệnh gọi quần đảo Spratly là quần đảo Hoàng Sa.
    Trong bối cảnh sau Thông Cáo Chung Thượng Hải năm 1972 giữa Mỹ và Trung Quốc, tạo sự nứt rạn không thể hàn gắn giữa Liên Xô và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong khi Chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc, cuộc diện chính trị thế giới biến đổi đã ảnh hưởng đến Việt Nam kể cả về sự bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa & Trường Sa. Ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố việc sáp nhập các đảo của quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Hoà là sự lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    Ngày 12 tháng 1 năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc. Ngày 15 tháng 1 năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được nguỵ trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm trợ. Mặt khác, Bộ Tư Lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng Sa để tuần phòng và canh chừng.
    Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tại vùng Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của Việt Nam Cộng Hoà có các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Vài vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hoà (Duncan) và một đảo khác.
    Tiếp ngày 16 tháng 1 năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên hai quần đảo này. Hai bên bắt đầu phối trí toàn bộ lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng 200m. Sau đó hai bên bỗng tách rời nhau để chuẩn bị, cuộc hải chiến bắt đầu diễn ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974. Một chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bị bốc cháy. Các chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mang số 281, 182 dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy chính, hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh. Sau hơn 1 giờ giao tranh, 2 chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chìm, 2 chiếc khác bị bắn cháy. Bên lực lượng Việt Nam Cộng Hoà ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn, trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người Mỹ tên Gerald Kosh, một nhân viên dân sự thuộc văn phòng tuỳ viên quốc phòng toà đại sứ Mỹ ở Sàigòn, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà cũng bị bắt (theo Nhật báo Chính Luận, số 2982, ngày 31 tháng 1 năm 1974). Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31 tháng 1 năm 1974. Ngày 17 tháng 2 năm 1974, chính quyền Bắc Kinh trả tự do cho 43 quân nhân và nhân viên của Việt Nam Cộng Hoà tại Tân Giới (Hồng Kông).
    Lầu Năm Góc được chính quyền Sài Gòn yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc xung đột. Trợ lý Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ, Arthur Hummel cho chính quyền Sài Gòn biết Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.
    Qua thông điệp ngoại giao được gởi đến tất cả các nước ký Hiệp Định Paris (1973), chính quyền Việt Nam Cộng Hoà nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội Đồng Bảo An họp một phiên họp đặc biệt.
    Ngày 1 tháng 2 năm 1974, chính quyền Sàigòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila, chính quyền Sàigòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
    Ngày 1 tháng 2 năm 1974, đoàn đại biểu của Việt Nam Cộng Hoà ra tuyên bố tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 30 tháng 3 năm 1974, đại biểu chính quyền VNCH khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội Đồng Kinh Tài Viễn Đông họp tại Colombia. Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Ngoại giao chính quyền VNCH công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.
    Tóm lại, Pháp xâm chiếm trở lại Việt Nam, dẫn đến cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Pháp vẫn làm chủ Biển Đông và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève năm 1954 qui định từ vĩ tuyến 17 trở xuống thuộc chính quyền phía Nam quản lý. Khi Pháp rút quân tháng 4/1956, xảy ra chiến tranh lạnh giữa Liên Xô đứng đấu phe xã hội chủ nghĩa và Mỹ đứng đầu phe tư bản chủ nghĩa, Việt Nam bị chia cắt khiến hai chính quyền bị cuốn hút vào sự đối đầu, không có điều kiện bảo vệ toàn vẹn được chủ quyền để cho Trung Quốc chiếm từng phần rồi toàn thể Hoàng Sa và Việt Nam Cộng Hoà chỉ trấn giữ quần đảo Trường Sa song lại để cho Đài Loan chiêm đảo Ba Bình, lớn nhất của quần đảo Trường Sa cùng Philippines chiếm một số đảo, đá trong đó có Song Tử Đông ở Trường Sa.
    Chính vì vậy, chúng ta có thể nói rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các nước trong khu vực tranh chấp chủ quyền của Việt Nam cũng như Trung Quốc chiếm giữ trái phép hoàn toàn Hoàng Sa và Trường Sa trong thời kỳ này chính là những biến động chính trị ở Việt Nam cũng như trên thế giới, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, không còn bảo vệ đồng minh Việt Nam Cộng Hoà, để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.

    (còn tiếp)

    Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông

    Nguyễn Nhã Cập nhật : 24/03/2009 22:19

    Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhã, tiến sĩ sử học, thành viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

    (Nguồn: http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/dien-trinh-lich-su-cuoc-tranh-chap-chu-quyen-o-bien-111ong/)

    HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN
    TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
    TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA –
    NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

    Hãn Nguyên Nguyễn Nhã

    TÓM TẮT

    Hoàn cảnh lịch sử bắt đầu từ năm 1909, chính quyền tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa cho rằng Hoàng Sa của Việt Nam là đất vô chủ, nên đã có hành động khảo sát, chiếm hữu theo cung cách của Phương Tây, đã không gặp bất cứ phản ứng nào của Việt Nam vì Việt Nam bị mất hết chủ quyền ngoại giao vào tay người Pháp, trong khi Pháp vốn biết trước ý đồ của chính quyền Quảng Đông, song vẫn không can thiệp ngay vì sợ chủ nghĩa dân tộc “sô-vanh” bùng dậy ở Trung Hoa, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Pháp ở Trung Hoa. Tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử từ giai đoạn 1 (1909-1930), giai đọan 2 (1930-1945), giai đoạn 3 (1945-1954), giai đoạn 4 (1954-1975), giai đoạn hiện nay (1975 đến nay), có những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, dẫn đến những nguyên nhân tranh chấp khác nhau, tính chất tranh chấp khác nhau, liên tiếp không ngừng cho đến tận ngày nay.
    Khi Thực dân Pháp rút quân khỏi Việt Nam vào tháng 4/1956 để lại khoảng trống lực lượng bố phòng trong khi đang diễn ra chiến tranh lạnh, thế giới chia hai phe : phe Tư bản chủ nghĩa và phe Xã hội chủ nghĩa, Việt Nam, lại bị chia cắt có hai chính quyền mà theo Hiệp Định Genève mà Trung Quốc đã ký, phía nam vĩ tuyến 17 trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Chính quyền phía Nam quản lý, đã không thể̉ bảo vệ hiệu quả chủ quyền vốn có của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, khiến các nước Trung Quốc, Đài Loan, Philippines trong bối cảnh chiến tranh lạnh ấy đã vội vã chiếm cứ một số đảo tại Hoàng Sa & Trường Sa. Khi Mỹ ký Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc năm 1972 và ký Hiệp Định Paris năm 1973, rút quân ra khỏi Việt Nam, không can thiệp để Trung Quốc chiếm toàn thể Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Nguyên nhân tranh chấp trong thời kỳ này đã thay đổi về chất, sự đối đầu trong chiến tranh lạnh, và nhất là trong chiến tranh nóng hai chính quyền Nam Bắc có những đồng minh, đồng chí anh em ủng hộ lẫn nhau trong tranh chấp mang tính quốc tế này.
    Sau năm 1975, Việt Nam đã thống nhất, thế lực chính trị quốc tế có nhiều biến động ảnh hưởng đến Việt Nam trong đó có việc tranh chấp về Hoàng Sa và Trường Sa vẫn tiếp tục, không những vì vị trí chiến lược vốn có tầm quan trọng lớn lao cũng như tài nguyên nhất là trữ lượng dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...
    Sự thực lịch sử ra sao và giải pháp ?
    Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời : từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long) qua đội dân binh Hoàng Sa và đội Bắc Hải được đội Hoàng Sa kiêm quản, Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, chủ yếu là tài liệu công trong đó có đặc biệt cả châu bản, hội điển chép những hành động của nhà nước chiếm hữu, thực thi chủ quyền như vẽ bản đồ, cắm mốc, dựng bia, xây miếu thờ (Hoàng sa tự), trồng cây, đào giếng… của thuỷ quân triều Nguyễn chứ không còn ít ỏi như thư của Toàn Quyền Pasquier gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930, mà người Pháp lúc ấy cũng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.
    Trong khi ấy tư liệu phương Tây như Jean Baptiste Chaigneau, Gutzlaff (năm 1849) nhất là giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816 và An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh - Annam, ghi rõ « Paracels seu Cát Vàng » với toạ độ rõ ràng như hiện nay chứ không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển.
    Ngay tư liệu của Trung Quốc như Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán năm 1696, quyển 3, đã ghi chép Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ cá tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa …
    Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đã rõ ràng như trên. Nguyên nhân tranh chấp đã không còn nữa. Việt Nam đã độc lập, thống nhất, làm bạn với tất cả các nước kể cả Trung Quốc, Mỹ, Nga…Vì thế không một chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào dù khác nhau chính kiến lại không coi trọng việc đòi lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. “ Cái gì của César phải trả lại cho César ”. Đối với các nước ASEAN trên cơ sở Công ước 1982 về luật biển sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối càng ngày càng chặt chẽ, đôi bên đều có lợi. Đối với Trung Quốc, núi liền núi, sông liền sông, đã có những bài học lịch sử quý giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “ phên dậu của Trung Quốc ”, không bao giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc.
    Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 hoặc thực dân Pháp suốt thập niên 20 đến thập niên 50 thế kỷ XX dựa vào ưu thế quân sự của mình cũng như Trung Quốc dùng võ lực năm 1974,1988 chỉ mang tính nhất thời.

    HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC CHÍNH QUYỀN TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG HOA) KHẢO SÁT TRÁI PHÉP QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀO NĂM 1909 VÀ TIẾP TỤC LÚN SÂU VÀO VIỆC XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA CHO ĐẾN NĂM 1930 KHI CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP THAY ĐỔI QUAN ĐIỂM

    Việt Nam bị Pháp xâm lược năm 1858, mất hết chủ quyền tự chủ ngoại giao theo Hiệp ước cuối cùng ký với Pháp năm 1884, không bảo vệ được chủ quyền của mình tại Hoàng Sa khi bị các nước khác xâm phạm.
    Chính trong thời Pháp thuộc đă xảy ra sự kiện chính quyền Quảng Đông (Trung Hoa) do Tổng Đốc Trương Nhân Tuấn đứng đầu vào tháng 6 năm 1909 như báo chí Quảng Châu hồi bấy giờ đưa tin, lần đầu tiên đă cử một hạm đội nhỏ của nhà Thanh đã đi khảo sát trái phép quần đảo Paracels, vốn của Việt Nam từ lâu, tên chữ là Hoàng Sa hay tên nôm gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng.
    Tên Tây Sa mà chính quyền Quảng Đông mới đặt ra sau sự kiện tháng 10 năm 1907, chính quyền nhà Thanh đuổi được nhóm thương gia người Nhật Nishizawa Yoshiksugu chiếm giữ đảo Pratas trong 3 tháng (từ 2 tháng 7 năm 1907). Cũng bắt đầu từ khi này, chính quyền Quảng Đông đã đặt tên Pratas là Đông Sa vốn là tên một đảo ở ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, đã được ghi rất rõ trên bản đồ “Duyên Hải Toàn Đồ” trong sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1730).
    Diễn Đàn cảm ơn tác giả Nguyễn Nhã đã cung cấp bài nghiên cứu của ông. Nội dung bài này đã được trình bày tại Hội thảo Biển Đông do Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 17.2.2009 vừa qua tại Hà Nội.
    Không phải chính quyền thực dân Pháp không biết sự kiện khảo sát trái phép này. Chính bức thư của lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp ngày 4 tháng 5-1909 đã nêu ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam khi viết : “ Như tôi đã trình bày với ông khi kết thúc bản báo cáo gần đây của tôi (số 86 ngày 1 tháng 5 năm 1909) về vấn đề các đảo Đông Sa (Pratas), vấn đề này khiến chính phủ Trung Hoa chú ý đến các nhóm đảo khác nằm dọc bờ biển của Thiên Triều và tới một mức độ nhất định có thể được coi như một bộ phận của Thiên triều, trong đó có quần đảo Paracels ” [Monique Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys, Paris, L’Harmattan,1996, p.206]. Cũng cần lưu ý bức thư trên đã viết khi chính quyền Quảng Châu c̣òn đang chuẩn bị thực hiện chuyến khảo sát. Cuộc khảo sát diễn ra sau đó, có mặt cả người Đức, đã rời Hồng Kông vào ngày 21-5-1909 và về Quảng Châu vào ngày 9-6-1909.
    Cũng trong thư trên đề ngày 4 tháng 5 năm 1909, lãnh sự Pháp ở Quảng Châu gửi cho Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp có một số nội dung đáng lưu ý sau đây :
    Do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam.
    Cuộc khảo sát trái phép đầu tiên là của Ngô Kính Vinh đã cho thấy ở mỗi đảo Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà đá (tất cả tường mái là đá san hô và vỏ sò). [Monique Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan,1996, p.207].
    Các ngư dân Việt Nam mang cả vợ con đến sống ở Hoàng Sa, bị đối xử tàn tệ, vợ con bị bắt đến Hải Nam [Monique Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan, 1996,p. 210].
    Như thế chính phủ Pháp ngay tại chính quốc đã rõ ý đồ của chính quyền Trung Hoa dù chỉ là chính quyền địa phương xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại Paracels hay Hoàng Sa của Việt Nam. Sở dĩ Chính quyền Pháp không ngăn chặn hành động khảo sát trên vì nhiều lý do :
    Một là khi ấy, Pháp chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ sở hữu quần đảo của nước “An Nam” mà Pháp bảo hộ theo Hiệp ước Patenôtre 1884. Vấn đề ngăn chặn ý đồ của Trung Hoa ngay từ năm 1909 mà Lãnh sự Pháp ở Quảng Châu là Beauvais đã báo cáo, bị chính quyền Pháp ở mẫu quốc bỏ qua.
    Điều này cũng dễ hiểu, nếu như các đảo ấy vốn thuộc sở hữu của nước Pháp hoặc thuộc đất Nam Kỳ, nhượng địa hay thuộc địa chứ không phải đất bảo hộ, thì chắc chắn chính phủ Pháp sẽ có hành động ngăn chặn ngay và sẽ không thể xảy ra tranh chấp lâu dài về sau. Nếu không chính phủ Pháp sẽ bị kết tội hay sẽ bị lên án do chính người Pháp hoặc giới chính trị hoặc những công dân yêu nước của Pháp.
    Hai là chính quyền thực dân Pháp ngại sự ngăn chặn có thể làm phát sinh trong ḷòng dân chúng Trung Hoa một phong trào “sô vanh” có hại cho quyền lợi Pháp ở Trung Quốc.
    Điều này cũng đã được Ông Beauvais nêu ra trong chính văn thư báo cáo ngày 4-5-1909 gửi Ông Bộ trưởng Ngoại Giao Pháp và đã được chính phủ Pháp cân nhắc làm theo :
    “ Như vậy, thưa Ông Bộ Trưởng, nếu ta còn lợi ích trong việc ngăn không cho Chính phủ Trung Hoa nắm lấy nhóm các đá ngầm này, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng nghiên cứu, tìm ra các lập luận chứng minh rõ ràng quyền của chúng ta và những bằng chứng không thể bác bỏ về quyền đó. Nhưng nếu việc đó không đáng làm, sau khi đã suy nghĩ chín chắn, có lẽ nên nhắm mắt làm ngơ. Một cuộc can thiệp của chúng ta sẽ có khả năng làm xuất hiện một phong trào sô vanh mới làm cho chúng ta bị thiệt hại nhiều hơn lợi ích mà việc sở hữu được thừa nhận đối với quần đảo Hoàng Sa đem lại ” (Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.211-212).
    Trong văn thư đề ngày 14 Janvier 1921 của Ông Chủ Tịch Hội Đồng Pháp Quốc (tức Thủ tướng) kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Pháp gửi Bộ Trưởng Bộ Hải Quân Pháp cũng đã khẳng định Bộ ngoại Giao Pháp đã nghe theo ý kiến của Beauvais (Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 205).
    Ba là các quan chức thực dân Pháp từ Phủ Toàn quyền đến Bộ Thuộc Địa hay Bộ Ngoại giao Pháp không biết rõ hoặc rất mơ hồ về sở hữu từ lâu thuộc về Việt Nam.
    Có rất nhiều bằng chứng như chính Ông Beauvais trong bản báo cáo trên cũng không chắc chắn mà chỉ nói : “ có lẽ sẽ dễ dàng nghiên cứu…”. …
    Cho đến ngày 6 tháng 5 năm 1921, có nghĩa sau hơn 1 tháng ngày 30-3-1921, lệnh mang số 831 của Ban Đốc Chính chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa sau phiên họp ngày 11-3-1921 đã quyết định sáp nhập về mặt hành chính các đảo Hoàng Sa vào huyện Yai Hien (Châu Nhai, đảo Hải Nam), Vụ Các Vấn đề chính trị và Bản Xứ thuộc Phủ Toàn Quyền Đông Dương đã có văn bản ghi chú (Note) ghi rất nhiều điều liên quan đến quần đảo Hoàng Sa lấy từ Hồ sơ hiện có ở Phủ Toàn Quyền Đông Dương, cho biết đã tìm trong kho tư liệu của hải quân Sàig̣òn, lưu trữ của Thống đốc Nam kỳ, của Phủ Toàn quyền không thấy có tư liệu nào có tính chất làm rõ quốc tịch của các đảo Hoàng Sa. Chính lúc Toàn Quyền Đông Dương ra chỉ thị điều tra về vấn đề quốc tịch của Hoàng Sa cũng là lúc nhận được bức thư của Tổng lãnh sự Beauvais ở Quảng Châu báo tin có sự kiện chính quyền quân sự Nam Trung Hoa quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Đông.
    Rõ ràng sự kiện Chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa ra tuyên bố sáp nhập Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông ngày 30 tháng 1 năm 1921 cũng đã xảy ra vào thời Pháp thuộc, khi Việt Nam đã hoàn toàn mất chủ quyền.
    Khi c̣òn mơ hồ về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Ḥoàng Sa, trong khi ấy thực chất quyền lực nhà nước là do chính quyền thực dân Pháp nắm, nên chính quyền thực dân Pháp không tích cực ngăn chặn sự vi phạm chủ quyền của chính quyền Quảng Đông tại quần đảo Hoàng Sa là chuyện đương nhiên. Chắc chắn khi Việt Nam có c̣òn chủ quyền, được độc lập tự chủ hay Hoàng Sa vốn thuộc chủ quyền của Pháp thì chính quyền nào cũng phải lấy nhiệm vụ tối thượng là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của nước mình. Vì thế chung quy không có sự ngăn chặn kịp thời sự xâm phạm chủ quyền của chính quyền quân sự Miền Nam Trung Hoa vào năm 1921 cũng như của chính quyền Quảng Đông năm 1909 chính là do Việt Nam bị Pháp đô hộ, không c̣òn chủ quyền để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình.
    Vậy về phía Việt Nam nguyên nhân sâu xa hay khách quan dẫn đến sự tranh chấp không đáng có chính là Việt Nam bị Pháp đô hộ, mất hết chủ quyền để có thể bảo vệ lãnh thổ của mình khi bị xâm phạm.
    Về phía Trung Hoa, nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam để tránh xảy ra sự kiện bất cứ nước nào nhất là các cường quốc hồi bấy giờ phỗng tay trên, chiếm cứ những đảo ở Nam Hải mà Trung Hoa coi là vô chủ.
    Về phía chính quyền thực dân Pháp, nguyên nhân chủ quan chính là do quyền lợi riêng của Chính quyền thực dân Pháp đã khiến Pháp không phản ứng kịp thời để Trung Hoa cho là đất vô chủ và đi sấu vào hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Ḥoàng Sa và sự thiếu hiểu biết do hạn chế của người đi đô hộ, không hiểu quan điểm của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
    Song sau đó chính quyền thực dân Pháp lại bắt đầu quan tâm đến hành động trái phép của chính quyền Quảng Đông với quấn đảo Hoàng Sa. Vậy thì nguyên nhân nào khiến chính quyền thực dân Pháp bắt đầu quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa trong thời gian từ năm 1921 đến 1930, Pháp bắt đầu thay đổi quan điểm. Đó chính là tầm quan trọng của vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa đối với an toàn quyền lực của Chính quyền thực dân Pháp về sự hiểu biết lập trường của Việt Nam (theo Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề giải thích).
    Trước hết chính vì vị trí chiến lược quan trọng của quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa cũng như Biển Đông đối với lãnh thổ Pháp đang cai trị, nên thực dân Pháp ở Đông Dương phải cân nhắc lợi hại, đã quyết định đối mặt với những ý đồ tranh chấp chủ quyền của các nước khác trong đó có Trung Quốc.
    Lúc ban đầu, trong bản báo cáo ngày 04 tháng 5 năm 1909, Tổng lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu đã đề cập tới tầm quan trọng vị trí của quần đảo Hoàng Sa, song lại chưa sát sườn với lợi ích của chính quyền thực dân, dù có hệ trong đến hàng hải hay sự đe dọa đối với ngư dân Việt nam như sau :
    “ Về vấn đề này, nhân viên của chúng tôi nhận xét rằng các đảo Hoàng Sa đối với chúng ta có một tầm quan trọng nhất định : vì nằm giữa tuyến đường đi từ Sàig̣òn đến Hồng Kông, các đảo đó là một mối nguy hiểm lớn đối với hàng hải và việc chiếu sáng ở đó có thể là cần thiết. Ngoài ra, các đảo đó thường có ngư dân An Nam và Trung Quốc qua lại : họ đến đó trong quá trình đánh cá để sơ chế sản phẩm. đã xảy ra những cuộc đổ máu giữa ngư dân hai nước trong dịp đó ” (Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.197).
    Trong văn thư của Khâm Sứ Trung Kỳ Le Fol gửi Toàn Quyền Đông Dương vào ngày 22 tháng 1 năm 1929 đã nhấn mạnh về vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa :
    “ Trong tình hình hiện nay, không ai có quyền phủ nhận tầm quan trọng chiến lược rất lớn của các đảo Hoàng Sa. Trong trường hợp có xung đột, việc nước ngoài chiếm đóng chúng sẽ là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất có thể có đối với việc phòng thủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang [Đông Dương].
    “ Thực vậy, các đảo nói trên là sự kéo dài tự nhiên của Hải Nam. Một đối phương có thể thấy ở đó một căn cứ hải quân hùng mạnh nhờ những vụng và nhiều nơi tầu đậu tuyệt vời, và do tính chất của chúng thực tế là không thể đánh bật. Một đội tầu ngầm dựa vào căn cứ đó sẽ có thể, không những phong tỏa cảng Đà Nẵng là cảng quan trọng nhất của Trung Kỳ, mà còn cô lập Bắc Kỳ bằng cách ngăn cản việc đi đến Bắc Kỳ bằng đường biển. Lúc đó để liên lạc giữa giữa Nam Kỳ với Bắc Kỳ ta phải dùng đường sắt hiện có, một con đường rất dễ bị đánh vì chạy dọc theo bờ biển, pháo hải quân đặt trên các chiến hạm có thể mặc sức phá hủy.”
    “ Đồng thời, mọi con đường thông thương giữa Đông Dương - Viễn Đông - Thái Bình Dương sẽ bị cắt đứt : hải lộ Sàig̣òn - Hồng Kông đi gần quần đảo Paracels, do đó nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của căn cứu trên các đảo ” ( onique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.174).
    Mặc dù có những báo cáo rất rõ về tầm quan trọng của Hoàng Sa đối với việc bảo vệ lãnh thổ thuộc địa Đông Dương của Pháp, song phải có sức ép của dư luận báo của người Pháp ở Đông Dương mới làm cho chính quyền thực dân Pháp có những hành động cụ thể để bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa của nước được Pháp bảo hộ.
    Đầu tiên với loạt bài trong các số 606, 622, 623, 627 (tháng 1, 5, 6 năm 1929), nhà báo Henri Cucherousset đã lược qua về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa với những dẫn chứng hết sức cụ thể như : 1/ Jean Baptiste Chaigneau viết năm 1820 dưới nhan đề : Notice sur la Cochinchine cho biết năm 1816 vua Gia Long thực sự chiếm đảo Hoàng Sa. 2/ Giám mục Jean Louis Taberd viết trong Journal of the Asiatic Society of Bengal, tậpVI, măm 1837, tr.737 và những trang kế tiếp, tập VII, năm 1838, tr.317 và những trang kế tiếp đề cập đến quần đảo Hoàng Sa trong mục Géographie de la Cochinchine. 3/ Dubois de Jaucigny viết trong L’Univers – Histoire et Description de tous les peuples de leurs religions. Moeurs, coutumes ; Japon, Indochine, Ceylan xuất bản năm 1850 tại Paris, F. Didot xuất bản, có đoạn viết : “ …từ 34 năm về trước quần đảo Hoàng Sa (mà người Annam gọi là Cát Vàng đã được chiếm cứ bởi các người xứ Nam Kỳ ”. Cucherousset còn viết những chi tiết về quần đảo Hoàng Sa trong Nam Việt Địa Dư [Hoàng Việt Địa Dư ?], Minh Mạng năm thứ 14 ; Đại Nam Nhất Thống Chí, in thời Duy Tân, tập 6, tờ 18b, 19a cùng việc tàu De Lanessan thám sát Hoàng Sa năm 1925.”
    Theo tác giả, quần đảo Hoàng Sa quan trọng do 5 đặc tính sau đây : 1/ Trạm cho thuỷ phi cơ Sàig̣òn - Hồng Kông ; Tourane- Philippines. 2/ Điểm tựa chiến lược cho tầu ngầm khi có chiến trảnh. 3/ Trạm thông báo khí tượng. 4/ Nơi tránh gió băo cho tàu đánh cá. 5/ Giàu phốt phát. Lý do tác giả viết loạt bài vì nhân một đại uý người Anh muốn nhân danh Anh Hoàng đặt chủ quyền Anh lên đảo Sein đồng thời tác giả cực lực phản đối việc hải quân trung tá Rémy ở Sàig̣òn trả lời cho 1 công ty hàng hải Nhật rằng không biết quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của ai và việc ông Monguillot đã viết cho ông Gravereaud nói rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa.
    Theo tác giả, chánh quyền bảo hộ Pháp phải chấp hữu chủ quyền trên quần đảo Ḥoàng Sa bằng các hành động : 1/ Vẽ bản đồ tổng quát Hoàng Sa tỉ lệ 1/200.000, vẽ bản đồ chi tiết 1/25.000, vẽ bản đồ hải quân và bản đồ địa chất. 2/ Đặt đài hải đăng. 3/ Đặt trạm quan sát và thông báo khí tượng. 4/ Lập đội trú phòng trú đóng tại Hoàng Sa.
    Tác giả còn luôn luôn trách cứ chánh quyền Pháp đã quá lơ là trong việc xác nhận và bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa.
    Sau đó chính bức thư của Toàn quyền Pasquier gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa ngày 18-10-1930 đã chấm dứt thái độ do dự của chính quyền Pháp đối với hành động xâm phạm trái phép của chính quyền Trung Hoa đối với chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa.
    Trong bức thư trên, Toàn quyền Pasquier đã gửi tập tư liệu về quần đảo Hoàng Sa bao gồm :
    1. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 hay biên niên sử của chính phủ An Nam.
    2. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Nam Việt Địa Dư, tập 2 hay Địa dư thời Minh Mạng [Chú thêm của tác giả : tức Hoàng Việt Địa Dư Chí].
    3. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam Nhất Thống Chí hay địa dư thời Duy Tân.
    Cùng kèm theo bốn thư phụ lục và bốn bản đồ, Toàn Quyền Pasquier viết : “ Chắc hẳn Ngài cũng đánh giá như tôi rằng chúng ta đã đủ để xác định không thể tranh cãi rằng An Nam đã thực sự nắm sở hữu quần đảo và làm như vậy trước năm 1909 nhiều.” (Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.233).

    (còn tiếp)

    Khách Qua Đường viết:
    Nhưng CHXHCNVN muốn thừa kế chủ quyền trên HS, TS từ VNCH, thì điều trước nhất mà CHXHCNVN PHẢI LÀM là chứng minh sự HỢP PHÁP của VNCH. Bằng không, tất cả những gì VNCH thực hiện để sở hữu HS, TS (tức là để kế tục chủ quyền pháp lý và lịch sử của các triều đại trước trên HS, TS) đều TRỞ THÀNH ZERO, vì VNCH không có tư cách pháp nhân (như là đại diện hợp pháp của Miền Nam VN).

    Nếu ông KQĐ vẫn bảo lưu ý này , Vậy xin ông đem Công Pháp ra xử 1 ví dụ như sau :
    Một nhóm Phục Quốc nổi dậy , chiếm tỉnh Ca Mau và Đảo Phú Quốc , trong những ngày đầu Quân đội nhân dân VN cùng CA bao vây, tấn công . Nhóm Phục Quốc này vừa chống đỡ vừa kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng Chống Cộng thế giới. Quốc tế, HĐ BA LHQ thấy tình hình giao tranh căng thẳng , phái cựu TTK Liên HQ Kofi Annan đến để xem xét thực tiễn và hòa giải ( giống như ở Syria bây giờ). Ong ta đễ nghị các bên tạm thời án binh bất động . Nhóm PQ không được nổ súng và tạm dựng lều chõng trên 2 vùng Cà Mau và Phú Quốc . Phía quân đội và CA tạm thời cất súng, về thăm vợ già, con thơ. Cambodia tranh thủ lúc này , đánh chiếm đảo Phú Quốc . Nhóm Phục Quốc không có tư cách pháp nhân và kết quả đảo Phú Quốc thuộc về Cambodia .
    Theo ông NQS , sau này khi CHXHCNVN xóa sổ nhóm PQ, thì VN có đòi lại được đảo Phú Quốc không ?

    PVĐ viết:
    Khách Qua Đường viết:
    Theo tôi hiểu thì Tiến sĩ Greg Austin, chuyên gia người Úc về môn Công pháp quốc tế, đã nghĩ như sau:
    1) Vì VNDCCH luôn luôn phủ nhận tính hợp pháp của Chính quyền và quốc gia VNCH;
    2) Vì CHXHCNVN trên thực chất là sự nối dài của VNDCCH (là VNDCCH đã ĐỔI TÊN) chứ không phải là hợp nhất giữa VNDCCH và VNCH (như CHXHCNVN đã ám chỉ);
    3) Vì sự hợp nhất giữa Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hoà Nam Việt Nam vào năm 1976 KHÔNG PHẢI là sự hợp nhất của VNDCCH và VNCH;
    4) Vì VNDCCH đã phạm lỗi estoppel qua Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 và qua những ctuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

    CHO NÊN: Tuyên bố chủ quyền trên HS, TS của CHXHCNVN có thể sẽ bị từ khước theo công pháp quốc tế.

    LÝ DO, theo tôi hiểu, là:

    a) Vì VNCH không phải là quốc gia hợp pháp (do chính VNDCCH và hậu thân của nó là CHXHCNVN từ trước đến nay KHẲNG ĐỊNH), nên tất cả những hành động của các cơ quan thẩm quyền của VNCH (thí dụ tuyên bố chủ quyền trên HS, TS, lập các đơn vị hành chánh để quản trị HS, TS, phản đối TQ xâm lăng HS, v.v…) đều KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ trên mặt công pháp quốc tế.
    b) Vì sự thống nhất hai miền Nam Bắc do ông Lê Duẩn và ĐCSVN thực hiện năm 1976 là không HỢP PHÁP (theo công pháp quốc tế) và đây chỉ là sự hợp nhất hình thức giữa VNDCCH và CPLTCHNVN (chứ không phải VNCH), trong khi CPLTCHNVN chưa được thế giới thừa nhận.
    c) Vì sau khi VN giành được độc lập từ nước Pháp, trong 30 năm từ năm 1945 đến 1975, VNDCCH đã không hiện diện và cai quản trên thực điạ cả hai quần đảo HS và TS (mà do VNCH đã thực hiện), nên giống như trường hợp giữa CHNDTH (TQ) và THDQ (Đài Loan), theo lý luận của các chuyên gia luật học về công pháp quốc tế, cũng giống như TQ không thể có chủ quyền trên đảo Đài Loan, VNDCCH/CHXHCNVN cũng có thể bị khước từ chủ quyền trên HS và TS.
    d) Vì VNDCCH đã bị lỗi estoppel, CHXHCNVN (tức là VNDCCH đổi tên sau 1976) đã bị mất tố quyền trên HS và TS nếu đem ra xét xử trước một tòa án quốc tế.

    KẾT LUẬN : Ngoại trừ giải pháp giành lại tố quyền (như ông Trương Nhân Tuấn đề nghị) qua việc thừa nhận tính hợp pháp của VNCH, thực thi việc thống nhất Nam Bắc theo đúng các thủ tục pháp lý của công pháp quốc tế, và dựa vào chủ quyền liên tục về pháp lý và lịch sử của VNCH trên HS và TS mà từ năm 1945 đến ngày bị bức tử bởi VNDCCH đã giữ được trọn vẹn, không sơ sẩy, để giành thế TẤT THẮNG khi đưa tranh chấp HS, TS ra trước một trọng tài quốc tế.

    Không rõ ông TS Greg Austin CÓ DÁM giữ nguyên lập luận sai trái trên khi có người đặt câu hỏi phản biện : Nếu Việt Nam sắp tới loạn lạc , Ba miền có 3 chính phủ ( Bắc dựa Nga , Nam dựa Mỹ , Trung dựa Lào ) và 3 chính phủ này gọi nhau là Ngụy , chưa kịp được LHQ cho ngồi họp với tư cách Quốc gia. Lúc đó Trung Quốc tha hồ chiếm Lạng sơn , Ninh Bình , Hà Nội , Huế , Đà Nẵng , Cà Mau , Phú Quốc ,... (trừ Thanh hóa) vì "mọi hành động của các nhà chức trách có thẩm quyền của CHÍNH PHỦ MỘT MIỀN trong tranh chấp lãnh thổ với một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận khác (thí dụ như VNCH phản đối các hành động của CHNHTH) sẽ không có tý trọng lượng nào cả trên bình diện quốc tế." ????
    Thực ra VNDCCH gọi VNCH là Ngụy vì lúc đó VNDCCH cho mình là chính danh trên toàn bộ lãnh thổ VN chứ không phải là VNCH . Việc phủ nhận tư cách tự xưng đại diện cho VN là việc nội bộ của 1 quốc gia . Không ai có quyền ( trong xã hội văn mình , bình đẳng , theo Hiến Chương LHQ ) lấy cớ nội bộ quốc gia lục đục nên xóa quyền lãnh thổ , lãnh hải của nước đó . Giong như Somali bây giờ , tuy nội chiến , vô chính phủ .... nhưng không ai nghĩ đến chuyện cướp hợp pháp lãnh thổ và lãnh hải của Somali.

    Bạn PVĐ thân mến,

    Về khía cạnh "tình" thì bạn nói rất đúng. Nhưng trên khía cạnh LUẬT PHÁP, ta không thể nói như bạn được, vì Công pháp quốc tế là môn LUẬT về các liên hệ quốc tế, tức là liên hệ giữa các quốc gia, trong đó dĩ nhiên bao gồm cả phần TRANH CHẤP giữa các quốc gia với nhau . Trong công pháp quốc tế, quốc gia được đại diện bởi chính quyền hợp pháp. Tất cả những gì không do chính quyền hợp pháp thực hiện đều được xem là không có giá trị (về mặt pháp lý). Vấn đề không phải là vì VNDCCH khẳng định là VNCH không hợp pháp thì đương nhiên quốc tế xem VNCH là không hợp pháp. Nhưng CHXHCNVN muốn thừa kế chủ quyền trên HS, TS từ VNCH, thì điều trước nhất mà CHXHCNVN PHẢI LÀM là chứng minh sự HỢP PHÁP của VNCH. Bằng không, tất cả những gì VNCH thực hiện để sở hữu HS, TS (tức là để kế tục chủ quyền pháp lý và lịch sử của các triều đại trước trên HS, TS) đều TRỞ THÀNH ZERO, vì VNCH không có tư cách pháp nhân (như là đại diện hợp pháp của Miền Nam VN). Tương tự, để thừa kế HS, TS từ VNCH, CHXHCNVN phải chứng minh họ có quyền thừa kế này, vì CHXHCNVN là thực thể pháp lý được tạo nên do sự HỢP NHẤT một cách hợp pháp hai thực thể chính trị pháp lý tách biệt và đều hợp pháp, là VNCH và VNDCCH trước ngày hợp nhất vào năm 1976. Điều này , theo ông Greg Austin lý luận là không đúng, vì CHXHCNVN thực tế ai cũng biết, chỉ đơn giản là VNDCCH được ĐỔI TÊN sau 1976.

    Trương Nhân Tuấn viết:

    Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ "bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây hấn bên ngoài". Người ta có thể phê bình nước Pháp về nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.

    Thật ra, về vấn đề HS và TS thì các hành động của Pháp không hẳn là “tạm đủ” như ông Trương Nhân Tuấn nghĩ. Nước Pháp, với tư cách là nước bảo hộ của An Nam, cũng phạm một số LỖI LẦM TAI HẠI mà, có thể gây ra nhiều thiệt hại cho chủ quyền của VN ở Hoàng Sa như Tiến sĩ Greg Austin đã thảo luận trong cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của ông.

    Dưới đây là chương bàn về các hoạt động xâm lấn Hoàng Sa của TQ dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1909, và phản ứng lơ là của Pháp, không phản đối TQ kịp thời như được bàn luận trong sách của Tiến sĩ Greg Austin. Nếu có thì giờ tôi sẽ cố dịch ra Việt ngữ sau để quý vị tiện tham khảo.

    A CHINESE TITLE AFTER 1909 AND FRENCH RECOGNITION?

    As a result of German and French interest in the islands in the 1880s, China moved to assert its sovereignty and to absorb the Paracel Islands into its administrative system. The actions reportedly taken by China include the formal protest to the German government in 1883 over its surveys of the islands.[53] The process also included dispatch of naval inpection teams in 1902 (or 1907 or 1909) to survey some of the islands;[54] establishment of a physical presence on some islands in 1908; imperial instructions conserning administration of the islands; issuing of licences in 1917 and 1921 to mine the islands; a refusal in 1919 to grant such a licence; and the establishment by 1921-22 of Chinese court jurisdiction over the islands.[55]

    However, if Annam had established a title to the Paracel Islands by dint of occupation in the 1830s, it could be argued that the two to three decades of administrative acts undertaken by China in the Paracel Islands after 1902 could not affect that title if France, as the protecting power, or Annam, moved within a reasonable time to reassert sovereigntỵ[56] Therefore, for the PRC to succeed in arguments that Chinese activities in the Paracel Islands in the first three decades of this century were sufficient to establsh a title for China, it would have to be able to demonstrate passivity and inaction on the part of the original sovereign – Annam (or France the protecting power after 1883-84) – that was tantamount to abandonment of title or acquiescence in China ‘ s claims.

    It is arguable that France did demonstrate a degree of ‘passivity and inaction’ sufficient for China ‘s actions before 1920 to give China a valid title by prescription. This argument would rest mainly on the fact that France failed to prevent or protest the wide range of official acts by China in respect of the islands at a time when France was probably in a position, because of its relative military power and active presence in the region, not only to know about China ‘s activities but also to prevent or at least protest these activities. The point about relative strengths of the two countries is borne out by the Chinese defeat at the hands of the French in the Sino-French war of 1884-85, the loss of Taiwan to the Japanese in 1895, and the ‘leasing’ to France of a large piece of Guangdong province and the Leizhou peninsula in 1898. Yet in the first two decades of this century, China managed to maintain a peaceful occupation of the Paracel Islands, involving a range of administrative acts without any protest by France. It is of interest to compare France ‘s prompt protests at two incidents over Clipperton Island in 1897 with France ‘s inactivity and failure to protest a series of actions by China, a very weak state, over the course of twenty years after 1883 in respect of islands lying almost as close to French Indochina as to China.

    The PRC claims that on two separate occasions, once in 1921 and again in 1929, France officially recognised China ‘s sovereignty over the Paracel Islands.[57] The two statements cited are from the French Premier and Foreign Minister, Aristide Briand, referring to the ‘impossibility in which we currently find ourselves to claim these islands’, and by the acting Governor-General in Cochin China that ‘according to reports from various sources, the Paracels should be regarded as belonging to China’.

    The French colonial documents from the first decades of the twentieth century demonstrate no firm intention to act as sovereign of the Paracel Islands prior to 1931. In fact, these documents demonstrate a clear lack of interest by France in exercising sovereignty, even as certain French officials or private citizens retained some watching brief on events there. The documents appear conclusive on this point. In a note written in the French Foreign Ministry in Paris dated 14 January 1921 and specifically addressing the sovereignty of the Paracel and Pratas Islands, the Asia-Oceania Department recorded that the interest of France in these islands extended ‘only to a certain importance’ arising from their position between Singapore ang Hong Kong. The note contains no assertion of a French claim or of French sovereignty. It does record the Chinese claim, and it does record the ‘failed’ efforts of a French citizen to persuade the French government to erect a lighthouse on the Paracel Islands to assert French sovereignty.[58] This 1921 note confirmed the view expressed in 1909 by the French Consul in Canton [Guangzhou] that while France could find justification to support pretensions to sovereignty in the Paracel Islands, it was not worth the effort. The 1921 note concluded that ‘nous avions laissé faire les chinois’ [‘we have been leaving the Chinese to do as they wished’]. This is hardly the position of a sovereign state.

    If the intent imputed by Chinese sources to the French statements from 1909 to 1929 is correct, the PRC would appear to have a fair case the France was estopped through this recognition from claiming the Paracel Islands based on events prior to 1929. (The principle of estoppel is discussed in Appendix I.)

    Footnotes

    [53] The-Kuang Chang, ‘China’s Claim of Sovereignty Over Spratly and Paracel Islands: A Historical and Legal Perspective, Case Western Reserve Journal of International Law ,vol. 23, no. 3, Summer 1991, p. 405.
    [54] Samuels, Contest for the South China Sea ,p. 53 says that a 1902 expedition was the first Chinese attempt to implement the 1887 treaty and the first Chinese attempt to exert effective authority over the Paracel Islands. He says that officials of Guangdong province sought ‘approval for the administrative absorption’ of the Paracel Islands. Chinese scholars more often refer to the first naval inspection in the modern period as having occurred in 1907. See, for example, Kao, The Chinese Frontiers ,p. 292, and Hungdah Chiu and Choon-ho Park, ‘Legal Status of the Paracel and Spratly Islands’, Ocean Development and International Law ,vol. 3, no. 1, 1975, p. 12. Yet other sources give 1909 as the date of the first naval inspection. See Lin Jinzhi, ‘The Xisha and Nansha Islands Have Been Chinese Territory Since Ancient Times’, Renmin ribao [People’s Daily], 7 April 1980, p. 4, translated in FBIS-PRC-80-085, 30 April 1980, p. E6: ‘Renmin ribao on History of Chinese Sovereignty over Xisha, Nansha Islands’; and Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys ,p. 95.
    [55] Samuels, Contest for the South China Sea , pp. 53-60.
    [56] Jennings, The Acquisition of Territory in International Law, p. 30, quotes Fitzmaurice as follows: ‘No amount of activity on the part of the “prescripting” State would avail, without the passivity and inaction of the original sovereign’.
    The way in which a state may surrender a title through prescription, and the manner in which acts should be evaluated to see if such a surrender has taken place, was described by Jennings (p. 30) as follows:
    A failure to maintain a minimum degree of sovereign activity appropriate to the nature of the territory may … be regarded as an abandonment of title. But if title is to have any meaning at all it should be clear that such an abandonment in the face of rival activity is the conditio sine qua non for a new prescription. For the rule requiring the maintenance of the title ought not to be interpreted to mean that the State with title necessarily loses it if it fails to maintain a degree of activity at least equal to that of a rival claimant. The State with title is only required to show that there had been no tacit abandonment of its rights or acquiescence in the rival claim.
    [57] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, p. 18; ‘Xinhua Commentator on Vietnamese Foreign Ministry’s White Book’, Xinhua 11 June 1982, in FBIS-CHI-82-113, 11 June 1982, p. E1.
    [58] Ministry of Foreign Affairs, Paris, 14 January 1921, reproduced at Annex 16, Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys ,pp. 202-15.

    Khách Qua Đường viết:
    Theo tôi hiểu thì Tiến sĩ Greg Austin, chuyên gia người Úc về môn Công pháp quốc tế, đã nghĩ như sau:
    1) Vì VNDCCH luôn luôn phủ nhận tính hợp pháp của Chính quyền và quốc gia VNCH;
    2) Vì CHXHCNVN trên thực chất là sự nối dài của VNDCCH (là VNDCCH đã ĐỔI TÊN) chứ không phải là hợp nhất giữa VNDCCH và VNCH (như CHXHCNVN đã ám chỉ);
    3) Vì sự hợp nhất giữa Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hoà Nam Việt Nam vào năm 1976 KHÔNG PHẢI là sự hợp nhất của VNDCCH và VNCH;
    4) Vì VNDCCH đã phạm lỗi estoppel qua Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 và qua những ctuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

    CHO NÊN: Tuyên bố chủ quyền trên HS, TS của CHXHCNVN có thể sẽ bị từ khước theo công pháp quốc tế.

    LÝ DO, theo tôi hiểu, là:

    a) Vì VNCH không phải là quốc gia hợp pháp (do chính VNDCCH và hậu thân của nó là CHXHCNVN từ trước đến nay KHẲNG ĐỊNH), nên tất cả những hành động của các cơ quan thẩm quyền của VNCH (thí dụ tuyên bố chủ quyền trên HS, TS, lập các đơn vị hành chánh để quản trị HS, TS, phản đối TQ xâm lăng HS, v.v…) đều KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ trên mặt công pháp quốc tế.
    b) Vì sự thống nhất hai miền Nam Bắc do ông Lê Duẩn và ĐCSVN thực hiện năm 1976 là không HỢP PHÁP (theo công pháp quốc tế) và đây chỉ là sự hợp nhất hình thức giữa VNDCCH và CPLTCHNVN (chứ không phải VNCH), trong khi CPLTCHNVN chưa được thế giới thừa nhận.
    c) Vì sau khi VN giành được độc lập từ nước Pháp, trong 30 năm từ năm 1945 đến 1975, VNDCCH đã không hiện diện và cai quản trên thực điạ cả hai quần đảo HS và TS (mà do VNCH đã thực hiện), nên giống như trường hợp giữa CHNDTH (TQ) và THDQ (Đài Loan), theo lý luận của các chuyên gia luật học về công pháp quốc tế, cũng giống như TQ không thể có chủ quyền trên đảo Đài Loan, VNDCCH/CHXHCNVN cũng có thể bị khước từ chủ quyền trên HS và TS.
    d) Vì VNDCCH đã bị lỗi estoppel, CHXHCNVN (tức là VNDCCH đổi tên sau 1976) đã bị mất tố quyền trên HS và TS nếu đem ra xét xử trước một tòa án quốc tế.

    KẾT LUẬN : Ngoại trừ giải pháp giành lại tố quyền (như ông Trương Nhân Tuấn đề nghị) qua việc thừa nhận tính hợp pháp của VNCH, thực thi việc thống nhất Nam Bắc theo đúng các thủ tục pháp lý của công pháp quốc tế, và dựa vào chủ quyền liên tục về pháp lý và lịch sử của VNCH trên HS và TS mà từ năm 1945 đến ngày bị bức tử bởi VNDCCH đã giữ được trọn vẹn, không sơ sẩy, để giành thế TẤT THẮNG khi đưa tranh chấp HS, TS ra trước một trọng tài quốc tế.

    Không rõ ông TS Greg Austin CÓ DÁM giữ nguyên lập luận sai trái trên khi có người đặt câu hỏi phản biện : Nếu Việt Nam sắp tới loạn lạc , Ba miền có 3 chính phủ ( Bắc dựa Nga , Nam dựa Mỹ , Trung dựa Lào ) và 3 chính phủ này gọi nhau là Ngụy , chưa kịp được LHQ cho ngồi họp với tư cách Quốc gia. Lúc đó Trung Quốc tha hồ chiếm Lạng sơn , Ninh Bình , Hà Nội , Huế , Đà Nẵng , Cà Mau , Phú Quốc ,... (trừ Thanh hóa) vì "mọi hành động của các nhà chức trách có thẩm quyền của CHÍNH PHỦ MỘT MIỀN trong tranh chấp lãnh thổ với một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận khác (thí dụ như VNCH phản đối các hành động của CHNHTH) sẽ không có tý trọng lượng nào cả trên bình diện quốc tế." ????
    Thực ra VNDCCH gọi VNCH là Ngụy vì lúc đó VNDCCH cho mình là chính danh trên toàn bộ lãnh thổ VN chứ không phải là VNCH . Việc phủ nhận tư cách tự xưng đại diện cho VN là việc nội bộ của 1 quốc gia . Không ai có quyền ( trong xã hội văn mình , bình đẳng , theo Hiến Chương LHQ ) lấy cớ nội bộ quốc gia lục đục nên xóa quyền lãnh thổ , lãnh hải của nước đó . Giong như Somali bây giờ , tuy nội chiến , vô chính phủ .... nhưng không ai nghĩ đến chuyện cướp hợp pháp lãnh thổ và lãnh hải của Somali.

    André Menras Hồ Cương Quyết viết:

    Những sự im lặng, chờ đợi, sợ hãi, cấm doán ấy, mà ta không biết đích xác nguồn gốc, là hết sức nguy hiểm cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Ai cũng biết – và nhân dân Việt Nam càng biết hơn ai hết – rằng càng lùi bước mãi trước một kẻ xâm lược lớn mạnh và quyết đoán thì cuối cùng sẽ bị đẩy vào chân tường. Và khi đã áp lưng vào tường rồi, thì đã quá muộn: không còn đường lui và tránh được tai họa nữa. Thương lượng với Hitler, cúi đầu trước y bằng hiệp ước Munich không ngăn được y xâm chiếm châu Âu hai năm sau đó! Tôi sợ những khoảnh khắc kinh hoàng ấy vì tôi đã từng nhìn thấy chiến tranh, tôi yêu quý hòa bình hơn bất cứ điều gì khác. Đấy là lý do tôi trả lời những người im lặng và khuất phục nhân danh hòa bình rằng thái độ của họ làm tăng nguy cơ xâm lược và chiến tranh. Phương cách duy nhất để tránh cuộc đối đầu chết người cho cả nhân dân Việt Nam lẫn nhân dân Trung Quốc là ngẩng cao đầu. Nắm lấy lại la bàn của một tinh thấn ái quốc chân chính, song quả quyết tự vệ. Bình tâm, và đầy phẩm cách. Cùng lúc với việc thông báo những sự kiện tích cực giữa hai nước, phải dũng cảm tố cáo các cuộc xâm lấn, tất cả các cuộc xâm lấn, một cách khách quan. Tố cáo với trong nước cũng như ngoài nước. Phải bảo vệ ngư dân của mình như Trung Quốc bảo vệ ngư dân của họ. Thực sự bảo vệ ngư dân bằng hỗ trợ quân sự. Liên tục, thường xuyên. Ngư dân Việt Nam không giống như ngư dân mà Trung Quốc gửi đến những khu vực tranh chấp. Đấy không phải là những ngư dân ngụy trang, những binh lính được huấn luyện và trang bị vũ khí, sẵn sàng cho các cuộc đối đầu. Ngư dân Việt Nam là ngư dân thật, những người lao động thật sự trên biển cả… Mặc những lời hoa mỹ về hỗ trợ nhiên liệu và những vật dụng khác, họ hoàn toàn đơn độc giữa biển khơi, đối mặt với một lực lượng hải quân được trang bị tận răng, với những binh sĩ tàn bạo được lệnh uy hiếp họ và coi họ là kẻ thù. Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, cả kinh tế gia đình, tương lai con cái, những người anh hùng bình thường ấy là những người duy nhất giương cao lá cờ của Việt Nam trên biển cả cuả Tổ quốc bị ngoại bang xâm chiếm. Không có bất cứ lực lượng nào hỗ trợ cho họ: cả lực lượng Biên phòng chỉ bảo vệ bờ biển, lẫn hải quân không dám ra khơi xa, cả không quân. Tôi không thể kìm nổi bất bình khi nghe các diễn từ của những vị lãnh đạo cao cấp, bình yên trong tiện nghi sang trọng, khuyên ngư dân hãy tự bảo vệ lấy mình. Làm sao họ có thể tự bảo vệ khi đối mặt với một bộ máy sẵn sàng nghiền nát tất cả đang chờ họ và hoàn toàn tự do hành động? Họ ở giữa đấu trường, tay không đối mặt với sư tử.

    Ngẩng cao đầu cũng còn có nghĩa là Nhà nước phải bước lên tuyến đầu và nhận lãnh lấy trách nhiệm xã hội của mình trước vô số nạn nhân mà bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát chỉ mới nói đến một phần rất nhỏ. Là phải tổ chức một chế độ đặc biệt ưu tiên hỗ trợ cho những người vợ góa và con cái mồ côi của những ngư dân mất tích trên biển ở Hoàng Sa. Một chế độ cho phép họ sống đàng hoàng không phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của láng giềng hay bạn bè. Đấy sẽ là chút biết ơn tối thiểu đối với những hy sinh và hiểm nguy mà họ gánh chịu. Đấy sẽ là một sự hỗ trợ tinh thần to lớn đối với họ. Tiền không thiếu. Tôi sẽ không kể đến hàng triệu đô la, là tiền đóng thuế của dân, đã biến mất trong những cái túi không đáy của một số doanh nghiệp Nhà nước. Ngẩng cao đầu không phải là một hành động hiếu chiến, đấy là một hành động tự trọng và tự vệ tối thiểu. Ngược lại cúi đầu là khuyến khích sự khinh miệt và gây hấn. Tình hình những tháng vừa qua chứng minh rằng mỗi sự khẳng định kháng cự kiên quyết trước bành trướng Trung Quốc đã tiết chế thái độ của họ trên trận địa.

    Xin cám ơn ông Hồ Cương Quyết. Dù không phải là người Việt trên mặt huyết thống, và chỉ mới nhập Việt tịch rất gần đây, ông đã chứng tỏ là SÁNG SUỐT, và YÊU NƯỚC Việt Nam hơn rất nhiều người "trí thức phò Đảng", ngày đêm chỉ biết làm đủ mọi cách để lấp liếm, bao che những lỗi lầm và sự bất lực của ĐCSVN (mà ông đã nêu ra trên đây).

    Khách Qua Đường viết:
    Trích cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của Greg Austin:

    Để quý bạn đọc trong nước tiện theo dõi chủ đề kế thừa quốc gia này, tôi xin mạo muội cố gắng tạm dịch vài đoạn tiếng Anh của Tiến sĩ Greg Austin ra tiếng Việt như sau. Vì khả năng Anh ngữ của tôi còn rất hạn chế, nếu có gì sơ xuất mong quý vị niệm tình thứ lỗi và sửa chữa giùm cho. Xin thành thật cám ơn quý vị.

    Kế thừa quốc gia

    Ngay cả khi tòa án quốc tế nhận định là trường hợp của Quần đảo Hoàng Sa xứng đáng được áp dụng tiêu chuẩn quyết đoán về quyền dân tộc tự quyết, và theo đó cho phép khôi phục lại hay cải thiện lại chủ quyền lãnh thổ của nước An Nam trên Quần đảo Hoàng Sa trước năm 1931, thì cũng còn phải cần chứng minh là dân tộc Việt Nam sau khi đã lấy lại được quyền tự chủ, các chủ quyền về lãnh thổ này đã được chuyển giao lại hay được tiếp nhận bởi những chế độ [của VN] và không bao giờ từ bỏ cả. Như sẽ thảo luận sau đây, có thể nói mạnh miệng rằng các chủ quyền này đã bị từ khước, tuy nhiên điều này dựa rất nhiều vào sự giải thích về sự thừa kế quyền lợi và nhiệm vụ của những quốc gia bị chia cắt trong suốt quá trình bị thực dân cai trị, thời kỳ giải thoát khỏi thực dân, thời nội chiến và thời thống nhất.

    Vào năm 1945, nước VNDCCH được thành lập trên miền Bắc của Việt Nam, trong khi nước Pháp tiếp tục cai trị miền Nam như là một bộ phận nhất thể của Liên Bang Pháp, tức là lãnh thổ của Pháp. Vùng đất do Pháp chiếm đóng trong miền Nam đã hoàn thành được sự độc lập với Pháp qua một tiến trình dần dần từ năm 1948 đến năm 1954. Năm 1948, Pháp thừa nhận sự độc lập của Việt Nam liên kết với Liên Bang Pháp. Năm 1949, Chính quyền Bảo Đại ở VN phía nam của Vĩ tuyến 16 độ Bắc được trao trả chủ quyền nội trị hoàn toàn và được phép có một quân đội quốc gia trong khi Pháp vẫn giữ lại quyền ngoại giao. Năm 1950, Chính phủ Bảo Đại đã nhận được gần như trọn quyền kiểm soát về hệ thống ngoại thương và tài chính. Kể từ đầu năm 1951, Chính quyền Bảo Đại bắt đầu ký kết các hiệp ước trong danh nghĩa của nó, bắt đầu gia nhập các cơ quan quốc tế, và được một số nước công nhận. Vào năm 1954, nước Pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho VNCH.

    Năm 1975, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã được thay thế bằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời mà vào năm 1976 đã nhập vào với Chính phủ VN Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) để lập ra Chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa VN (CHXHCNVN). CHXHCNVN đã ám chỉ rằng, khi VNCH như là một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận đã gia nhập vào nước CHXHCNVN thống nhất, VNCH đã đem theo lãnh thổ và những quyền chủ quyền của họ trong việc tranh chấp lãnh thổ. Để cho CHXHCNVN được thành công trong tranh cãi như thế, nước này cần phải chứng minh rằng VNCH là một quốc gia độc lập được thế giới công nhận trước khi sáp nhập chung với VNDCCH vào năm 1976 để lập ra nước CHXHCNVN, do đó đã đem vào cho cái thực thể quốc tế mới tất cả lãnh thổ và chủ quyền về tranh chấp lãnh thổ mà nước VHCH trước đây đã sở hữu. Nếu VNCH không phải là một quốc gia được quốc tế thừa nhận, thì mọi hành động của các nhà chức trách có thẩm quyền của VNCH trong tranh chấp lãnh thổ với một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận khác (thí dụ như VNCH phản đối các hành động của CHNHTH) sẽ không có tý trọng lượng nào cả trên bình diện quốc tế.

    Điều biện luận rằng VNCH là một quốc gia độc lập, được quốc tế công nhận cũng có phần đúng đắn [Ghi chú: nghĩa là có tính thẩm quyền trên mặt pháp lý quốc tế]. Nước này sở hữu tất cả mọi đặc trưng của một quốc gia: một nhân dân thường trực, một lãnh thổ được xác định, một chính quyền, và đủ khả năng tham dự vào những liên hệ với những quốc gia khác. Vào năm 1968, nước VNCH đã được khoảng 60 quốc gia thừa nhận, là thành viên của 12 cơ quan chuyên biệt của Liên Hiệp Quốc, và là thành viên của 30 cơ quan quốc tế. Hai Nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (vào các năm 1952 và 1957) đã diễn tả quốc gia Việt Nam (nước VNCH) như là một quốc gia yêu chuộng hòa bình theo đúng ý nghĩa của Điều 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và, do đó, đủ điều kiện để trở thành hội viên [của LHQ].[94]

    Thế nhưng điều biện luận của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của hai quốc gia trước đây đã hiện hữu thì đã thách đố mọi lương tri và mọi sự kiện chính trị. CHXHCNVN không những chỉ là nước kế tục pháp lý của VNDCCH mà, trên nhiều khía cạnh, chính là chính thể VNDCCH đó nhưng được mang tên khác. Nước VNDCCH đã luôn luôn tuyên bố rằng họ là chính thể hợp pháp duy nhất của toàn thể Việt Nam, bao gồm cả vùng lãnh thổ do VNCH kiểm soát, và quốc tế thừa nhận VNCH hoặc VNDCCH chủ yếu phần lớn dựa trên căn bản là nước này [tức VNCH hoặc VNDCCH] là chính phủ duy nhất hợp pháp của toàn thể VN. Rất ít quốc gia chính thức thừa nhận cả hai chính thể, và sự thừa nhận này trên cơ bản, đã phân rẻ dựa theo tinh thần “phe đảng” với việc các nước trong phe cộng sản thì thừa nhận VNDCCH và các nước không cộng sản thì thừa nhận VNCH.[95]

    Nếu VNDCCH cứ liên tục bác bỏ tính hợp pháp của sự hiện hữu của VNCH, thì CHXHCNVN, chính thể trên cốt yếu chính là một với VNDCCH, sẽ được đặt trên cùng vị trí pháp lý như là CHNDTH đối với hiệu quả của các hành động của chính phủ đối đầu [tức Trung Hoa Dân Quốc, Đài Loan] – như đã được biện hộ bởi tác giả Chiu và được đề cập trên đây. Cũng giống y như việc CHNDTH có thể không được phép tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên đảo Đài Loan, CHXHCNVN cũng có thể bị bác bỏ mọi quyền lợi trên công pháp quốc tế về những lãnh thổ mà nước này đã chưa bao giờ kiểm soát trên thực địa. Trong mọi trường hợp, CHXHCNVN không phải là sự thống nhất [hợp nhất] của VNDCCH và VNCH, mà là sự hợp nhất của VNDCCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam - một sự kiện sẽ làm yếu đi bất cứ sự kế thừa nào của CHXHCNVN về quyền chủ quyền của VNCH.

    Greg Austin

    Theo tôi hiểu thì Tiến sĩ Greg Austin, chuyên gia người Úc về môn Công pháp quốc tế, đã nghĩ như sau:
    1) Vì VNDCCH luôn luôn phủ nhận tính hợp pháp của Chính quyền và quốc gia VNCH;
    2) Vì CHXHCNVN trên thực chất là sự nối dài của VNDCCH (là VNDCCH đã ĐỔI TÊN) chứ không phải là hợp nhất giữa VNDCCH và VNCH (như CHXHCNVN đã ám chỉ);
    3) Vì sự hợp nhất giữa Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hoà Nam Việt Nam vào năm 1976 KHÔNG PHẢI là sự hợp nhất của VNDCCH và VNCH;
    4) Vì VNDCCH đã phạm lỗi estoppel qua Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 và qua những ctuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

    CHO NÊN: Tuyên bố chủ quyền trên HS, TS của CHXHCNVN có thể sẽ bị từ khước theo công pháp quốc tế.

    LÝ DO, theo tôi hiểu, là:

    a) Vì VNCH không phải là quốc gia hợp pháp (do chính VNDCCH và hậu thân của nó là CHXHCNVN từ trước đến nay KHẲNG ĐỊNH), nên tất cả những hành động của các cơ quan thẩm quyền của VNCH (thí dụ tuyên bố chủ quyền trên HS, TS, lập các đơn vị hành chánh để quản trị HS, TS, phản đối TQ xâm lăng HS, v.v…) đều KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ trên mặt công pháp quốc tế.
    b) Vì sự thống nhất hai miền Nam Bắc do ông Lê Duẩn và ĐCSVN thực hiện năm 1976 là không HỢP PHÁP (theo công pháp quốc tế) và đây chỉ là sự hợp nhất hình thức giữa VNDCCH và CPLTCHNVN (chứ không phải VNCH), trong khi CPLTCHNVN chưa được thế giới thừa nhận.
    c) Vì sau khi VN giành được độc lập từ nước Pháp, trong 30 năm từ năm 1945 đến 1975, VNDCCH đã không hiện diện và cai quản trên thực điạ cả hai quần đảo HS và TS (mà do VNCH đã thực hiện), nên giống như trường hợp giữa CHNDTH (TQ) và THDQ (Đài Loan), theo lý luận của các chuyên gia luật học về công pháp quốc tế, cũng giống như TQ không thể có chủ quyền trên đảo Đài Loan, VNDCCH/CHXHCNVN cũng có thể bị khước từ chủ quyền trên HS và TS.
    d) Vì VNDCCH đã bị lỗi estoppel, CHXHCNVN (tức là VNDCCH đổi tên sau 1976) đã bị mất tố quyền trên HS và TS nếu đem ra xét xử trước một tòa án quốc tế.

    KẾT LUẬN : Ngoại trừ giải pháp giành lại tố quyền (như ông Trương Nhân Tuấn đề nghị) qua việc thừa nhận tính hợp pháp của VNCH, thực thi việc thống nhất Nam Bắc theo đúng các thủ tục pháp lý của công pháp quốc tế, và dựa vào chủ quyền liên tục về pháp lý và lịch sử của VNCH trên HS và TS mà từ năm 1945 đến ngày bị bức tử bởi VNDCCH đã giữ được trọn vẹn, không sơ sẩy, để giành thế TẤT THẮNG khi đưa tranh chấp HS, TS ra trước một trọng tài quốc tế.

    Khách Qua Đường viết:

    Sau đây là lời của ông André Menras – Hồ Cương Quyết trong bài Từ Lý Sơn, nắm lấy lại la bàn (http://www.boxitvn.net/bai/37702)

    Nhưng còn các nhà cầm quyền trung ương thì sao?

    Về điểm này tôi xin thú thật là tôi khá lo lắng và quả thật tôi nghĩ rằng một số trung tâm quyền lực cần một cái la bàn bởi vì họ đang thả mặc cho sóng gió và không ai biết họ định đưa con thuyền đến đâu.

    Tôi biết chắc là Trung Quốc sẽ tiếp tục khủng bố ngư dân Bình Châu và Lý Sơn, chúng sẽ tiếp tục đối xử tàn tệ với họ, cướp thuyền cá của họ khiến họ tan gia bại sản bởi chúng muốn họ bỏ trống biển và để cho ngư dân Trung Quốc tha hồ tự do trên vùng biển ấy. Đấy là một sự thật. Nhưng khi tôi phát biểu những lo lắng của mình, thì câu trả lời chính thức luôn luôn là: “Không nên làm mất lòng Trung Quốc, họ quá mạnh; họ có thể dùng bạo lực, có thể phát động chiến tranh.” Vậy nên, nếu ta muốn có hòa bình, thì phải tránh tất cả những gì những gì khiến Trung Quốc không bằng lòng. Tức: đừng chiếu phim Hoàng Sa Việt Nam, nỗi đau mất mát: Sự thật trong phim này quá gay gắt sẽ làm Trung Quốc nổi giận. Nhất là đừng nói chuyện chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã giúp ông Lê Vinh, người bị hải quân Trung Quốc cướp mất tàu, 555 triệu đồng để ông có thể mua một chiếc tàu mới. Lộ chuyện ấy ra sẽ khiến người Trung Quốc căm ghét ông Lê Vinh và họ sẽ thủ tiêu ông ấy trong lần ra khơi sau. Mọi sự phải giữ kín trong nội bộ ta thôi, thậm chí phải tuyệt mật. Đối với người Trung Quốc việc ta giúp ngư dân là phạm tội và “người-Trung-Quốc-cái-gì-cũng-biết-và-ở-đâu-cũng-có-mặt” sẽ tiến hành những hành động khủng bố, trực tiếp trên biển, nhưng còn cả trên mặt trận kinh tế nữa… Cho nên: im lặng!

    Duy nhất được phép là những phản đối lặp đi lặp lại của người phát ngôn Bộ Ngoại giao mỗi lần có gây hấn, mà Bắc Kinh chẳng thèm lập tức phản bác. Trong khi đó tình hình ngày càng xấu đi. Trung Quốc củng cố các căn cứ hành chính và quân sự của họ ở Hoàng Sa. Họ tấn công các tàu thuyền Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ đưa tàu quân sự của họ bảo vệ ngư dân của họ cướp bóc vùng biển mà Philippines đòi chủ quyền. Họ uy hiếp hạm đội Ấn Độ …

    Khi các công dân Việt Nam, dù thiếu thông tin, quyết định phản ứng một cách hòa bình, xuống đường, viết các bài phản đối, thì liền bị đàn áp, nhiều khi nặng nề, đến bị bỏ tù. Tôi không thể không nhớ lại cách đây đúng một năm, ngày 5/6/2011, tôi và các bạn từng tranh đấu trong phong trào phản chiến ngày trước và nhiều bạn trẻ đã cùng xuống đường trong tinh thần ôn hòa để phản đối hành động cắt cáp của Trung Quốc đối với tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Sau đó, đã có thêm 10 lần xuống đường của người dân để phản đối Trung Quốc gây hấn. Những cuộc bày tỏ lòng yêu nước một cách tuyệt đối hòa bình ấy đã gặp không ít chuyện đáng giận từ lối hành xử lúng túng, đánh đập thô bạo, bắt bớ của những người nhân danh chính quyền nữa. Ở đây, có một nghịch lý ái quốc thật lạ lùng của nhà cầm quyền: để tránh cho nhân dân mình khỏi ăn dùi cui ngoại bang, chính họ phải cho đồng bào mình ăn đòn! Chưa bao giờ người Việt ta lại được tự phục vụ tuyệt đến thế!

    Các nhà cầm quyền bảo hãy tin ở chúng tôi. Chúng tôi thương lượng ở cấp cao nhất. Tôi muốn hỏi: Có thể nói cho tôi biết đến nay những cuộc thương lượng rất bí mật ấy đã dẫn tới đâu? Đã mang lại kết quả gì tích cực cho nước Việt Nam, cho nhân dân Việt Nam? Trung Quốc có bao giờ dù chỉ một lần nói lên một lời lấy làm tiếc là đã đánh đập, nhấn chìm, bỏ tù, làm cho sạt nghiệp các ngư dân Việt Nam mà ta có thể tính con số lên đến hơn một nghìn người trong mười năm gần đây? Không hề! Trái lại họ càng gia tăng gây hấn, ngăn cấm ngư dân Việt Nam cùng lúc ngư dân Trung Quốc trên hàng chục tàu thuyền xuất hiện gần bờ biển Việt Nam. Trung Quốc có chịu từ bỏ “đường lưỡi bò” bành trướng muốn xâm chiếm 80% Biển Đông, vốn là tài sản chung của các nước ven bờ trong đó không có Bắc Kinh? Không hề! Trái lại, họ không ngừng rêu rao các tham vọng chủ quyền của họ mỗi khi có cơ hội và triển khai chiến lược chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự để đơn phương áp đặt chúng trên bình diện khu vực và quốc tế. Từ năm 2002 các cuộc thương lượng ở cấp cao có đưa Bắc Kinh trở lại tôn trọng DOC mà họ đã ký? Không hề! Cả những cuộc thương lượng ấy lẫn những cuộc thăm viếng “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cả những đường dây điện thoại gọi là nóng không ngăn được Trung Quốc tiến tới, gây hấn, dữ dằn hay lén lút hơn. Đấy là sự thật. Kiên nhẫn, im lặng, chờ đợi, “khéo léo”, chẳng gì đẩy lùi được mối hiểm nguy. Trái lại, điều đó lại tạo điều kiện cho Trung Quốc lặng lẽ chiếm lĩnh trận địa. Ta càng lùi, họ càng lấn tới. Ngôn ngữ nước đôi “16 chữ vàng” với lại “4 tốt” và những phản đối ngoại giao đã thành lệ chỉ làm hại Việt Nam. Một số lãnh đạo Việt Nam thăm Trung Quốc, thường là sau khi dư luận Việt Nam có phản ứng bất bình, hòa giọng với lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố: “Đừng để cho các lực lượng phản động chia rẽ chúng ta”. Nhưng khi Trung Quốc tấn công ngư dân Việt Nam thì bọn phản động ở đâu? Đã đến lúc chấm dứt cái trò ngôn ngữ nước đôi đó đi, đừng che giấu bất cứ sự thật nào bởi vì điều đó phá vỡ, làm suy giảm hay gây phẫn nộ dư luận công chúng trong nước, đánh lạc hướng các bạn bè của Việt Nam trên thế giới, kìm hãm các liên minh mà Việt Nam cần để tồn tại. Ở Pháp tôi đã gặp nhiều lãnh tụ cộng sản hay các đảng cánh tả không hề biết có các cuộc gây hấn của Trung Quốc chống Việt Nam. Trong những điều kiện đó làm sao có được sự ủng hộ của họ? Làm sao dộng viên được toàn bộ giới trẻ Việt Nam để họ sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc khi không có bất cứ chương trình quốc gia nào về lịch sử và địa lý trình bày một chương nào về Hoàng Sa và Trường Sa? Có những sự lãng quên cực kỳ vô trách nhiệm và thậm chí đáng nghi ngờ.

    Những sự im lặng, chờ đợi, sợ hãi, cấm doán ấy, mà ta không biết đích xác nguồn gốc, là hết sức nguy hiểm cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Ai cũng biết – và nhân dân Việt Nam càng biết hơn ai hết – rằng càng lùi bước mãi trước một kẻ xâm lược lớn mạnh và quyết đoán thì cuối cùng sẽ bị đẩy vào chân tường. Và khi đã áp lưng vào tường rồi, thì đã quá muộn: không còn đường lui và tránh được tai họa nữa. Thương lượng với Hitler, cúi đầu trước y bằng hiệp ước Munich không ngăn được y xâm chiếm châu Âu hai năm sau đó! Tôi sợ những khoảnh khắc kinh hoàng ấy vì tôi đã từng nhìn thấy chiến tranh, tôi yêu quý hòa bình hơn bất cứ điều gì khác. Đấy là lý do tôi trả lời những người im lặng và khuất phục nhân danh hòa bình rằng thái độ của họ làm tăng nguy cơ xâm lược và chiến tranh. Phương cách duy nhất để tránh cuộc đối đầu chết người cho cả nhân dân Việt Nam lẫn nhân dân Trung Quốc là ngẩng cao đầu. Nắm lấy lại la bàn của một tinh thấn ái quốc chân chính, song quả quyết tự vệ. Bình tâm, và đầy phẩm cách. Cùng lúc với việc thông báo những sự kiện tích cực giữa hai nước, phải dũng cảm tố cáo các cuộc xâm lấn, tất cả các cuộc xâm lấn, một cách khách quan. Tố cáo với trong nước cũng như ngoài nước. Phải bảo vệ ngư dân của mình như Trung Quốc bảo vệ ngư dân của họ. Thực sự bảo vệ ngư dân bằng hỗ trợ quân sự. Liên tục, thường xuyên. Ngư dân Việt Nam không giống như ngư dân mà Trung Quốc gửi đến những khu vực tranh chấp. Đấy không phải là những ngư dân ngụy trang, những binh lính được huấn luyện và trang bị vũ khí, sẵn sàng cho các cuộc đối đầu. Ngư dân Việt Nam là ngư dân thật, những người lao động thật sự trên biển cả… Mặc những lời hoa mỹ về hỗ trợ nhiên liệu và những vật dụng khác, họ hoàn toàn đơn độc giữa biển khơi, đối mặt với một lực lượng hải quân được trang bị tận răng, với những binh sĩ tàn bạo được lệnh uy hiếp họ và coi họ là kẻ thù. Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, cả kinh tế gia đình, tương lai con cái, những người anh hùng bình thường ấy là những người duy nhất giương cao lá cờ của Việt Nam trên biển cả cuả Tổ quốc bị ngoại bang xâm chiếm. Không có bất cứ lực lượng nào hỗ trợ cho họ: cả lực lượng Biên phòng chỉ bảo vệ bờ biển, lẫn hải quân không dám ra khơi xa, cả không quân. Tôi không thể kìm nổi bất bình khi nghe các diễn từ của những vị lãnh đạo cao cấp, bình yên trong tiện nghi sang trọng, khuyên ngư dân hãy tự bảo vệ lấy mình. Làm sao họ có thể tự bảo vệ khi đối mặt với một bộ máy sẵn sàng nghiền nát tất cả đang chờ họ và hoàn toàn tự do hành động? Họ ở giữa đấu trường, tay không đối mặt với sư tử.

    Ngẩng cao đầu cũng còn có nghĩa là Nhà nước phải bước lên tuyến đầu và nhận lãnh lấy trách nhiệm xã hội của mình trước vô số nạn nhân mà bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát chỉ mới nói đến một phần rất nhỏ. Là phải tổ chức một chế độ đặc biệt ưu tiên hỗ trợ cho những người vợ góa và con cái mồ côi của những ngư dân mất tích trên biển ở Hoàng Sa. Một chế độ cho phép họ sống đàng hoàng không phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của láng giềng hay bạn bè. Đấy sẽ là chút biết ơn tối thiểu đối với những hy sinh và hiểm nguy mà họ gánh chịu. Đấy sẽ là một sự hỗ trợ tinh thần to lớn đối với họ. Tiền không thiếu. Tôi sẽ không kể đến hàng triệu đô la, là tiền đóng thuế của dân, đã biến mất trong những cái túi không đáy của một số doanh nghiệp Nhà nước. Ngẩng cao đầu không phải là một hành động hiếu chiến, đấy là một hành động tự trọng và tự vệ tối thiểu. Ngược lại cúi đầu là khuyến khích sự khinh miệt và gây hấn. Tình hình những tháng vừa qua chứng minh rằng mỗi sự khẳng định kháng cự kiên quyết trước bành trướng Trung Quốc đã tiết chế thái độ của họ trên trận địa.

    Đúng là đám lãnh đạo đã thả những con sói ra trên các phương tiện thông tin mà họ điều khiển. Đe dọa và cả kêu gọi chiến tranh đã được tung ra. Nhưng bạo lực công khai, kể cả cái gọi là “cây gậy nhỏ” chưa bao giờ bộc lộ. Vì sao? Đơn giản là vì Trung Quốc không thể tự cho phép một cuộc phiêu lưu quân sự đầy hiểm nguy đối với Việt Nam hay với nước nào khác. 2012 không phải là 1979! Một mặt, một cuộc xung đột vũ trang, dù hạn chế là khá hấp dẫn đối với những con diều hâu ở Bắc Kinh: nó cho phép họ đánh lạc hướng dư luận ngày càng bất bình vì tham nhũng, cưỡng chế đất đai của nông dân, đàn áp, bất bình đẳng xã hội khổng lồ, phá hoại môi trường… bằng một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Nhưng mặt khác, một cuộc xâm lược quân sự chắc chắn sẽ giáng một đòn kìm hãm nặng nề, thậm chí một cú chấm dứt định mệnh đối với phát triển kinh tế, là cái đảm bảo thật sự duy nhất cho ổn định chính trị. Đấy sẽ là khởi đầu của kết thúc chế độ. Sẽ tạo ra một cơ hội đặc biệt để gắn kết lâu dài mặt trận liên minh đang hình thành giữa ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Nga. Ngay cả các nước châu Âu cũng sẽ công khai vào cuộc! Không, Trung Quốc chẳng được lợi chút gì khi dùng vũ lực bất hợp pháp. Nó quá cần thế giới. Nó quá cần hòa bình. Đấy là “Đại cục” của Bắc Kinh và những người lãnh đạo của họ quá biết điều đó.

    Vậy thì thưa các ngài hãy thôi đi chuyện ngăn chúng tôi thở vì lo sợ các nhà lãnh đạo Trung Hoa buộc tội các ngài cướp mất ôxy của họ! Hãy nắm lấy lại cái la bàn đã quá nhiều lần bị lạc mất. Hãy có được thái độ xứng đáng với những khẳng định chủ quyền của chúng ta, bên cạnh những người bạn của chúng ta trên toàn cầu.

    Sẽ khiến cho người láng giềng to lớn của chúng ta nể trọng ta hơn, để mà xây dựng một nền hòa bình chân chính bền vững mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều rất cần.

    Lý Sơn, ngày 4/ 6/ 2012

    A. N. – H. C. Q.

    Rất trân trọng ý kiến này của ông Hồ Cương Quyết.
    Tôi hoàn toàn ủng hộ ông HCQ về toàn bộ nội dung bài viết này.

    Cám ơn bác Khách qua đường đã đưa lên.

    Nguyễn Jung

    Trương Nhân Tuấn viết:

    Điều làm người ta bất mãn là thái độ hiện nay của nhà cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam như bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; hoặc các thái độ ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí, nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km. Hành động phản đối gọi là "kịch liệt" lắm của Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ở các tuyên bố suông. Trong khi đó, một mặt, các chiến hạm của Trung Quốc, ngụy trang dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, để khủng bố ngư dân Việt Nam và mặt khác, hàng năm, Bắc Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra lệnh cấm biển vì lý do quân sự: hải quân Trung Quốc diễn tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho đời sống của ngư dân Việt Nam đảo lộn, hầu hết lâm vào cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà phía Việt Nam vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.

    Bởi vì, một cách để chứng minh chủ quyền của quốc gia ở một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là áp đặt được quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm biển của Trung Quốc được ngư dân Việt Nam "thi hành", như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh cá tại các vùng biển do Trung Quốc cấm, cho dầu qua hình thức cưỡng bức, điều này cũng hàm ý Việt Nam chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức Việt Nam mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền thuộc về Trung Quốc.

    Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho Việt Nam.

    Sau đây là lời của ông André Menras – Hồ Cương Quyết trong bài Từ Lý Sơn, nắm lấy lại la bàn (http://www.boxitvn.net/bai/37702)

    Nhưng còn các nhà cầm quyền trung ương thì sao?

    Về điểm này tôi xin thú thật là tôi khá lo lắng và quả thật tôi nghĩ rằng một số trung tâm quyền lực cần một cái la bàn bởi vì họ đang thả mặc cho sóng gió và không ai biết họ định đưa con thuyền đến đâu.

    Tôi biết chắc là Trung Quốc sẽ tiếp tục khủng bố ngư dân Bình Châu và Lý Sơn, chúng sẽ tiếp tục đối xử tàn tệ với họ, cướp thuyền cá của họ khiến họ tan gia bại sản bởi chúng muốn họ bỏ trống biển và để cho ngư dân Trung Quốc tha hồ tự do trên vùng biển ấy. Đấy là một sự thật. Nhưng khi tôi phát biểu những lo lắng của mình, thì câu trả lời chính thức luôn luôn là: “Không nên làm mất lòng Trung Quốc, họ quá mạnh; họ có thể dùng bạo lực, có thể phát động chiến tranh.” Vậy nên, nếu ta muốn có hòa bình, thì phải tránh tất cả những gì những gì khiến Trung Quốc không bằng lòng. Tức: đừng chiếu phim Hoàng Sa Việt Nam, nỗi đau mất mát: Sự thật trong phim này quá gay gắt sẽ làm Trung Quốc nổi giận. Nhất là đừng nói chuyện chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã giúp ông Lê Vinh, người bị hải quân Trung Quốc cướp mất tàu, 555 triệu đồng để ông có thể mua một chiếc tàu mới. Lộ chuyện ấy ra sẽ khiến người Trung Quốc căm ghét ông Lê Vinh và họ sẽ thủ tiêu ông ấy trong lần ra khơi sau. Mọi sự phải giữ kín trong nội bộ ta thôi, thậm chí phải tuyệt mật. Đối với người Trung Quốc việc ta giúp ngư dân là phạm tội và “người-Trung-Quốc-cái-gì-cũng-biết-và-ở-đâu-cũng-có-mặt” sẽ tiến hành những hành động khủng bố, trực tiếp trên biển, nhưng còn cả trên mặt trận kinh tế nữa… Cho nên: im lặng!

    Duy nhất được phép là những phản đối lặp đi lặp lại của người phát ngôn Bộ Ngoại giao mỗi lần có gây hấn, mà Bắc Kinh chẳng thèm lập tức phản bác. Trong khi đó tình hình ngày càng xấu đi. Trung Quốc củng cố các căn cứ hành chính và quân sự của họ ở Hoàng Sa. Họ tấn công các tàu thuyền Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ đưa tàu quân sự của họ bảo vệ ngư dân của họ cướp bóc vùng biển mà Philippines đòi chủ quyền. Họ uy hiếp hạm đội Ấn Độ …

    Khi các công dân Việt Nam, dù thiếu thông tin, quyết định phản ứng một cách hòa bình, xuống đường, viết các bài phản đối, thì liền bị đàn áp, nhiều khi nặng nề, đến bị bỏ tù. Tôi không thể không nhớ lại cách đây đúng một năm, ngày 5/6/2011, tôi và các bạn từng tranh đấu trong phong trào phản chiến ngày trước và nhiều bạn trẻ đã cùng xuống đường trong tinh thần ôn hòa để phản đối hành động cắt cáp của Trung Quốc đối với tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Sau đó, đã có thêm 10 lần xuống đường của người dân để phản đối Trung Quốc gây hấn. Những cuộc bày tỏ lòng yêu nước một cách tuyệt đối hòa bình ấy đã gặp không ít chuyện đáng giận từ lối hành xử lúng túng, đánh đập thô bạo, bắt bớ của những người nhân danh chính quyền nữa. Ở đây, có một nghịch lý ái quốc thật lạ lùng của nhà cầm quyền: để tránh cho nhân dân mình khỏi ăn dùi cui ngoại bang, chính họ phải cho đồng bào mình ăn đòn! Chưa bao giờ người Việt ta lại được tự phục vụ tuyệt đến thế!

    Các nhà cầm quyền bảo hãy tin ở chúng tôi. Chúng tôi thương lượng ở cấp cao nhất. Tôi muốn hỏi: Có thể nói cho tôi biết đến nay những cuộc thương lượng rất bí mật ấy đã dẫn tới đâu? Đã mang lại kết quả gì tích cực cho nước Việt Nam, cho nhân dân Việt Nam? Trung Quốc có bao giờ dù chỉ một lần nói lên một lời lấy làm tiếc là đã đánh đập, nhấn chìm, bỏ tù, làm cho sạt nghiệp các ngư dân Việt Nam mà ta có thể tính con số lên đến hơn một nghìn người trong mười năm gần đây? Không hề! Trái lại họ càng gia tăng gây hấn, ngăn cấm ngư dân Việt Nam cùng lúc ngư dân Trung Quốc trên hàng chục tàu thuyền xuất hiện gần bờ biển Việt Nam. Trung Quốc có chịu từ bỏ “đường lưỡi bò” bành trướng muốn xâm chiếm 80% Biển Đông, vốn là tài sản chung của các nước ven bờ trong đó không có Bắc Kinh? Không hề! Trái lại, họ không ngừng rêu rao các tham vọng chủ quyền của họ mỗi khi có cơ hội và triển khai chiến lược chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự để đơn phương áp đặt chúng trên bình diện khu vực và quốc tế. Từ năm 2002 các cuộc thương lượng ở cấp cao có đưa Bắc Kinh trở lại tôn trọng DOC mà họ đã ký? Không hề! Cả những cuộc thương lượng ấy lẫn những cuộc thăm viếng “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cả những đường dây điện thoại gọi là nóng không ngăn được Trung Quốc tiến tới, gây hấn, dữ dằn hay lén lút hơn. Đấy là sự thật. Kiên nhẫn, im lặng, chờ đợi, “khéo léo”, chẳng gì đẩy lùi được mối hiểm nguy. Trái lại, điều đó lại tạo điều kiện cho Trung Quốc lặng lẽ chiếm lĩnh trận địa. Ta càng lùi, họ càng lấn tới. Ngôn ngữ nước đôi “16 chữ vàng” với lại “4 tốt” và những phản đối ngoại giao đã thành lệ chỉ làm hại Việt Nam. Một số lãnh đạo Việt Nam thăm Trung Quốc, thường là sau khi dư luận Việt Nam có phản ứng bất bình, hòa giọng với lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố: “Đừng để cho các lực lượng phản động chia rẽ chúng ta”. Nhưng khi Trung Quốc tấn công ngư dân Việt Nam thì bọn phản động ở đâu? Đã đến lúc chấm dứt cái trò ngôn ngữ nước đôi đó đi, đừng che giấu bất cứ sự thật nào bởi vì điều đó phá vỡ, làm suy giảm hay gây phẫn nộ dư luận công chúng trong nước, đánh lạc hướng các bạn bè của Việt Nam trên thế giới, kìm hãm các liên minh mà Việt Nam cần để tồn tại. Ở Pháp tôi đã gặp nhiều lãnh tụ cộng sản hay các đảng cánh tả không hề biết có các cuộc gây hấn của Trung Quốc chống Việt Nam. Trong những điều kiện đó làm sao có được sự ủng hộ của họ? Làm sao dộng viên được toàn bộ giới trẻ Việt Nam để họ sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc khi không có bất cứ chương trình quốc gia nào về lịch sử và địa lý trình bày một chương nào về Hoàng Sa và Trường Sa? Có những sự lãng quên cực kỳ vô trách nhiệm và thậm chí đáng nghi ngờ.

    Những sự im lặng, chờ đợi, sợ hãi, cấm doán ấy, mà ta không biết đích xác nguồn gốc, là hết sức nguy hiểm cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Ai cũng biết – và nhân dân Việt Nam càng biết hơn ai hết – rằng càng lùi bước mãi trước một kẻ xâm lược lớn mạnh và quyết đoán thì cuối cùng sẽ bị đẩy vào chân tường. Và khi đã áp lưng vào tường rồi, thì đã quá muộn: không còn đường lui và tránh được tai họa nữa. Thương lượng với Hitler, cúi đầu trước y bằng hiệp ước Munich không ngăn được y xâm chiếm châu Âu hai năm sau đó! Tôi sợ những khoảnh khắc kinh hoàng ấy vì tôi đã từng nhìn thấy chiến tranh, tôi yêu quý hòa bình hơn bất cứ điều gì khác. Đấy là lý do tôi trả lời những người im lặng và khuất phục nhân danh hòa bình rằng thái độ của họ làm tăng nguy cơ xâm lược và chiến tranh. Phương cách duy nhất để tránh cuộc đối đầu chết người cho cả nhân dân Việt Nam lẫn nhân dân Trung Quốc là ngẩng cao đầu. Nắm lấy lại la bàn của một tinh thấn ái quốc chân chính, song quả quyết tự vệ. Bình tâm, và đầy phẩm cách. Cùng lúc với việc thông báo những sự kiện tích cực giữa hai nước, phải dũng cảm tố cáo các cuộc xâm lấn, tất cả các cuộc xâm lấn, một cách khách quan. Tố cáo với trong nước cũng như ngoài nước. Phải bảo vệ ngư dân của mình như Trung Quốc bảo vệ ngư dân của họ. Thực sự bảo vệ ngư dân bằng hỗ trợ quân sự. Liên tục, thường xuyên. Ngư dân Việt Nam không giống như ngư dân mà Trung Quốc gửi đến những khu vực tranh chấp. Đấy không phải là những ngư dân ngụy trang, những binh lính được huấn luyện và trang bị vũ khí, sẵn sàng cho các cuộc đối đầu. Ngư dân Việt Nam là ngư dân thật, những người lao động thật sự trên biển cả… Mặc những lời hoa mỹ về hỗ trợ nhiên liệu và những vật dụng khác, họ hoàn toàn đơn độc giữa biển khơi, đối mặt với một lực lượng hải quân được trang bị tận răng, với những binh sĩ tàn bạo được lệnh uy hiếp họ và coi họ là kẻ thù. Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, cả kinh tế gia đình, tương lai con cái, những người anh hùng bình thường ấy là những người duy nhất giương cao lá cờ của Việt Nam trên biển cả cuả Tổ quốc bị ngoại bang xâm chiếm. Không có bất cứ lực lượng nào hỗ trợ cho họ: cả lực lượng Biên phòng chỉ bảo vệ bờ biển, lẫn hải quân không dám ra khơi xa, cả không quân. Tôi không thể kìm nổi bất bình khi nghe các diễn từ của những vị lãnh đạo cao cấp, bình yên trong tiện nghi sang trọng, khuyên ngư dân hãy tự bảo vệ lấy mình. Làm sao họ có thể tự bảo vệ khi đối mặt với một bộ máy sẵn sàng nghiền nát tất cả đang chờ họ và hoàn toàn tự do hành động? Họ ở giữa đấu trường, tay không đối mặt với sư tử.

    Ngẩng cao đầu cũng còn có nghĩa là Nhà nước phải bước lên tuyến đầu và nhận lãnh lấy trách nhiệm xã hội của mình trước vô số nạn nhân mà bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát chỉ mới nói đến một phần rất nhỏ. Là phải tổ chức một chế độ đặc biệt ưu tiên hỗ trợ cho những người vợ góa và con cái mồ côi của những ngư dân mất tích trên biển ở Hoàng Sa. Một chế độ cho phép họ sống đàng hoàng không phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của láng giềng hay bạn bè. Đấy sẽ là chút biết ơn tối thiểu đối với những hy sinh và hiểm nguy mà họ gánh chịu. Đấy sẽ là một sự hỗ trợ tinh thần to lớn đối với họ. Tiền không thiếu. Tôi sẽ không kể đến hàng triệu đô la, là tiền đóng thuế của dân, đã biến mất trong những cái túi không đáy của một số doanh nghiệp Nhà nước. Ngẩng cao đầu không phải là một hành động hiếu chiến, đấy là một hành động tự trọng và tự vệ tối thiểu. Ngược lại cúi đầu là khuyến khích sự khinh miệt và gây hấn. Tình hình những tháng vừa qua chứng minh rằng mỗi sự khẳng định kháng cự kiên quyết trước bành trướng Trung Quốc đã tiết chế thái độ của họ trên trận địa.

    Đúng là đám lãnh đạo đã thả những con sói ra trên các phương tiện thông tin mà họ điều khiển. Đe dọa và cả kêu gọi chiến tranh đã được tung ra. Nhưng bạo lực công khai, kể cả cái gọi là “cây gậy nhỏ” chưa bao giờ bộc lộ. Vì sao? Đơn giản là vì Trung Quốc không thể tự cho phép một cuộc phiêu lưu quân sự đầy hiểm nguy đối với Việt Nam hay với nước nào khác. 2012 không phải là 1979! Một mặt, một cuộc xung đột vũ trang, dù hạn chế là khá hấp dẫn đối với những con diều hâu ở Bắc Kinh: nó cho phép họ đánh lạc hướng dư luận ngày càng bất bình vì tham nhũng, cưỡng chế đất đai của nông dân, đàn áp, bất bình đẳng xã hội khổng lồ, phá hoại môi trường… bằng một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Nhưng mặt khác, một cuộc xâm lược quân sự chắc chắn sẽ giáng một đòn kìm hãm nặng nề, thậm chí một cú chấm dứt định mệnh đối với phát triển kinh tế, là cái đảm bảo thật sự duy nhất cho ổn định chính trị. Đấy sẽ là khởi đầu của kết thúc chế độ. Sẽ tạo ra một cơ hội đặc biệt để gắn kết lâu dài mặt trận liên minh đang hình thành giữa ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Nga. Ngay cả các nước châu Âu cũng sẽ công khai vào cuộc! Không, Trung Quốc chẳng được lợi chút gì khi dùng vũ lực bất hợp pháp. Nó quá cần thế giới. Nó quá cần hòa bình. Đấy là “Đại cục” của Bắc Kinh và những người lãnh đạo của họ quá biết điều đó.

    Vậy thì thưa các ngài hãy thôi đi chuyện ngăn chúng tôi thở vì lo sợ các nhà lãnh đạo Trung Hoa buộc tội các ngài cướp mất ôxy của họ! Hãy nắm lấy lại cái la bàn đã quá nhiều lần bị lạc mất. Hãy có được thái độ xứng đáng với những khẳng định chủ quyền của chúng ta, bên cạnh những người bạn của chúng ta trên toàn cầu.

    Sẽ khiến cho người láng giềng to lớn của chúng ta nể trọng ta hơn, để mà xây dựng một nền hòa bình chân chính bền vững mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều rất cần.

    Lý Sơn, ngày 4/ 6/ 2012

    A. N. – H. C. Q.

    Vô hiệu hóa cái công hàm 1958 viết:
    Việt Mường viết:
    Nói gì thì nói cái Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là phản chủ quyền. Rất nhiều người cho rằng tuyên bố (công hàm) của ông Đồng là không có giá trị pháp lý vì ông ấy chỉ làm thủ tướng mà chưa được Quốc hội phê chuẩn. Nhưng khi ông Dũng phát biểu khẳng định chủ quyền thì lại được mọi người viện dẫn để nói rằng chúng ta có chủ quyền và được Thủ tướng Dũng tuyên bố rõ ràng. Sao vô lý quá vậy?. Ông Dũng hay ông Đồng đều là thủ tướng, các tuyên bố về chủ quyền của các ông ấy đều chưa được Quốc hội phê chuẩn mà sao ông Dũng nói thì có lý mà ông Đồng nói thì không có lý (?), hoàn cảnh nào thì hai ông đó cũng là người VN cả.

    HS-TS là của VN, không cho phép liều lĩnh về pháp lý để mất chủ quyền, việc cần làm thì có nhiều nhưng việc cần làm càng sớm càng tốt là vô hiệu hóa cái công hàm khốn nạn kia đi. Không thể để cái tư duy tự ru ngủ mà quên nó vì nó quá nhiều rủi ro.

    Chính vì muốn vô hiệu hóa cái công hàm 1958 khốn nạn kia đi mà nhiều người mới lý luận là nó không có giá trị pháp lý đó bạn Việt Mường. Đối với quốc tế, gọi là "công hàm không giá trị pháp lý" hay hơn và chính xác hơn gọi là công hàm bán nước.

    Công hàm 1958 nêu rõ "chính phủ nước VNDCCH". Hồ Chí Minh lúc đó nắm hai chức vụ trong chính phủ là chủ tịch nước và bộ trưởng bộ ngoại giao. Ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm lớn nhất đối với cái công hàm 1958 không có giá trị pháp lý này

    Trích dẫn:
    Theo HP 1946 :

    Điều thứ 44

    Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.

    Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.

    Để thấy tại sao lý lẽ cho rằng Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 là VI HIẾN đối với Hiến pháp 1946 của VNDCCH thực ra thiếu chặt chẽ và không có giá trị, bởi vì chính cái Hiến pháp 1946 này, theo luật học, tự nó là đã không có giá trị pháp lý do mắc phải một số HÀ TÌ, theo ý kiến của luật sư Trần Thanh Hiệp trong bài dưới đây:

    Phân tích giá trị của bản hiến pháp 1946 của Việt nam

    (Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyendaiviet2008/article?mid=11&fid=-1 )

    2005.09.17
    Trần Thanh Hiệp - Nguyễn An

    Thời gian gần đây dư luận ở trong nước từ nhiều phía, thân cũng như không thân chính quyền, đã bàn luận rất nhiều về bản Hiến pháp 1946 ra đời cách đây trên nửa thế kỷ và đã hết hiệu lực từ cuối thập niên 1950. Nhân dịp năm nay kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9, Giáo sư Phạm Duy Nghĩa Đại học Quốc gia Hà Nội, khi được báo Tuổi Trẻ online phỏng vấn, đã tuyên bố rằng bản hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam.

    • Tải xuống để nghe

    Để bàn sâu thêm về ý kiến này, Nguyễn An của Đài Á Châu Tự Do đã trao đổi với Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền ở Pari về Hiến pháp nói chung và Hiến pháp 1946 nói riêng. Luật sư Hiệp là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về chủ thuyêt Hiến trị cũng như về các Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp trị.

    Về quan điểm của giáo sư Nghĩa, luật sư Hiệp cho rằng có thể bổ túc biểu văn của ông Nghĩa ít ra về hai điểm. Một là giá trị pháp lý của Hiến pháp năm 1946, và hai là cần phân biệt cho rõ, nói luật hay nói chính trị. Trứơc hết, ông Hiệp phân tích về giá trị pháp lý của bản hiến pháp năm 1946.

    Trần Thanh Hiệp: Khi nói bản Hiến pháp năm 1946 vẫn còn nguyên giá trị là nói còn giá trị về mặt chính trị. Nhưng về mặt pháp lý thì không thể nói nó còn nguyên giá trị được. Tại vì bản Hiến pháp năm 1946 chưa bao giờ có giá trị pháp lý cả. Muốn có giá trị pháp lý thì nó phải hội đủ những điều kiện pháp định cả về hình thức lẫn nội dung.

    Không nên nghĩ sai lầm rằng chỉ có nội dung của Hiến pháp mới quan trọng, còn hình thức thì đại khái thế nào xong thôi. Trên bình diện pháp lý, nếu một Hiến pháp có hà tì về hình thức thì đương nhiên nó bị coi là vô hiệu, tức cũng như chưa hề bao giờ có bản Hiến pháp đó cả.

    Hà tì của Hiến pháp 1946

    Nguyễn An: Xin ông nói rõ về điều ông gọi là hà tì của hiến pháp năm 1946. Hà tì là gì, và hà tì của Hiến pháp 1946 là gì?
    Trần Thanh Hiệp: Hà tì là một thuật ngữ luật học không thông dụng ở ngoài đời dưới dạng từ kép hán việt. Nhưng hai từ đơn chữ hán “hà” và “tì” đã được việt hoá thì rất thông dụng thí dụ “khoai hà”, là khoai bị sâu ăn, hay “ngựa hà”, là ngựa mà chân bị sâu ăn. Còn “tì” là vết xấu như có tì vết.

    Trở lại nghĩa gốc của tữ kép chữ hán “hà tì” thì “hà” là ngọc có vết, nứt, sứt mẻ, không được toàn bích và “tì”, là những chỗ sai lầm, là vết xấu. Trong thuật ngữ luật học, hà tì dùng theo nghĩa bóng, và nói hà tì là nói một vật, một hành vi pháp lý nào đó, có khuyết điểm, khuyết tật, thiếu sót, thiếu điều kiện, nên không có giá trị, hay không được coi là hợp lệ v.v…

    Hiến pháp năm 1946 có một số hà tì về hình thức, ở đây tôi chỉ nói về một hà tì thôi, đó là hà tì nó chưa được ban hành (promulguer, to promulgate), thuật ngữ cộng sản trước đây gọi là “ban bố”, nay gọi là “công bố”.

    Hiến pháp năm 1946, nơi điều 49, đoạn (đ) định rằng quyền ban hành các đạo luật thuộc về Chủ tịch nước Việt Nam DCCH, còn điều 31 thì buộc rằng các luật đã được quốc hội (Nghị viện) thông qua phải được Chủ tịch nước ban hành (ban bố) chậm nhất là 10 ngày sau khi được thông tri.

    Trong thời hạn này, Chủ tịch có quyền yêu cầu quốc hội thảo luận lại. Nếu quốc hội sau khi thảo luận lại vẫn không sửa đổi thì Chủ tịch bắt buộc phải ban hành. Như vậy, ban hành không phải chỉ là cho đăng chính thức luật lên công báo mà là một thủ tục để xác nhận rằng luật đã được biểu quyết một cách hợp lệ và kể từ lúc nó được ban hành, luật bắt đầu có hiệu lực, mọi người kể cả công quyền phải tuân theo và áp dụng.

    Nếu luật không được ban hành thì không ai bắt buộc phải tuân thủ. Hiến pháp 1946 là một đạo luật không được ban hành, không ở trong thời hạn 10 ngày, cũng không ngoài thời hạn này vì có lý do bất khả kháng. Vậy về mặt pháp lý, bản Hiến pháp năm 1946 phải coi như không có. Nói nó còn giữ nguyên giá trị là đưa ra một lý luận về mặt chính trị, chứ không phải để khẳng định rằng một bản văn pháp lý không được ban hành vẫn có giá trị pháp lý.

    Là luật hay chính trị?

    Nguyễn An: Xin bàn tiếp về về điểm Hiến pháp là luật hay là chính trị?

    Trần Thanh Hiệp: Thật ra trong Hiến pháp có cả chính trị lẫn luật nhưng khi chính trị đã được luật hoá để trở thành Hiến pháp thì luật quay trở lại chi phối chính trị và từ đó nói Hiến pháp là phải nói luật. Giữa chính trị và luật ở trong Hiến pháp có quan hệ biện chứng.

    Chính trị và luật ảnh hưởng qua lại để điều lý lẫn nhau trong khuôn khổ một cơ chế có tên gọi là Hiến trị (constitutionnalisme, constitutionalism) chứ không phải là “pháp quyền”. “Pháp quyền” là một thuật ngữ luật học mà nhà nứơc cộng sản Việt Nam mới đặt ra để gọi tên một chế độ trong đó luật chỉ là công cụ cầm quyền của đảng và Hiến pháp là một kỹ thuật pháp lý để thể chế hoá đuờng lối của Đảng.

    Theo tôi, bây giờ nếu muốn đánh giá một cách khách quan Hiến pháp 1946 thì tất phải rút ra hai kết luận sau đây. Thứ nhất, về mặt luật. Nếu đặt nó vào thời điểm cuối năm 1946, lúc nó được thông qua mà xét thì Hiến pháp năm 1946 không có giá trị pháp lý vì đã không được ban hành.

    Mặc dù vậy, chính quyền cộng sản sau đó vẫn cứ tiếp tục quy chiếu vào bản văn phải đựơc coi là vô hiệu này để mượn danh nghĩa “Ban Thường vụ” làm ra sắc luật, sắc lệnh mà cai trị. Cho đến đầu thập niên 1950, tuy vẫn chưa bầu lại quốc hội nhưng đã làm ra đạo luật cải cách ruộng đất là môt đạo luật vi hiến từ tinh thần đến văn tự, mà sự áp dụng đã thô bạo dẫm đạp lên công lý như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã vạch ra.

    Nếu chuyển dịch nó vào hoàn cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa đương hành để áp dụng nó trong “nguyên trạng” thì nhất định không thể có chỗ đứng cực quyền “lãnh đạo” cho Đảng Cộng sản như bây giờ được.

    Nguyễn An: Xin ông giải thích thêm về điểm này: tại sao nếu áp dụng nó trong “nguyên trạng” thì sẽ không thể có chỗ đứng cực quyền lãnh đạo cho đảng Cộng sản như bây giờ được?

    Trần Thanh Hiệp: Nguyên trạng là một từ kép hán việt, hiểu một cách nôm na là “nguyên con”. Nếu mang toàn văn bản Hiến pháp năm 1946, không thêm bớt, sửa chữa một chữ hay một điều khoản nào mà thay vào Hiến pháp đương hành năm 1992 để áp dụng thì Đảng Cộng sản Việt Nam không có bất cứ một quyền nào trong tất cả mọi quyền hiện nó đang có để lãnh đạo - thật ra là cai trị - cả nước, cả xã hội như hiện nay.

    Vì bản Hiến pháp năm 1946 trong lời nói đầu không hề nói tới cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” và trong nội dung cũng không có điều nào giống điều 4 của Hiến pháp năm 1992. Vậy không có cơ sở pháp lý để cho Đảng Cộng sản trực tiếp hay gián tiếp độc chiếm quyền hành.

    Về mặt chính trị

    Nguyễn An: Bây giờ xin luật sư nói tiếp về điểm thứ hai.

    Trần Thanh Hiệp: Thứ hai, về mặt chính trị. Phải công nhận một ưu điểm cho Hiến pháp năm 1946 là nó đã phản ánh rất phong phú tinh thần cộng hòa. Còn về mặt dân chủ thì cũng chỉ… thường thường bậc trung, so với những phát kiến của hai cuộc cách mạng tư sản dân quyền cuối thế kỷ XVIII ở Mỹ và ở Pháp.

    Nhưng so với ba bản Hiến pháp kế tiếp là các Hiến pháp năm 1959, năm 1980 và năm 1992 thì Hiến pháp năm 1946 có hai nét ưu việt, đó là không chủ trương đấu tranh giai cấp và tôn trọng quyền tư hữu của người dân. Ưu việt là giữa người Việt Nam với nhau thôi chứ người dân các nước khác, phương Tây cũng như phương Đông, đã đi xa hơn thế nhiều từ lâu rồi.

    Nếu chúng ta không dễ dàng hài lòng về thân phận tụt hậu đáng tủi hổ của đất nước, trải qua 60 năm hy sinh gian khổ, thì nên thành thật nhìn nhận rằng Hiến pháp năm 1946 chỉ là một “bánh vẽ dân chủ” mà vẻ hấp dẫn chưa tàn phai, thay vì đánh giá cao nó như khuôn vàng thước ngọc cho tương lai.

    Nói như thế không phải là quá, vì nếu môn học luật hiến pháp so sánh được giảng dạy ở Việt Nam và không bị tinh thần giáo điều chỉ đạo thì chắc cũng sẽ đi tới kết luận như thế.

    Trong phần thứ hai của cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của đài Á châu tự do và Luật sư Trần Thanh Hiệp, ông Hiệp đã phân tích về giá trị pháp lý, giá trị luật học và giá trị chính trị của bản hiến pháp năm 1946.

    Trong buổi phát thanh tới, Luật sư Hiệp sẽ so sánh các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 của Việt Nam, đồng thời phân tích một số vấn đề liên quan đến Hiến pháp. Mong quý thính giả đón nghe.

    Cũng xin thưa rằng quan điểm của luật sư Trần Thanh Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của ban Việt ngữ đài Á châu tự do, và chúng tôi mong sẽ nhận đựơc thêm ý kiến đóng góp về vấn đề này.

    http://vn.360plus.yahoo.com/nguyendaiviet2008/article?mid=11&fid=-1

    Việt Mường viết:
    Nói gì thì nói cái Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là phản chủ quyền. Rất nhiều người cho rằng tuyên bố (công hàm) của ông Đồng là không có giá trị pháp lý vì ông ấy chỉ làm thủ tướng mà chưa được Quốc hội phê chuẩn. Nhưng khi ông Dũng phát biểu khẳng định chủ quyền thì lại được mọi người viện dẫn để nói rằng chúng ta có chủ quyền và được Thủ tướng Dũng tuyên bố rõ ràng. Sao vô lý quá vậy?. Ông Dũng hay ông Đồng đều là thủ tướng, các tuyên bố về chủ quyền của các ông ấy đều chưa được Quốc hội phê chuẩn mà sao ông Dũng nói thì có lý mà ông Đồng nói thì không có lý (?), hoàn cảnh nào thì hai ông đó cũng là người VN cả.

    HS-TS là của VN, không cho phép liều lĩnh về pháp lý để mất chủ quyền, việc cần làm thì có nhiều nhưng việc cần làm càng sớm càng tốt là vô hiệu hóa cái công hàm khốn nạn kia đi. Không thể để cái tư duy tự ru ngủ mà quên nó vì nó quá nhiều rủi ro.

    Chính vì muốn vô hiệu hóa cái công hàm 1958 khốn nạn kia đi mà nhiều người mới lý luận là nó không có giá trị pháp lý đó bạn Việt Mường. Đối với quốc tế, gọi là "công hàm không giá trị pháp lý" hay hơn và chính xác hơn gọi là công hàm bán nước.

    Công hàm 1958 nêu rõ "chính phủ nước VNDCCH". Hồ Chí Minh lúc đó nắm hai chức vụ trong chính phủ là chủ tịch nước và bộ trưởng bộ ngoại giao. Ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm lớn nhất đối với cái công hàm 1958 không có giá trị pháp lý này

    Trích dẫn:
    Theo HP 1946 :

    Điều thứ 44

    Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.

    Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.

    Trích cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của Greg Austin:

    Để quý bạn đọc trong nước tiện theo dõi chủ đề kế thừa quốc gia này, tôi xin mạo muội cố gắng tạm dịch vài đoạn tiếng Anh của Tiến sĩ Greg Austin ra tiếng Việt như sau. Vì khả năng Anh ngữ của tôi còn rất hạn chế, nếu có gì sơ xuất mong quý vị niệm tình thứ lỗi và sửa chữa giùm cho. Xin thành thật cám ơn quý vị.

    Kế thừa quốc gia

    Ngay cả khi tòa án quốc tế nhận định là trường hợp của Quần đảo Hoàng Sa xứng đáng được áp dụng tiêu chuẩn quyết đoán về quyền dân tộc tự quyết, và theo đó cho phép khôi phục lại hay cải thiện lại chủ quyền lãnh thổ của nước An Nam trên Quần đảo Hoàng Sa trước năm 1931, thì cũng còn phải cần chứng minh là dân tộc Việt Nam sau khi đã lấy lại được quyền tự chủ, các chủ quyền về lãnh thổ này đã được chuyển giao lại hay được tiếp nhận bởi những chế độ [của VN] và không bao giờ từ bỏ cả. Như sẽ thảo luận sau đây, có thể nói mạnh miệng rằng các chủ quyền này đã bị từ khước, tuy nhiên điều này dựa rất nhiều vào sự giải thích về sự thừa kế quyền lợi và nhiệm vụ của những quốc gia bị chia cắt trong suốt quá trình bị thực dân cai trị, thời kỳ giải thoát khỏi thực dân, thời nội chiến và thời thống nhất.

    Vào năm 1945, nước VNDCCH được thành lập trên miền Bắc của Việt Nam, trong khi nước Pháp tiếp tục cai trị miền Nam như là một bộ phận nhất thể của Liên Bang Pháp, tức là lãnh thổ của Pháp. Vùng đất do Pháp chiếm đóng trong miền Nam đã hoàn thành được sự độc lập với Pháp qua một tiến trình dần dần từ năm 1948 đến năm 1954. Năm 1948, Pháp thừa nhận sự độc lập của Việt Nam liên kết với Liên Bang Pháp. Năm 1949, Chính quyền Bảo Đại ở VN phía nam của Vĩ tuyến 16 độ Bắc được trao trả chủ quyền nội trị hoàn toàn và được phép có một quân đội quốc gia trong khi Pháp vẫn giữ lại quyền ngoại giao. Năm 1950, Chính phủ Bảo Đại đã nhận được gần như trọn quyền kiểm soát về hệ thống ngoại thương và tài chính. Kể từ đầu năm 1951, Chính quyền Bảo Đại bắt đầu ký kết các hiệp ước trong danh nghĩa của nó, bắt đầu gia nhập các cơ quan quốc tế, và được một số nước công nhận. Vào năm 1954, nước Pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho VNCH.

    Năm 1975, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã được thay thế bằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời mà vào năm 1976 đã nhập vào với Chính phủ VN Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) để lập ra Chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa VN (CHXHCNVN). CHXHCNVN đã ám chỉ rằng, khi VNCH như là một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận đã gia nhập vào nước CHXHCNVN thống nhất, VNCH đã đem theo lãnh thổ và những quyền chủ quyền của họ trong việc tranh chấp lãnh thổ. Để cho CHXHCNVN được thành công trong tranh cãi như thế, nước này cần phải chứng minh rằng VNCH là một quốc gia độc lập được thế giới công nhận trước khi sáp nhập chung với VNDCCH vào năm 1976 để lập ra nước CHXHCNVN, do đó đã đem vào cho cái thực thể quốc tế mới tất cả lãnh thổ và chủ quyền về tranh chấp lãnh thổ mà nước VHCH trước đây đã sở hữu. Nếu VNCH không phải là một quốc gia được quốc tế thừa nhận, thì mọi hành động của các nhà chức trách có thẩm quyền của VNCH trong tranh chấp lãnh thổ với một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận khác (thí dụ như VNCH phản đối các hành động của CHNHTH) sẽ không có tý trọng lượng nào cả trên bình diện quốc tế.

    Điều biện luận rằng VNCH là một quốc gia độc lập, được quốc tế công nhận cũng có phần đúng đắn [Ghi chú: nghĩa là có tính thẩm quyền trên mặt pháp lý quốc tế]. Nước này sở hữu tất cả mọi đặc trưng của một quốc gia: một nhân dân thường trực, một lãnh thổ được xác định, một chính quyền, và đủ khả năng tham dự vào những liên hệ với những quốc gia khác. Vào năm 1968, nước VNCH đã được khoảng 60 quốc gia thừa nhận, là thành viên của 12 cơ quan chuyên biệt của Liên Hiệp Quốc, và là thành viên của 30 cơ quan quốc tế. Hai Nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (vào các năm 1952 và 1957) đã diễn tả quốc gia Việt Nam (nước VNCH) như là một quốc gia yêu chuộng hòa bình theo đúng ý nghĩa của Điều 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và, do đó, đủ điều kiện để trở thành hội viên [của LHQ].[94]

    Thế nhưng điều biện luận của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của hai quốc gia trước đây đã hiện hữu thì đã thách đố mọi lương tri và mọi sự kiện chính trị. CHXHCNVN không những chỉ là nước kế tục pháp lý của VNDCCH mà, trên nhiều khía cạnh, chính là chính thể VNDCCH đó nhưng được mang tên khác. Nước VNDCCH đã luôn luôn tuyên bố rằng họ là chính thể hợp pháp duy nhất của toàn thể Việt Nam, bao gồm cả vùng lãnh thổ do VNCH kiểm soát, và quốc tế thừa nhận VNCH hoặc VNDCCH chủ yếu phần lớn dựa trên căn bản là nước này [tức VNCH hoặc VNDCCH] là chính phủ duy nhất hợp pháp của toàn thể VN. Rất ít quốc gia chính thức thừa nhận cả hai chính thể, và sự thừa nhận này trên cơ bản, đã phân rẻ dựa theo tinh thần “phe đảng” với việc các nước trong phe cộng sản thì thừa nhận VNDCCH và các nước không cộng sản thì thừa nhận VNCH.[95]

    Nếu VNDCCH cứ liên tục bác bỏ tính hợp pháp của sự hiện hữu của VNCH, thì CHXHCNVN, chính thể trên cốt yếu chính là một với VNDCCH, sẽ được đặt trên cùng vị trí pháp lý như là CHNDTH đối với hiệu quả của các hành động của chính phủ đối đầu [tức Trung Hoa Dân Quốc, Đài Loan] – như đã được biện hộ bởi tác giả Chiu và được đề cập trên đây. Cũng giống y như việc CHNDTH có thể không được phép tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên đảo Đài Loan, CHXHCNVN cũng có thể bị bác bỏ mọi quyền lợi trên công pháp quốc tế về những lãnh thổ mà nước này đã chưa bao giờ kiểm soát trên thực địa. Trong mọi trường hợp, CHXHCNVN không phải là sự thống nhất [hợp nhất] của VNDCCH và VNCH, mà là sự hợp nhất của VNDCCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam - một sự kiện sẽ làm yếu đi bất cứ sự kế thừa nào của CHXHCNVN về quyền chủ quyền của VNCH.

    Greg Austin
    =============================

    Nguyên văn tiếng Anh :

    State succession

    Even if an international tribunal were to find the circumstances of the Paracel Islands warranted application of the peremptory norm of self-determination, and thereby restored or remedied the territorial rights of the Annamese state in the Paracel Islands before 1931, it would still be necessary to show that after the exercise of self-determination by the Vietnamese people, these rights were transferred to or taken over by the sucessor states, and never surrendered. A strong case can be made that these rights were surrendered, as discussed below, but this depends very much on an interpretation of succession of rights and duties between parts of divided states through the process of colonisation, decolonisation, civil war, and reunification.

    In 1945, the DRV was established in the north of the country, while France continued to rule the south as an integral part of the French Union, that is, as French territory. The French-occupied territory in the south achieved its independence from France by a gradual process from 1948 to 1954. In 1948, France recognised the independence of a Vietnam associated with the French Union. In 1949, the government of Bao Dai in Vietnam south of 16 N was granted full internal sovereignty and permitted to maintain a national army while France effectively retained the foreign affair power. In 1950, the Bao Dai government received virtually full control over its foreign trade and financial apparatus. Beginning in 1951, the Bao Dai government began to sign treaties in its own name, began to join international organisations, and was recognised by a number of states. In 1954, France granted the RVN full independence.[93]

    In 1975, the Government of the Republic of Vietnam (RVN) was replaced by the Provisional Revolutionary Government which joined with the Democratic Republic of Vietnam (DRV) in 1976 to form the Socialist Republic of Vietnam (SRV). The SRV implies that when the RVN as an independent, internationally recognised state joined the unified SRV, the RVN brought with it its territory and rights in territorial disputes. For the SRV to succeed in such a contention, it would have to show the RVN was an internationally recognised, independent state prior to its joining with the DRV in 1976 to form the SRV, thus bringing to the new international entity all the territory and rights in territorial disputes that the former RVN possessed. If the RVN was not an internationally recognised state, then actions of its governing authorities in respect of territory dispute with a recognised independent state (for example, RVN protests at PRC actions) could have no weight on international plane.

    There is some authority for the contention that the RVN was an independent, internationally recognised state. It possessed all the attributes of statehood: a permanent population, a defined territory, a government, and the capacity to enter into relations with other states. The RVN in 1968 had been recognised by about 60 states, was a member of twelve specialised agencies of the United Nations, and was a member of 30 international organisations. Two UN General Assembly resolutions (in 1952 and 1957) described the state of Vietnam (the RVN) as a peace-loving state within the meaning of Article 4 of the UN Charter and, therefore, as eligible for membership.[94]

    Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts. The SRV is not only legally the successor to the DRV but is in many respects the same government by another name. The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN.[95]

    If the DRV continually rejected the legality of the existence of the RVN, then the SRV, as essentially the same government as the DRV, is placed in the same legal position as the PRC with regard to the effect given to actions of the rival government – as argued by Chiu and mentioned above. In as much as the PRC may not be able to claim teritorial sovereignty over Taiwan, the SRV may be denied any benefits in international law over territories it has never physically controlled. In any case, the SRV was not a union of the DRV and RVN, but union of the DRV and the Provisional Revolutionary Government of south Vietnam – a fact which further attenuates any SRV succession to RVN rights.

    Footnotes

    [80] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, pp. 18-19; Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea, pp. 22-23; Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 76-7.
    [81] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, pp. 110-11.
    [82] Samuels, Contest for the South China Sea, p. 77, suggests 1950; David G. Muller, China as a Maritime Power, Westview Press, Boulder CO, 1983, p. 80, suggests 1955; Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 111 suggests 1956.
    [83] Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 78-9.
    [84] ibid. p. 77.
    [85] ibid. p. 78. Samuels cites the ‘Minutes of Sino-Japanese Peace Negotiations’, initialled on 5 March 1952.
    [86] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 114.
    [87] ibid.
    [88] Gerardo M.C. Valero, ‘Spratly Archipelago Dispute: Is The Question of Sovereignty Still Relevant?’, Marine Policy, vol. 18, no. 4, July 1994, p. 331n.
    [89] Compare, Island of Palmas case, p.96.
    [90] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 102.
    [91] S. James Anaya, Indigenous Peoples in International Law, Oxford University Press, New York, 1966, p. 84, citing the Western Sahara case, p. 69.
    [92] Hungdah Chiu, ‘The Question of Taiwan in Sino-American Relations’, in Hungdah Chiu, ed., China and the Taiwan Issue, Praeger, New York, 1979, p. 165.
    [93] See R. Hull and J. Novogrod, Law and Vietnam, Oceana, Dobbs Ferry NY, 1968, pp. 55-6.
    [94] ibid. pp. 57, 64-6. See also Nguyen Huu Tru, Quelques Problèmes de succession d’Etats concernant le Viet-Nam, Etablissements Emile Bruylant, Brussells, 1970, pp. 137-9.
    [95] See R. Hull and J. Novogrod, Law and Vietnam, pp. 56-8.

    Xin được hỏi, các bác ai biết trả lời dùm:
    1/ Trong công ước quốc tế có khái niệm "quần đảo" không?. Quyền chủ quyền (EZZ) của quần đảo được tính thế nào?, hay tính từng đảo riêng rẽ rồi gộp lại?.

    2/ Trong quần đảo Trường Sa có khoảng 100 đảo và bãi cạn, vậy khi chứng minh chủ quyền bằng sự tuyên bố và hiện diện trên đó có phải chứng minh đã tuyên bố và hiện diện trên cả 100 đảo và bãi cạn hay không?. Nếu không thì phải chứng minh thế nào?

    3/ Nếu một vùng nước nằm giữa 2 chủ quyền (khác nhau và giống nhau) nhưng quyền chủ quyền đều không tới thì được giải quyết thế nào? Ai quản lý?.
    (Ví dụ: 2 đảo cách nhau 70km được xác định chủ quyền và quyền chủ quyền của nó chỉ 12 hải lý, tức khoảng 20km, vậy khoảng giữa 30km không thuộc quyền chủ quyền của ai thì ai sẽ quản lý?).

    Nói gì thì nói cái Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là phản chủ quyền. Rất nhiều người cho rằng tuyên bố (công hàm) của ông Đồng là không có giá trị pháp lý vì ông ấy chỉ làm thủ tướng mà chưa được Quốc hội phê chuẩn. Nhưng khi ông Dũng phát biểu khẳng định chủ quyền thì lại được mọi người viện dẫn để nói rằng chúng ta có chủ quyền và được Thủ tướng Dũng tuyên bố rõ ràng. Sao vô lý quá vậy?. Ông Dũng hay ông Đồng đều là thủ tướng, các tuyên bố về chủ quyền của các ông ấy đều chưa được Quốc hội phê chuẩn mà sao ông Dũng nói thì có lý mà ông Đồng nói thì không có lý (?), hoàn cảnh nào thì hai ông đó cũng là người VN cả.

    HS-TS là của VN, không cho phép liều lĩnh về pháp lý để mất chủ quyền, việc cần làm thì có nhiều nhưng việc cần làm càng sớm càng tốt là vô hiệu hóa cái công hàm khốn nạn kia đi. Không thể để cái tư duy tự ru ngủ mà quên nó vì nó quá nhiều rủi ro.

    "Tôi kể anh nghe. Tết năm 74, tiểu đoàn tôi đang nằm ứng chiến ở Phú Bài, Huế, thì Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa. Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Quân Ðoàn I, tiểu đoàn tôi là lực lượng trừ bị của Quân Ðoàn, được lệnh chuẩn bị ra đánh lấy lại Hoàng Sa. Ðơn vị thủy xa của Sư Ðoàn đã từ Sài Gòn ra đến Ðà Nẵng, tiểu đoàn tôi đã ở trong tư thế sẵn sàng, đợi lệnh xuống tàu. Thủy Quân Lục Chiến đi lấy lại Hoàng Sa là đúng «chỉ số» rồi. Gì chứ đánh nhau để bảo toàn lãnh thổ, lính tráng tụi tôi thằng nào cũng háo hức, tuy biết rõ rằng đi là chết, nhưng đánh nhau để giành lại đất nước, từ quan đến lính chúng tôi, thằng nào cũng hăm hở. Nhưng, ngay lúc đó, mặt trận trong nội địa miền Trung cùng lúc nở rộ, những cuộc tấn công lớn của các đơn vị Bắc Việt đã cầm chân chúng tôi, chúng tôi đã không có lệnh xuất quân đến Hoàng Sa."

    Toàn bộ đoạn văn trên chỉ ra việc hải quân Trung Quốc và quân đội miền Bắc có một sự phối hợp quân sự nhịp nhàng dựa trên tinh thần quốc tế vô sản cao độ giữa các quốc gia Cộng sản . Kết quả của cuộc phối hợp quân sự chiến lược thấm đẫm tinh thần quốc tế vô sản đó là Việt Nam mất Hoàng Sa .

    Ông Cao Xuân Huy kể lại trong một buổi nói chuyện với Trần Dao Thủy

    CAO XUÂN HUY:
    Có một điều, khoan hãy nói tôi đinh ninh điều gì. Ngoài ba mươi tuổi, tôi, ở lính hơn bảy năm và ở tù gần năm năm. Những kỷ niệm về chiến trận, những kỷ niệm về tù đày thì nhiều, nhiều lắm. Vui buồn đều có cả. Nhưng điều đáng nhớ nhất lại không ở chuyện đánh trận hay chuyện tù đày, mà lại là chuyện không bảo vệ được lãnh thổ, anh ạ. Tôi kể anh nghe. Tết năm 74, tiểu đoàn tôi đang nằm ứng chiến ở Phú Bài, Huế, thì Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa. Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Quân Ðoàn I, tiểu đoàn tôi là lực lượng trừ bị của Quân Ðoàn, được lệnh chuẩn bị ra đánh lấy lại Hoàng Sa. Ðơn vị thủy xa của Sư Ðoàn đã từ Sài Gòn ra đến Ðà Nẵng, tiểu đoàn tôi đã ở trong tư thế sẵn sàng, đợi lệnh xuống tàu. Thủy Quân Lục Chiến đi lấy lại Hoàng Sa là đúng «chỉ số» rồi. Gì chứ đánh nhau để bảo toàn lãnh thổ, lính tráng tụi tôi thằng nào cũng háo hức, tuy biết rõ rằng đi là chết, nhưng đánh nhau để giành lại đất nước, từ quan đến lính chúng tôi, thằng nào cũng hăm hở. Nhưng, ngay lúc đó, mặt trận trong nội địa miền Trung cùng lúc nở rộ, những cuộc tấn công lớn của các đơn vị Bắc Việt đã cầm chân chúng tôi, chúng tôi đã không có lệnh xuất quân đến Hoàng Sa. Tin tức và hình ảnh về những chiếc tàu của Hải Quân trên đường ra cứu Hoàng Sa bị bắn chìm, những người lính đồn trú ở Hoàng Sa bị Trung Cộng bắt, rồi được trao trả từ tận.. .. bên Tàu, làm chúng tôi thấy nhục. Nhục chứ anh, địa danh nào trong tay Miền Bắc hay Miền Nam thì cũng vẫn là của người Việt Nam, Hoàng Sa bị Trung Cộng chiếm, mà không lấy lại, tôi nghĩ, miền Bắc và cả miền Nam, đều có tội với tổ tiên, với cha ông, dung túng cho đô hộ hay nô lệ Tàu hay Tây thì tội cũng ngang nhau.»Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu», Hoàng Sa còn. «Một trăm năm đô hộ giặc Tây», Hoàng Sa còn. Ông cha ta chèo thuyền, giong buồm mà vẫn bảo vệ được những hòn đảo nhỏ xíu ở tít tận mù khơi. Vậy mà bây giờ, quân đội hai miền tự nhận là thiện chiến nhất nhì thế giới, lại bỏ mặc một phần lãnh thổ lọt vào tay ngoại bang. Tôi hỏi anh chứ, chính anh, anh có thấy nhục không? Một trăm năm, một nghìn năm nữa, hay đến tận bao giờ chúng ta mới lấy lại được Hoàng Sa? Ðã mất, hay sẽ còn mất thêm?

    http://www.hanoiparis.com/construct.php?page=actutxt&idfam=5&idactu=261

    Những thông tin mà tôi trích dẫn là nằm trong tài liệu ở trang web của chính phủ Việt Nam. Ngoài ra bác cũng có thể tìm thấy những thông tin này được ghi trong sách trắng Việt Nam 1981.

    Còn bản copy của văn bản hay công hàm như bác yêu cầu thì tôi không có vì tôi chỉ là dân thường mà thôi.

    Tôi xin dừng tranh luận ở đây cho tới khi những bác bênh vực cho giải pháp của ông TN Tuấn có thể đưa ra được tài liệu chuẩn rằng cách giải quyết đó có cơ sở pháp lý, như tôi yêu cầu.

    thichkhach viết:

    Tớ không tìm thấy bản copie lời tuyên bố chính thức của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phản khánh hành động xâm lược của TQ với 2 quần đảo HS-TS thuộc VNCH.

    Link bác đưa là tài liệu về chủ quyền của VN đối với 2 quần dảo Hoàng Sa, Trường Sa.
    Chứ không phải là một công hàm, một nghị định ngoại giao gửi cho TQ, hay cho Liên Hiệp Quốc, nhằm phản kháng hành vi xâm lược của TQ năm 1974.

    Tớ không tìm thấy bản copie lời tuyên bố chính thức của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phản khánh hành động xâm lược của TQ với 2 quần đảo HS-TS thuộc VNCH.

    Link bác đưa là tài liệu về chủ quyền của VN đối với 2 quần dảo Hoàng Sa, Trường Sa.
    Chứ không phải là một công hàm, một nghị định ngoại giao gửi cho TQ, hay cho Liên Hiệp Quốc, nhằm phản kháng hành vi xâm lược của TQ năm 1974.

    Bác không thể đưa được tài liệu pháp lý cho giải pháp của ông TN Tuấn đúng không? Khi bác không đưa ra được, tranh luận tiếp tục sẽ chỉ là vô nghĩa.

    Những vấn đề khác, bác có thể sang các threads về bài viết của tác giả Nguyễn Thái Linh, bên đó ông Huy cũng đã trả lời những câu hỏi tương tự. Nó không phải là trọng tâm khi đang bàn về giải pháp của ông TN Tuấn nên tôi không muốn nhắc lại ở đây, gây loãng vấn đề.

    Dầu sao thì, chiều lòng bác:

    Ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ; ngày 14-2-1974 tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
    Ngày 5 và 6-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ngày 28-6-1974, tuyên bố tại khoá họp thứ nhất Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 ở Caracas rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.
    Tháng 9-1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới (trước đây đã được đăng ký trong hệ thống các trạm của OMM dưới biểu số 48.860).

    Thông tin có thể tìm trong hai tài liệu dưới đây, một tài liệu độc lập của người nước ngoài, và tài liệu kia là ở trên website của chính phủ Việt Nam.

    http://www.seasfoundation.org/library/doc_download/2-monique-chemillier-ch-quyn-tren-hai-qun-o-hoang-sa-va-trng-sa

    http://www.biengioilanhtho.gov.vn/Media/bbg/News/Archives/vie/chu%20quyen%20tren%202%20quan%20dao%20Hoang%20Sa%20-%20Truong%20sa.pdf

    Khách Qua Đường viết:
    H.T viết:

    - Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ở vị trí là một chính phủ đối lập với chính phủ VNCH trên cùng một lãnh thổ Nam VN, cũng đã ra những tuyên bố cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS và TS sau sự kiện TQ chiếm HS. Các bác có thể gọi CHMNVN là chính phủ "ma", nhưng đó là khía cạnh chính trị, không phải khía cạnh pháp lý.

    Xin ông H.T. vui lòng, nếu có thể, đưa ra bản gốc (có thể kiểm chứng độc lập) của "những tuyên bố cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS và TS sau sự kiện TQ chiếm HS" của cái gọi là "Chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam" để rộng đường dư luận. Xin cám ơn ông trước. Tuy nhiên, cái "Chính quyền Cộng Hòa Miền Nam VN" này chưa bao giờ được thế giới công nhận như là một chính quyền hợp pháp đại diện cho nhân dân miền Nam VN. Nó thật sự là chính quyền ma (phantom government) vi hoàn toàn do VNDCCH nặn ra và giật giây để lừa quốc tế.

    Về giá trị học thuật, thì bà Chemillier-Gendreau hay ông Austin đều là những người có thẩm quyền trong ngành công pháp quốc tế dù ý kiến hoàn toan đối nghịch nhau. Vấn đề là quyết định cuối cùng về chủ quyền ở HS (hay TS) sẽ thuộc về ai là do một Tòa án Quốc tế quyết định (nếu VN và TQ đồng lòng đưa ra Tòa phân xử) chứ không do hai ông bà trên quyết định. Nên ông thích ai, ghét ai cũng chẳng được lợi lộc gì cả cho chủ quyền của VN. Vấn đề là trong hai người này, ai đúng, ai sai.

    H.T viết:

    - Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ở vị trí là một chính phủ đối lập với chính phủ VNCH trên cùng một lãnh thổ Nam VN, cũng đã ra những tuyên bố cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS và TS sau sự kiện TQ chiếm HS.

    Cộng Hòa miền Nam Việt Nam là người thừa kế chính thức của VNCH.

    Bác có thể dẫn chứng điều bác đã viết ở trên là: Cũng đã ra tuyên bố.......

    Bác dùng chữ " cũng " ở đây, có nghĩa là chính quyền nước VNDCCH đã phản đối chuyện TQ đánh chiếm HS, khẳng định HS là của VN.

    Bác có tài liệu chứng minh 2 điều này??

    Vì, có bác viết chính phủ nước VNDCCH đã gửi điện chúc mừng TQ thắng trong trận đánh HS năm 1974. Tôi tin vào chuyện chính phủ nước VNDCCH gửi điện chúc mừng TQ, vì lúc đó VNCH vẫn còn là một QG thù địch với VNDCCH.

    Nếu sau 37 năm im lặng, bây giờ mới tuyên bố này kia, thì tuyên bố này kia sẽ không được coi là " chân lý ".

    Theo bác Nguyễn Nghĩa 1111 thì công hàm của ông Phạm Văn Đồng không , chưa có phê chuẩn của QH VN lúc đó. Thì bây giờ QH VN cần phải lên tiếng. Nhưng cho đến bây giờ, QH VN chưa có một công hàm chính thức nào phủ định vấn đề này!!!!!

    Một công hàm ngoại giao, vẫn có giá trị của nó, dù có được QH phê chuẩn trước đó hay không!!!!

    Những tuyên bố trước QH VN của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ có giá trị đối với dân VN thôi. TT Nguyễn Tấn Dũng cần phải đồng thuận với QH cho ra một công hàm chính thức phủ nhận chủ quyền của TQ ở HS-TS.

    Tại sao QH VN vẫn im lặng cho đến ngày hôm nay về công hàm của ông Phạm Văn Đồng???

    Những tuyên bố trên truyền hình, trước QH của TT Nguyễn Tấn Dũng chỉ là bla bla bla.....

    Tôi cho rằng chính sách của nhà nước CHXHCN Việt Nam trong vấn đề mập mờ, không rõ ràng, công khai như chính phủ Philippine.

    Tại sao?

    Nguyễn Jung

    Kính mời quý vị đọc bài dưới đây để thấy rõ vấn đề.

    TRANH CHẤP VỀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

    Tác giả: Frank Ching

    (Nguyên tác là bài “Paracels Islands Dispute” đăng trên Báo Kinh Tế Viễn Đông, Far Eastern Economic Review, ngày 10/03/1994).

    1. ĐÁNH GIÁ LẠI NAM VIỆT NAM:

    Hiếm có chính phủ lại sẳn sàng chịu thừa nhận những sai lầm đã phạm ngay cả khi các chính sách của họ đã cho thấy hết sức rõ ràng các sai lầm đó. Lấy thí dụ Việt Nam.

    Mặc dầu hiện nay nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội trên mọi mặt ngoại trừ bảng hiệu, Việt Nam vẫn rất ngần ngại thừa nhận điều này. Họ đã theo chính sách kinh tế thị trường nhưng lại nói khác đi.

    Trong những năm chiến tranh, họ đã đánh nhau chống lại người Mỹ và Miền Nam Việt Nam nhân danh chủ nghĩa xã hội và họ đã nhận được sự viện trợ của toàn thế giới cộng sản, đặc biệt là Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa (Mát-Cơ-Va). Những trận đánh này gây ra không biết bao máu xương và đổ vỡ cho quê hương họ, một cái giá rất lớn mà nhân dân Việt Nam hiện nay vẫn còn phải trả khi họ đang cố sức đặt vấn đề phát triển kinh tế lên trên ý thức hệ chính trị. Bởi vì chính ý thức hệ chính trị này trong quá khứ đã dẫn Hà Nội đi theo những chính sách mà hiện nay nếu nhìn lại sẽ thấy là không phải khôn ngoan nhất. Và những uốn éo ý thức hệ này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại hơn là chỉ gây cho họ bối rối khi phải đu giây giữa hai đồng minh cộng sản chính yếu là Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Nó cũng làm cho họ đôi khi tỏ ra mù quáng hơn là đối thủ của họ ở Sài Gòn, khi chính phủ Miền Nam Việt Nam có lập trường nguyên tắc hơn.

    Trong những ngày nầy, Hà Nội rất thích phản đối các chính sách của Miền Nam Việt Nam và lên án Miền Nam là tay sai của Mỹ và bán rẻ quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngày nay, 20 năm sau, thật là rõ ràng để thấy sự thật là đã có nhiều lúc chính quyền Sài Gòn đã tranh đấu cho quyền lợi Việt Nam mảnh liệt hơn chính quyền Hà Nội rất nhiều.

    Một trường hợp chứng tỏ điều này là sự tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông. Hoàng Sa, cũng như Trường Sa ở xa hơn về phía Nam, được cả Trung Quốc lẫn Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng khi Hà Nội nhận viện trợ của Bắc Kinh, họ đã câm miệng và lơ luôn việc tuyên bố chủ quyền về Hoàng Sa trước đây. Quần đảo này đã bị Trung Quốc chiếm đóng sau một trận hải chiến vào tháng giêng năm 1974 trong dó Trung Quốc đã đánh thắng những người lính Nam Việt Nam đang bảo vệ quần đảo. Từ đó đến nay quần đảo này đã thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc.

    Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đã có sự hục hặc giữa Bắc Kinh và Hà Nội, và chính quyền Hà Nội – gần đây tái thống nhất với Miền Nam – đã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Mặc dầu có nhiều cuộc thương thuyết cấp cao giữ hai nước, cuộc tranh chấp này vẫn chưa được giải quyết. Chuyên viên của cả hai phía được hy vọng sẽ gặp nhau một ngày gần đây để thảo luận những vấn đề đặc biệt, nhưng không có mấy hy vọng là thỏa thuận toàn diện sẽ thành hình. Thật vậy, một nhân viên của Việt Nam đã thú nhận rằng vấn đề này có lẽ sẽ phải để cho các thế hệ tương lai giải quyết.

    Dù tôi không có ý đưa ra thiên kiến bênh vực bên nào trong hai bên đang tranh chấp, thực quá hiển nhiên là lập trường của Việt Nam đã bị suy yếu nhiều do sự im lặng của Hà Nội khi lính hải quân Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sự thất bại của Hà Nội khi đã không lên tiếng chống lại hành động xâm phạm (Hoàng Sa) của quân ngoại quốc lúc đó hiện nay đã thường được đem ra dùng để phản bác Việt Nam mỗi khi vấn đề Hoàng Sa được đề cập tới.

    Ngày nay các nhân viên chính quyền Việt Nam giải thích sự im lặng ngày đó bằng cách nói rằng dạo đó họ lệ thuộc vào viện trợ Trung Quốc trong cuộc chiến chống Mỹ là kẻ thù chính của họ. Do đó, thực là hết sức oái oăm khi thấy tình bằng hữu giữa Hà Nội và Bắc Kinh đã chấm dứt ngay tức thì khi cuộc chiến tranh chấm dứt.

    Cộng thêm vào sự oái oăm này là những sự xâm mình uốn éo mới mà Hà Nội phải cố thực hiện để tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Bởi vì trong quá khứ họ đã im lặng, nên ngày nay Hà Nội đã bị bắt buộc phải dựa vào những lời tuyên bố của Sài Gòn chứ không phải những lời tuyên bố của chính họ từ những thập niên 1950 tới 1970 – và như vậy trong thực tế, họ đã thừa nhận tính hợp pháp của chính quyền Nam Việt Nam. Ngay từ năm 1956 chính quyền Sài Gòn đã công bố một bản tuyên cáo tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa (ghi chú của dịch giả: Đây có lẽ là sai sót của tác giả, đúng ra phải viết là Hoàng Sa).

    Sài Gòn cũng đã công bố những nghị định đặt các cơ quan hành chánh cho quần đảo Hoàng Sa. Cho đến ngày họ bị thất trận trước lực lượng Trung Quốc vào năm 1974 (chỉ vài tháng trước khi Nam Việt Nam bị thua trận trước cuộc tấn công mạnh mẽ của Miền Bắc), chính quyền Sài Gòn vẫn luôn luôn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

    Trong vài năm qua, Indonesia đã bảo trợ cho những cuộc thảo luận phi chính phủ về Biển Đông. Trong các cuộc thảo luận định kỳ đó, những đại diện Việt Nam đã bị bối rối mỗi khi họ bị chất vấn về sự im lặng trước đây khi Trung Quốc thôn tính vùng biển mà hiện nay Việt Nam tuyên bố là một mảng lãnh hải của họ. Họ nói : “Trong thời gian đó đã hiện hữu một tình trạng chính trị và xã hội phức tạp ở Việt Nam cũng như trên thế giới, nhân vào đấy Trung Quốc đã lợi dung thời cơ để từng bước dùng vũ lực chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa. Và Trung Quốc đã bao vây và chiếm trọn Hoàng Sa vào tháng giêng năm 1974”.

    Với những thuận lợi nhờ sự soi sáng của các kiến thức lịch sử thu thập được trong hai thập niên vừa qua, có lẽ hiện nay ta có thể đánh giá đúng đắn những hành động của nền hành chánh của Nam Việt Nam bằng những con mắt trầm tĩnh hơn. Vì lợi ích hàn gắn vết thương chiến tranh, nếu không muốn nói là vì các lợi ích khác to lớn hơn, có lẽ hiện nay Hà Nội cần phải tỏ ra khôn ngoan hơn để tái phẩm định các hồ sơ của Nam Việt Nam và ghi nhận các công lao mà họ xứng đáng được ghi nhận. Và sự bảo vệ ngoan cường của chính quyền Sài Gòn khi dứt khoát tuyên bố khẳng định chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trong khi Hà Nội đang bận rộn ve vản để được Trung Quốc ban ân là những hành động nổi bật mà Hà Nội cần phải thừa nhận.

    Vị chủ tịch quá cố Hồ Chí Minh trước đây có lần được hỏi là liệu ông thân Liên Xô hay thân Trung Quốc. Ông đã trả lời rằng ông thân Việt Nam. Nay chính là lúc Hà Nội phải công nhận rằng đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thân Việt Nam hơn chính quyền Miền Bắc.

    2. NGUỒN GỐC CỦA CÁC TUYÊN BỐ CHỦ QUYỀN TRÊN QUẦN ĐẢO NÓI TRÊN:

    Chuyện gì đã xãy ra khi quân đội và cán bộ của Hồ và Mao giành được quyền ở Bắc Việt Nam.

    Bán đứng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

    Sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là dựa vào những tài liệu cổ và đặc biệt là quyễn “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn. Việt Nam gọi các quần đảo này là Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratleys). Trung Quốc gọi chúng là Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha). Việt Nam đụng độ với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc ở Hoàng Sa vào ngày 19/01/1974 trong đó một chiến thuyền lớn của Hải Quân Nam Việt Nam bị chìm và 40 người Việt bị bắt làm tù binh. Vào tháng 3 năm 1988, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tấn công Trường Sa và đánh chìm 3 thuyền Việt; 72 người bị giết và 9 người bị bắt làm tù binh. Vào ngày 25/02/1992 Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tuyên bố các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của họ.

    Lý do chính mà Trung Quốc đã làm chuyện này đã được biết trước đây như là một phần của chương trình “Không Gian Sinh Tồn” của họ bởi vì các tài nguyên ở hai vùng Mãn Châu và Tân Cương sẽ sớm bị cạn sạch. Để thực hiện điều này, Trung Quốc đã bắt đầu với phần dễ nhất – đó là những gì Cộng Sản Việt Nam đã hứa hẹn với họ trước đây. Nghĩa là Trung Quốc đã dựa vào một mật ước trong quá khứ. Trên bản tin của hảng thông tấn Reuter ngày 30/12/93, Cộng Sản Việt Nam đã phủ nhận mật ước này nhưng không đưa ra bất cứ giải thích nào là tại sao không có mật ước đó. Lê Đức Anh đã viếng thăm Trung Quốc và đã trì hoản giải quyết sự tranh chấp đã kéo dài 50 năm này. Liệu Trung Quốc có chịu đựng nổi sự vô ơn và lời hứa cũ này chăng ?

    3. CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ BÁN ĐỨNG CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA, NHƯNG NAY LẠI MUỐN NÓI KHÔNG:

    Theo như đã viết trong bài “Chủ Quyền Bất Khả Tranh Chấp Của Trung Quốc Trên Các Quần Đảo Tây Sa Và Nam Sa” của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc (Beijing Review, 18 tháng 2, 1980) thì trong quá khứ Hà Nội đã “giải quyết” vấn đề này với Trung Quốc. Họ (Bộ Ngoại Giao Trung Quốc) chủ yếu là đã tuyên bố như sau:
    - Vào tháng 6 năm 1956, 2 năm sau khi chính quyền Hồ Chí Minh được thành lập ở Hà Nội, Thứ Trưởng Ngoại Giao Ung Văn Khiêm đã nói với Li Zhimin, Tùy Viên tại Bắc Việt Nam, là “ theo các số liệu (dữ kiện) của Việt Nam thì các quần đảo Xisha (Tây Sa = Hoàng Sa = Paracels) và Nansha (Nam Sa = Trường Sa = Spratleys) theo lịch sử là lãnh hải của Trung Quốc”.
    - Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý và áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của CHND Trung Quốc, “kể cả…quần đảo Dongsha, quần đảo Xisha, quần đảo Zhungsha, quần đảo Nansha,…”. Mười ngày sau, Phạm Văn Đồng, trong một công hàm gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai, viết rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”.

    Sau đây là công hàm ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai để ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc:

    THỦ TƯỚNG PHỦ
    NƯỚC VIỆT-NAM DÂN-CHỦ CỘNG-HÒA

    Thưa Đồng chí Tổng lý,
    Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:
    Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

    Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.
    Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.

    Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958
    Phạm Văn Đồng
    Thủ tướng Chính phủ
    Nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa

    Một điều nữa cần lưu ý là CHND Trung Quốc chỉ khép cửa và răn đe dọa nạt đối với những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam mà thôi, nhưng lại mở cửa (và hứa hẹn sẽ thương lượng) đối với các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của các nước khác. Thật là hết sức rõ ràng là ông Hồ Chí Minh, qua ông Phạm Văn Đồng, đã hiến dâng cho CHND Trung Quốc một “chiếc bánh lớn” chỉ vì vào thời gian đó ông Hồ Chí Minh đang sửa soạn xâm lăng Nam Việt Nam. Ông Hồ rất cần những viện trợ to lớn và do đó đã nhắm mắt chấp nhận mọi điều kiện của Bắc Kinh. Thật quá dễ cho ông ấy để “bán trên giấy tờ” hai quần đảo lúc đó vẫn còn thuộc vào Nam Việt Nam.

    Cũng chính vì điều đó mà cộng sản Việt Nam đã phải chờ đến khi có một cuộc họp của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ở Manila để lợi dụng cơ hội này như một chiếc phao an toàn để ký một văn thư kêu gọi các quốc gia này giúp Việt Nam để giải quyết “công bình” vấn đề này.

    Về phía Trung Quốc thì sau khi chiếm các đảo của Việt Nam họ đã tỏ ra thân thiện với Malaysia và Philippin và nói rằng họ sẳn sàng để thương thuyết về những vùng biển đầy tài nguyên này với các nước đó, trong khi loại hẳn Việt Cộng qua một bên. Trung Quốc còn khẳng định là họ sẽ không chấp thuận để bất cứ nước ngoài nào khác can thiệp vào vấn đề này giữa họ và công sản Việt Nam.

    Về sau, Phạm Văn Đồng đã lên tiếng chối bỏ các hành động sai trái của ông ta trên báo Kinh Tế Viễn Đông số ra ngày 16 tháng 3 năm 1979. Căn bản là ông ta nói rằng trước đây ông đã làm như vậy là vì lúc đó là trong “thời chiến”. Sau đây là trích dẫn đoạn đó trên trang 11: “Theo ông Li (Thứ Trưởng Li Xiannian của Trung Quốc), thì Trung Quốc sẳn sàng chia đôi Vịnh Bắc Bộ “mỗi bên một nửa” với Việt Nam, nhưng tại bàn hội nghị Hà Nội đã đòi vẽ đường biên giới phần biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam gần đảo Hải Nam hơn. Ông Li cũng nói là vào năm 1956 (hoặc 1958 ?), Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền Trung Quốc trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng kể từ cuối năm 1975, Việt Nam đã chiếm giữ một phần của Trường Sa – Hoàng Sa thì đã thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc. Vào năm 1977, có tin tức nói rằng ông Đồng đã nói về lập trường năm 1956 của ông như sau: “Lúc đó là thời chiến và tôi phải nói như vậy”.

    Vì lòng hăng say gây ra cuộc chiến thảm họa cho cả hai miền Nam Bắc, và vì mốn đóng góp cho phong trào cộng sản quốc tế, ông Hồ Chí Minh đã hứa hẹn một cách thiếu danh dự để tạo cơ hội cho Trung Quốc giật được một mảng đất “tương lai” của Việt Nam, mặc dù ông ta cũng không biết chắc là liệu ông có thể nuốt được Nam Việt Nam hay không. Như ông Đồng đã nói “Lúc đó là thời chiến và tôi phải nói như vậy”. Ai đã gây ra chiến tranh Việt Nam và đã sẳn sàng làm bất cứ điều gì để chiếm cho bằng được Nam Việt Nam, kể cả việc bán đứng đất đai của quốc gia ? Bán đứng đất đai trong thời chiến và khi cuộc chiến chấm dứt Phạm Văn Đồng đã phủ nhận bằng cách lếu láo đổ tội là do chiến tranh.

    4. TRONG CUỐN “TRANH CHẤP LÃNH THỔ VIỆT-TRUNG” CỦA PAO-MIN CHANG TRÊN WASHINGTON PAPERS/ 118, DO DOUGLAS PIKE VIẾT LỜI GIỚI THIỆU, XUẤT BẢN BỞI TRUNG TÂM CHIẾN LƯỢC VÀ NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ, ĐẠI HỌC GEORGE TOWN, WASHINGTON D.C.

    Ngoài việc gần gủi về khoảng cách địa lý, cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nằm ngoài khơi của bờ biển Nam Việt Nam, lúc đó vẫn còn thuộc chủ quyền tài phán của chế độ thù nghịch Sài Gòn. Hà Nội đơn giản là không ở vào vị thế có thể thách thức cả những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc lẫn uy thế trên mặt biển của Hoa Kỳ vào lúc đó. Do đó, vào này 15 tháng 6 năm 1956, có tin tức ghi nhận là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố là: “Trên quan điểm lịch sử thì các quần đảo này là lãnh thổ của Trung Quốc”.(Beijing Review số ra ngày 30 tháng 3 năm 1979, trang 20 – xem thêm Far Eastern Economic Review số ra ngày 16 tháng 3, 1979, trang 11).

    Vào tháng 9 năm 1958, khi Trung Quốc tuyên bố nới rộng phạm vi bề rộng chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc lên 12 hải lý, và đặc biệt đã kê rõ là quyết định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thì Hà Nội đã mau mắn thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này. Phạm Văn Đồng, trong một công hàm gửi cho lãnh tụ Trung Quốc Chu Ân Lai ngày 14/9/1958 đã viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và ủng hộ tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa về quyết định ngày 4/9/1958 liên hệ tới lãnh hải của Trung Quốc” (xem Beijing Review 25/8/1959, trang 25 - Sự hiện hữu của tuyên bố này và nội dung của nó đã được thừa nhận ở Việt Nam trong tài liệu BBC/FE, số 6189, ngày 9/8/1979, trang 1).

    5. TẠI SAO ?

    Tác giả Carlyle A. Thayer, trong bài “Điều Chỉnh Chiến Lược Của Việt Nam” đăng trong cuốn Trung Quốc Như Là Một Siêu Cường Ở Châu Á Và Thái Bình Dương (chủ bút Stuart Harris và Gary Klintworth, Nhà Xuất Bản Longman Cheshire, Melbourne, sẽ ra mắt năm 1994), đã viết như sau:

    Khi theo đuổi các lợi ích quốc gia của mình Việt Nam đã có những hành động mà theo quan điểm của Trung Quốc thì đã tỏ ra khá khiêu khích chống đối họ. Chẳng hạn như trong suốt cuộc tranh đấu dài cho độc lập của họ Việt Nam đã chưa bao giờ công khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông mà thực ra lại còn ủng hộ họ nữa. Thế mà sau khi thống nhất, Việt Nam đã lật ngược chủ trương. Vào năm 1975, Việt Nam đã chiếm giữ một số đảo trên quần đảo Trường Sa và sau đó đã khẳng định chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông. Như Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận : “Tuyên bố trước đây của các nhà lãnh đạo nước tôi về các quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) đã được đưa ra trong bối cảnh sau: Vào thời điểm đó, theo Hiệp Định Geneve về Đông Dương, vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, kể cả hai quần đảo này, đã được đặt dưới quyền kiểm soát của nền hành chánh Nam Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam lúc đó phải tập trung toàn lực cho mục tiêu cao nhất là chống lại cuộc chiến xâm lược của Mỹ để bảo toàn nền độc lập quốc gia. Nước tôi cần phải được sự ủng hộ của mọi bạn bè trên thế giới. Trong khi đó thì mối liên hệ Việt-Trung lại rất thắm thiết và hai nước tin cậy lẫn nhau. Đối với Việt Nam thì Trung Quốc là nước đã có sự giúp đỡ vĩ đại và giá trị. Trong tình cảnh đó, và xuất phát từ các đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các vị lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết bởi vì điều đó đã trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến đấu của chúng tôi cho độc lập và tự do của tổ quốc. Nói cụ thể hơn, tuyên bố đó nhằm mục đích là thỏa mãn nhu cầu khẩn yếu lúc đó là ngăn cản đế quốc Mỹ sử dụng các quần đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không hề có liên quan gì tới căn bản pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (Theo các ghi chú tại cuộc họp báo tại Hà Nội vào ngày 2/12/1992 do Thông Tấn Xã Việt Nam công bố vào ngày 3/12/1992).

    Những tuyên bố này chứng tỏ là các điều Trung Quốc đã cáo buộc Việt Nam nói trên đây đều là sự thật. Những gì đã xãy ra ngày nay cho hai quần đảo này chỉ giản dị là hậu quả của sự giải quyết hung ác trong quá khứ của hai nước cộng sản anh em này. Không một ai trong cộng đồng thế giới hiện nay lại muốn nhảy ra can thiệp vào cuộc tranh chấp giữa cộng sản Việt Nam và CHND Trung Quốc. Những thông điệp ngoại giao và những thừa nhận của các người cộng sản Việt Nam không thể dễ dàng hủy bỏ bởi một nước nhỏ bé như Việt Nam mà lại muốn chơi gác và lường gạt Trung Quốc. Ngoài ra, những người cộng sản Việt Nam cũng không thể xa lánh Trung Quốc trong khi họ đang chạy theo đuôi công cuộc “đổi mới” kiểu Tàu để tiến lên xã hội chủ nghĩa.

    Frank Ching

    Để cắt đi 1 số bình luận vô bổ, tôi đăng lại tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội VN vào phản hồi này.
    Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là 1 công hàm ngoại giao, chưa được Quốc Hội VN phê chuẩn.
    Tuyên bố của Thủ tướng là tuyên bố tại quốc hội VN, nó cao hơn chiếc công hàm nhập nhằng nhiều nghĩa kia: Kẻ bảo là công hàm bán Biển Đảo, người cãi là không bán Biển Đảo.

    Trích dẫn:
    Những ngày hôm nay, trước Quốc hội Việt Nam, một lần nữa Thủ tướng Việt Nam đã tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và lần đầu tiên, từ 1958 tới nay, tuyên bố rõ ràng: "Năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp."

    / Xem: Những cảm nhận về phát biểu...Nguyễn Nghĩa blog. Dân luận/

    H.T viết:

    - Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ở vị trí là một chính phủ đối lập với chính phủ VNCH trên cùng một lãnh thổ Nam VN, cũng đã ra những tuyên bố cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS và TS sau sự kiện TQ chiếm HS. Các bác có thể gọi CHMNVN là chính phủ "ma", nhưng đó là khía cạnh chính trị, không phải khía cạnh pháp lý.

    Xin ông H.T. vui lòng, nếu có thể, đưa ra bản gốc (có thể kiểm chứng độc lập) của "những tuyên bố cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS và TS sau sự kiện TQ chiếm HS" của cái gọi là "Chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam" để rộng đường dư luận. Xin cám ơn ông trước. Tuy nhiên, cái "Chính quyền Cộng Hòa Miền Nam VN" này chưa bao giờ được thế giới công nhận như là một chính quyền hợp pháp đại diện cho nhân dân miền Nam VN. Nó thật sự là chính quyền ma (phantom government) vi hoàn toàn do VNDCCH nặn ra và giật giây để lừa quốc tế.

    Về giá trị học thuật, thì bà Chemillier-Gendreau hay ông Austin đều là những người có thẩm quyền trong ngành công pháp quốc tế dù ý kiến hoàn toan đối nghịch nhau. Vấn đề là quyết định cuối cùng về chủ quyền ở HS (hay TS) sẽ thuộc về ai là do một Tòa án Quốc tế quyết định (nếu VN và TQ đồng lòng đưa ra Tòa phân xử) chứ không do hai ông bà trên quyết định. Nên ông thích ai, ghét ai cũng chẳng được lợi lộc gì cả cho chủ quyền của VN. Vấn đề là trong hai người này, ai đúng, ai sai.

    Ý kiến của Tonnesson có giá trị tham khảo, thăm dò, đánh giá dư luận. Không phải là chân lý!!!

    Tôi đã nói ở dưới, là thể chế của 1 quốc gia cứ 3 hôm thay đổi 1 lần, nhưng không phải vì thế mà quyền sở hữu lãnh thổ của quốc gia đó cũng bị thay đổi theo.

    Anh Dương Danh Huy cũng nói tương tự, chính quyền của 1 quốc gia có thể hợp pháp/bất hợp pháp, có thể bị đánh đổ, nhưng quốc gia đó vẫn tồn tại. Hiểu 1 cách dân dã ông chủ 1 gia đình chết, không có nghĩa là tài sản, đất đai của ông ấy cũng mất theo.

    Nếu ý kiến của Tonnesson là chân lý!!!??? thì Vietnam có thể làm được gì??? dựng VNCH cho nó sống dậy??? cũng không thấy ông Tonnesson đề cập đến chuyện "hồi sinh" VNCH như thế nào???

    Liệu thế giới có chấp nhận "người chết" sống lại sau 37 năm không???

    Mà nếu VNCH chết và mọi claim của VNCH chết theo như Tonnesson nói. Thì lúc VNCH chết, tài sản của nó vô chủ!!! Ai tóm được cái gì, thế giới không phản đối, thì thuộc về người đó??? Bây giờ bắt "trả lại", trả lại cho ai??? Vì người chết không thể sống lại.

    Nói chung, chấm dứt tranh luận tại đây!!! Vì không hiểu các phần tử "quốc gia" lắm. Miệng lúc nào cũng leo lẻo đặt quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, nhưng mục đích cuối cùng vẫn chỉ là cái VNCH, bất chấp là có được cái gì, có logik hay không!

    Vì ở đây bài viết của ông TN Tuấn đang đứng trên phương diện pháp lý nên tôi cũng chỉ muốn đề cập đến phương diện pháp lý. Những điều khác mà các bác nói, rất tiếc các bác đã nhầm đối tượng.

    - Tôi nhấn mạnh lại, cơ sở pháp lý nào để cho rằng giải pháp của ông TN Tuấn là đúng đắn?

    - Ý kiến của ông Tonnesson hay Austin chỉ là ý kiến của một học giả, như trước đây ông Huy cũng đã từng nói, họ phủ nhận hoàn toàn chủ quyền của VN đối với HS và TS sau năm 75. Nếu như tin vào ý kiến của họ thì giải pháp của ông TN Tuấn cũng không thể làm gì được. Trừ phi bác cho tôi được link tài liệu pháp lý chuẩn. Nhớ là tài liệu gốc của cơ quan có thẩm quyền, chứ không phải là mấy bài báo trên các báo chí thông thường.

    - Nếu dựa vào ý kiến học giả thì tôi sẽ tin lời luật gia Monique Chemillier-Gendreau hơn, vì đó là ý kiến của chuyên gia pháp lý. Trong cuốn sách của mình bà cũng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS-TS có cơ sở pháp lý vững chắc hơn những nước khác. Bà cũng nói rằng bất cứ tuyên bố gì của VNDCCH trong giai đoạn 54-75 về chủ quyền 2 quần đảo này cũng đều không có hiệu lực. Điều này ông TN Tuấn hẳn cũng rất rõ.

    - Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ở vị trí là một chính phủ đối lập với chính phủ VNCH trên cùng một lãnh thổ Nam VN, cũng đã ra những tuyên bố cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với HS và TS sau sự kiện TQ chiếm HS. Các bác có thể gọi CHMNVN là chính phủ "ma", nhưng đó là khía cạnh chính trị, không phải khía cạnh pháp lý.

    Tóm lại, các bác cho tôi tài liệu pháp lý gốc để chứng minh rằng giải pháp ông TN Tuấn đưa ra là có cơ sở pháp lý. Các bác không làm được điều đó thì mọi lý lẽ khác là vô nghĩa và tôi sẽ không tranh luận thêm nữa.

    Khách Qua Đường viết:
    Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay là quốc gia kế tục của nước VNDCCH và của Chính phủ Lâm thời Giải phóng Nam Việt Nam (CPLTGPNVN), chứ không là hậu thân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và do đó theo pháp luật phải bị ràng buộc bởi những lời tuyên bố do các quan chức của chính phủ VNDCCH trong những thập niên 1950 và 1960. Những tuyên bố về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị thất cách [nghĩa là bị vô hiệu hóa] cùng lúc với sự sụp đổ của chế độ này vào năm 1975”.

    Tiến sĩ Stein Tonnesson

    Nhận định này hoàn toàn sai và không dựa vào sự thật lịch sử .Nước CHXHCNVN ngày nay là quốc gia thống nhất của 2 chính phủ sát nhập (VNDCCH và CPLTGPNVN). Trong đó "CPLTGPNVN là chính phủ thắng thế VNCH" giành quyền quyết định sát nhập thể chế. Hiến pháp của VNDCCH và VN CH đều xác định có chung 1 lãnh thổ , giang sơn trong hoàn cảnh mỗi thể chế TẠM chiếm giữ 1 miền . Mọi tài sản của VNCH hay VNDCCH hay CPLTGPNVN đều là của Việt Nam . Chính phủ VNCH bị sụp đổ , xóa sổ , nhưng CPLTGPNVN đã thâu tóm và quản lý thì vẫn là của VN chứ không phải của Trung Quốc , Lào hay Cao Miên . Chẳng có gì gọi là thất cách . Tuy nhiên Công Hàm 1958 bị TQ lợi dụng ảnh hưởng chính trị của Đ CS VN để buộc lãnh đạo phía VN phải im miệng . Đó mới là cái bí tắc .

    Ý KIẾN CỦA TIẾN SĨ TONNESSON VỀ CHỦ QUYỀN Ở HOÀNG SA

    (Trích “THE PARACELS: THE ‘OTHER’ SOUTH CHINA SEA DISPUTE”, paper presented at the South China Sea Panel, International Studies Association, Hong Kong Convention, 26-28 July 2001 by Dr. Stein Tonnesson, International Peace Research Institute, Oslo (Prio), trang 11-12)

    “- Officials of the Democratic Republic of Vietnam (DRV, North Vietnam) on several occasions issued statements in support of the PRC claim to the Paracel group, which was considered by all the socialist countries to belong to China. So did the official press of North Vietnam. These statements probably amount to an estoppel of any previous Vietnamese claim to the Paracels.[29]
    Today’s Socialist Republic of Vietnam is a successor state to the DRV and the Provisional Revolutionary Government of South Vietnam (PRG), not to the Republic of Vietnam, and is therefore legally bound by statements made by officials of the DRV government during the 1950s and 1960s. The sovereignty claims of the Republic of Vietnam lapsed with the fall of that regime in 1975.”

    Dr. Stein Tonnesson

    Footnote:
    [29] A summary of these statements may be found in Greg Austin China’s Ocean Frontier, pp. 126-130. The most important was an official communication from Vietnamese Prime Minister Pham Van Dong in 1956 in support of the PRC’s territorial sea declaration. The declaration mentioned the Paracels as Chinese territory. The DRV’s estoppel of the Vietnamese claim forms one of the two premises for Greg Austin’s conclusion that China has a superior claim to the Paracels. The other main premise is that France failed to uphold the former Annamese claim in the period 1885-1931.

    Tạm dịch ra Việt ngữ :

    (Trích bài “HOÀNG SA : CUỘC TRANH CHẤP “KHÁC” Ở BIỂN ĐÔNG”, bài tham luận trình bày tại Nhóm Biển Đông, Hội Nghiên cứu Quốc tế, Hội nghị tại Hồng Kông, ngày 26-27/07/2001 của Tiến sĩ Stein Tonnesson, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế, Oslo (Prio), trang 11-12)

    “- Một số quan chức của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH, Bắc Việt) đã trong vài trường hợp đưa ra những lời công bố ủng hộ chủ quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND TH) trên quần đảo Hoàng Sa, mà lúc đó được tất cả các nước trong phe xã hội chủ nghĩa xem như là thuộc nước Trung Quốc. Cơ quan thông tấn nhà nước chính thức của Bắc Việt cũng tuyên bố như thế. Những tuyên bố này có lẽ đã gây ra một lỗi estoppel chống lại bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của Việt Nam trước đây trên quần đảo Hoàng Sa. [29]

    Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay là quốc gia kế tục của nước VNDCCH và của Chính phủ Lâm thời Giải phóng Nam Việt Nam (CPLTGPNVN), chứ không là hậu thân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và do đó theo pháp luật phải bị ràng buộc bởi những lời tuyên bố do các quan chức của chính phủ VNDCCH trong những thập niên 1950 và 1960. Những tuyên bố về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị thất cách [nghĩa là bị vô hiệu hóa] cùng lúc với sự sụp đổ của chế độ này vào năm 1975”.

    Tiến sĩ Stein Tonnesson

    Cước chú:
    [29] Bản tóm tắt các lời tuyên bố này có thể tìm thấy trong sách của Greg Austin Biên giới Đại Dương của Trung Quốc, trang 126-130. Tuyên bố quan trọng nhất là công hàm của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng vào năm 1956 ủng hộ bản tuyên bố chủ quyền lãnh hải của nước CHND TH. Bản tuyên bố này nói rõ rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Cái lỗi estoppel này của nước VNDCCH về phía Việt Nam là một trong hai tiền đề (premises) mà dựa theo đó Greg Austin đã đi tới kết luận rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa là ưu thắng (hơn Việt Nam). Tiền đề thứ hai là việc nước Pháp đã thất bại trong việc duy trì tuyên bố chủ quyền trước đây của An Nam trong giai đoạn 1885-1931.”

    Pages