Nguyễn Thái Linh - Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ cuối)

  • Bởi Hồ Gươm
    03/06/2012
    96 phản hồi

    Nguyễn Thái Linh


    Philippines, Malaysia và Brunei đều có luận thuyết riêng trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất.

    III. Luận thuyết của các nước khác

    1) Luận thuyết của Philippines

    Philippines có yêu sách đối với khoảng 60 đảo, đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa. (1) Yêu sách đầu tiên được Thomas Cloma, một công dân Philippines, đưa ra vào năm 1947 khi ông tuyên bố phát hiện ra một nhóm đảo, đá nằm cách bờ Tây đảo Palawan 300 hải lý.

    Ngày 17.5.1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo của quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines. Tuyên bố này đã bị các nước có liên quan phản đối.

    Mãi đến tháng 3.1956, Thomas Cloma mới tiếp tục việc “phát hiện” nhóm đảo này. Ông cử một nhóm 40 thủy thủ đổ bộ lên các đảo của quần đảo Trường Sa với mục đích tiến hành chiếm hữu chính thức. Họ cắm cờ Philippines lên một số đảo, trong đó có đảo Ba Bình (Itu Aba) (2). Ngày 11.5.1956, họ tuyên bố các đảo họ đã chiếm đóng được đặt tên là Kalayaan (Đất Tự do), còn Thomas Cloma tự phong mình là Chủ tịch Hội đồng Tối cao Nhà nước Kalayaan (3). Tuyên bố này đã bị các nước liên quan phản đối. (4)

    Ngày 15.5.1956, Thomas Cloma gửi thư cho bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Philippines thông báo về việc chiếm giữ vùng lãnh thổ rộng 64.976 dặm vuông ở phía Tây Palawan, nằm ngoài các vùng nước của Philippines và không thuộc quyền tài phán của bất cứ nước nào và yêu sách chiếm hữu vùng lãnh thổ này dựa trên quyền phát hiện và chiếm đóng, đồng thời gửi kèm theo bản đồ. Tuy tên của các đảo bị thay đổi hoàn toàn, nhưng bản đồ cho thấy Kalayaan bao gồm phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. (5)

    Trong họp báo ngày 19.5.1956, bộ trưởng ngoại giao Philippines khẳng định rằng nhóm đảo Trường Sa trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa phải thuộc chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Sài Gòn, Bắc Kinh và Đài Loan đều phản đối tuyên bố này. Đài Loan có ý định cử thủy quân đến Trường Sa. Manila lập tức thông báo với Đài Loan và Việt Nam rằng Philippines chưa có yêu sách chính thức về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ này.

    Ngày 6.7.1956, Thomas Cloma lại gửi thư cho yêu cầu chính phủ Philippines cho Kalayaan được hưởng chế độ bảo hộ. Trong công văn trả lời T. Cloma, bộ trưởng ngoại giao Philippines cho rằng ngoài nhóm 7 đảo mà quốc tế gọi là Trường Sa (Spratly), các đảo khác đều là lãnh thổ vô chủ (terra nulius), do đó mọi công dân Philippines cũng như công dân các nước khác đều có quyền tự do khai thác kinh tế và định cư.

    Đáp trả “sự kiện T. Cloma”, Việt Nam đã cử tàu tuần tra đến quần đảo Trường Sa vào tháng 8.1956.

    Ngày 1.10.1956 xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa hải quân Đài Loan và nhóm người của T. Cloma ở North Danger Shoal. Người của T. Cloma bị tịch thu hết vũ khí. Chính phủ Philippines hoàn toàn không can thiệp.

    Vào thời kỳ 1970-1971, các đơn vị thủy quân Philippines theo lệnh của tổng thống F. Marcos đã chiếm một số đảo của Trường Sa, trong đó có đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn và South Rock. Philippines cũng tổ chức tuần tra trên một loạt đảo và đá nhỏ ở phía Đông Bắc quần đảo. (6) Năm 1971, Philippines một lần nữa cố chiếm đảo Ba Bình nhưng thất bại. Chính quyền Philippines phản đối sự chiếm đóng của Đài Loan với các lý do: a) Philippines có danh nghĩa chủ quyền dựa trên sự phát hiện của T.Cloma; b) Trung Quốc chiếm đóng de facto một số đảo nằm dưới sự kiểm soát của các nước đồng minh mà không cho các nước này được biết; c) nhóm đảo Trường Sa nằm trong vùng nước quần đảo của Philippines (7). Cùng với sự phản đối, Philippines tăng cường quân số trên các đảo lên 1.000 người. Một sân bay đã được xây dựng trên đảo Thị Tứ.

    Năm 1974 Thomas Cloma chuyển giao “chủ quyền” Kalayaan cho chính phủ Philippines. Đến thời điểm này, Philippines kiểm soát 4 đảo. (8)

    Năm 1978, Philippines đặt quân đội trên 7 đảo của Trường Sa. Ngày 11.6.1978, tổng thống Philippines sát nhập 7 đảo này vào lãnh thổ Philippines bằng sắc lệnh số 15969, sắc lệnh này đồng thời khẳng định các đảo này “về mặt pháp lý không thuộc bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, giờ đây phải thuộc về Philippines và nằm dưới quyền tài phán của Philippines nhờ sự chiếm cứ và quản lý hiệu quả theo đúng luật quốc tế”. Sắc lệnh cũng quy định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo này. (10)

    Ngày 14.9.1979, tổng thống Philippines tuyên bố rõ Philippines sẽ tiếp tục yêu sách chủ quyền đối với 7 đảo họ đang chiếm đóng chứ không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa. Trong cuộc họp báo này, tổng thống Philippines nhắc lại nhóm 7 đảo này là vùng lãnh thổ chưa có người chiếm đóng, chưa được biết đến và chưa có người ở, thậm chí chưa được đánh dấu trên các bản đồ trước Thế chiến II, và Philippines chiếm cứ chúng như lãnh thổ vô chủ (terra nullius).

    Ngày 10.3.2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9.522 về đường cơ sở, đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines. Hành động này của Philippines lập tức bị Việt Nam và Trung Quốc phản đối.

    Luận thuyết của Philippines không vững vàng ở chỗ nước này cho rằng các đảo mà mình chiếm giữ là lãnh thổ vô chủ và chưa được biết đến, nhưng trên thực tế, chúng thuộc quần đảo Trường Sa. Ngay cả khi bỏ qua các giai đoạn lịch sử xa xưa, quần đảo này đã được Pháp chiếm cứ hữu hiệu từ những năm 1930 (quân đội Pháp có mặt trên đảo Thị Tứ từ tháng 4.1933) và sau đó trao lại cho Việt Nam khi Pháp rời khỏi Đông Dương mà không gặp bất cứ sự phản đối nào từ phía các nước, trong đó có Philippines. Luật quốc tế cũng không quy định một lãnh thổ phải thuộc về một quốc gia chỉ vì nằm gần quốc gia đó nhất. Ngoài ra, việc chiếm đóng và các yêu sách của Philippines đối với nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngay từ ban đầu luôn gặp sự phản đối từ phía các nước khác có liên quan, do đó khó lòng có thể nói đến một sự chiếm cứ hiệu quả và không có tranh chấp theo đúng các nguyên tắc của luật quốc tế.

    2) Luận thuyết của Malaysia

    Năm 1978, Malaysia đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo An Bang, Đá Kỳ Vân và đá Công Đo dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa.

    Năm 1979, Malaysia công bố bản đồ trong đó một số đảo của Trường Sa được đánh dấu là lãnh thổ Malaysia.

    Tháng 6.1983, Malaysia chiếm đóng quân sự đảo đầu tiên - Đá Hoa Lau - trong khu vực yêu sách. Tháng 9.1983, Malaysia chính thức tuyên bố nước này quyết định chiếm cứ bãi san hô ngầm James Schoal, Đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, Đá Kỳ Vân và khẳng định các đảo này nằm trong vùng được gọi là “vùng kinh tế biển” của Malaysia. Tháng 12.1986, quân đội Malaysia (11) chiếm đảo Đá Kỳ Vân và Kiêu Ngựa.

    Tháng 6.1999, Malaysia mở rộng chiếm đóng ra Đá Én Ca và bãi Thám Hiểm, nâng tổng số các đảo bãi chiếm đóng của mình ở quần đảo Trường Sa lên bảy đảo, bãi.

    Luận thuyết của Malaysia dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa. Tuy nhiên, điều 76 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển ghi rõ: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biểnlòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”, hoàn toàn không liên quan đến các đảo, đá nổi lên mặt biển trong vùng thềm lục địa. Luận thuyết của Malaysia hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Yêu sách của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử nào.

    3) Luận thuyết của Brunei

    Brunei chỉ yêu sách chủ quyền đối với đảo Louisa Reef, với luận thuyết đảo này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Brunei. Tuy nhiên, Công ước LHQ về Luật Biển 1982 chỉ công nhận quốc gia ven bờ có “chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió”, quyền tài phán trong việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị về công trình, quyền tài phán trong việc nghiên cứu khoa học biển cũng như bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (điều 56). Việc yêu sách chủ quyền đối với các đảo chỉ vì chúng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế là một diễn giải sai lệch các quy định của Công ước. Do đó, luận thuyết của Brunei, tương tự như trường hợp Malaysia, là thiếu thuyết phục và không có cơ sở.

    Ở đây, một câu hỏi có thể nảy sinh là: Louisa Reef có phải là một đảo theo qui định của luật quốc tế hay không? Bởi một quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền và thụ đắc chủ quyền đối với đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước). Nếu Louisa Reef là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, Brunei và các nước khác đều không thể yêu sách chủ quyền (12). Khi đó nó sẽ là một phần vùng đặc quyền kinh tế mà Brunei có thể có các quyền giới hạn như đã nêu trên. Trong trường hợp này, một vấn đề nữa sẽ phải đặt ra là vùng đặc quyền kinh tế của Brunei có chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Malaysia đòi hỏi hay không.

    IV. Kết luận

    Những phân tích trên đây cho thấy trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, thực tế tranh chấp dai dẳng và phức tạp cũng như ý muốn của các bên khiến việc giải quyết tranh chấp bằng con đường pháp lý hiện nay rất khó khăn. Hơn nữa, tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì tính chất phức tạp của nó, đòi hỏi một giải pháp tổng thể với các yếu tố pháp lý, lịch sử, chính trị, kinh tế. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, yếu tố pháp lý vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông cần rất nhiều nỗ lực và thiện chí của các bên liên quan, đặc biệt là Trung Quốc, nước luôn phản đối việc đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra trước tòa án quốc tế bất chấp nhiều lần đề nghị của Việt Nam.

    Nguyễn Thái Linh
    ____________________

    Chú thích:

    1. Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994), tr.111

    2. Quốc Tuấn, “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoaliên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975

    3. Jan Rowinski, sđd

    4. Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994, trang 62

    5. Samuels Marwyn S., sđd

    6. Jan Rowiński, sđd

    7. Lee G. Cordner, sđd

    8. International Herald Tribune, số ngày 28.3.1974

    9. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91

    10. Lee G. Cordner, sđd

    11. Jan Rowiński, sđd

    12. Xem các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp giữa Quatar và Barhan (http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7029.pdf ) và chủ quyền đói với đảo South Ledge trong tranh chấp giữa Malaysia và Singapore (http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14506.pdf )

    Tài liệu tham khảo:

    1. Wójciech Góralczyk, Stefan Sawicki, Đại cương công pháp quốc tế, Warszawa, Wydawnictwo Prawnicze LexisNexis, 2007.

    2. Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế, sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, 1988

    3. Jaseniew Vladimir, Stephanow Evginii, Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay, Moscow, 1982

    4. Jean-Pierre Ferrier, Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabitées, Annuaire francais de droit international, vol.21, 1975

    5. Monique Chemillier-Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1998

    6. Beauvois Marcel, Les archipels Paracels et Spratley, Vietnam Press nr.7574, ngày 27.11.1971

    7. Rowiński Jan, Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở châu Á, Warszawa, 1990

    8. Samuels Marwyn S., Contest for the South China Sea, New York, 1982

    9. Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Viện Luật Kinh tế biển Monaco, 2000

    10. Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994

    11. Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, tạp chí mạng Talawas ngày 11.12.2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302)

    12. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”, South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91

    13. Lacoste Yves, “Mer de Chine ou Mer de l’Asie du Sud-Est”, Herodote, Paris 1981

    14. Dương Danh Huy, “Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai quốc gia Việt Nam trên hai miền Bắc, Nam”, trang web Quỹ Nghiên cứu Biển Đông ngày 9.11.2011 (http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1288-trong-chin-tranh-54-75-co-mt-hay-hai-quc-gia-tren-hai-min-bc-nam )

    15. Từ Đặng Minh Thu, “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng są và Trường Sa”, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng 7/2007.

    16. Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994)

    17. Quốc Tuấn, “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975

    18. Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994

    19. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    96 phản hồi

    Khách Qua Đường viết:
    Công hàm Phạm Văn Đồng, dù muốn dù không, cũng gây ra vô vàn TAI HẠI cho chủ quyền của VN trên hai quần đảo thiêng liêng HS và TS của Tổ quốc ta. TQ đã sử dụng nó như là một VŨ KHÍ TUYÊN TRUYỀN trước nhân dân toàn thế giới cho cái gọi là “chính nghĩa” của Tàu khi xâm lấn HS, TS của ta, và họ đã rất thành công. TQ chắc chắn sẽ sử dụng nó như một VŨ KHÍ PHÁP LÝ trong tranh chấp chủ quyền với VN về HS và TS trước một Tòa án Quốc tế nếu họ bắt buộc phải chịu ra tòa với VN để tìm giải pháp cho HS, TS.

    Sau khi đọc ý kiến này của ông KQĐ , tôi đã đưa ra câu hỏi phản biện nhằm tự chứng minh NHẬN XÉT TRÊN Không phù hợp với thực tiễn mà TRUNG Quốc đang thực hiện . Nhưng không rõ ý đó , BBT Dân Luận nhét vào chỗ nào , tìm không ra , Bây giờ đành viết tóm lại . Vì nếu đúng như thế CH 1958 là VŨ KHÍ PHÁP LÝ , là VŨ KHÍ TUYÊN TRUYỀN và sực mạnh ảnh hưởng của TQ thì khi VN hay nước nào đó ra muốn ra Tòa thì TQ đã nhanh nhảu có mặt tham dự Tòa đó và đưa vũ khí Pháp Lý ra để thắng ngay tại chỗ và yêu cầu Tòa ra quyết định thực thì luôn . Khỏi phải nghe tiếng đòi lẽo nhẽo của mấy nước nhược tiểu . Khỏi phải lỳ lợm đơn phuong tuyên bố không tranh cãi .
    Ong KQĐ đã thấy Trung Quốc không thấy cái lý mạnh của mình(Không dám coi là vũ khí pháp lý và cũng chẳng dám tuyên truyền mà chỉ dùng bạo lực , cả vú lấp lú miệng em) và TQ khôn hơn mình nghĩ chưa ?

    Trích dẫn:
    The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN

    Thật ra Greg Austin đã sai về facts, vì

    1. Sau khi PRG ra đời thì DRV cho rằng PRG là legitimate government của MN. Không có chuyện "DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam".

    2. Theo BNG Úc thì tới tháng 11/1975 thì có 75 nước công nhận 1 CP cho MN và 1 CP khác cho MB, tức là công nhận có 2 CP khác nhau trên 2 QG khác nhau song song.

    Trên diện chính trị thì có thể (tùy quan điểm chính trị) cho rằng PRG chỉ là 1 con múa rối của DRV, không phải là 1 CP, nhưng trên diện pháp lý thì PRG là 1 CP được ít nhất là 75 nước công nhận.

    Có điều có người bàn về CHPVĐ hay lẫn lộn chính trị với pháp lý :-).

    HongLac viết:
    Tôi không rõ là bác Dương Danh Huy có chủ trương “tạm bỏ qua tranh chấp biển đảo để phân định hải phận với các nước” hay không?, nếu có thì tôi không hiểu tại sao bác ấy lại muốn tranh đấu để thế giới công nhận HSTS là của Việt Nam. Nếu toà án quốc tế công nhận Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trường Sa mà VNCH nắm giữ trước 1974 là thuộc chủ quyền của Quốc Gia Viêt Nam (The State of Vietnam) thì đương nhiên là đường “luỡi bò” vô dụng (ít nhất là phần thuộc lãnh hải Viêt Nam).

    Điều đó (đậm) là rõ ràng hiển nhiên.

    Nhưng phải hỏi các câu hỏi thực tế, eg,

    1. Tới năm nào thì toà án quốc tế công nhận Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trường Sa mà VNCH nắm giữ trước 1974 là thuộc chủ quyền của Quốc Gia Viêt Nam? I.e. tới năm nào thì Trung Đế Quốc mới chịu ra tòa?

    2. Từ đây đến năm đó (vô hạn định) thì TQ sẽ làm thêm gì để siết chặt thêm sự kiểm soát trên biển? Đóng thêm giàn khoan. Cản trở các cty dầu khí nước ngoài làm việc với VN. Thêm tàu đánh cá, ngư chính, hải giám. Mạo cớ bảo vệ môi trường, tuần tra chống hải tặc, cứu nạn, nghiên cứu khoa học biển, vv.

    Vì vậy, VN phải cùng các nước khác giới hạn vùng tranh chấp và kiếm sự ủng hộ của Mỹ cho việc giới hạn vùng tranh chấp đó. Dĩ nhiên chúng ta vẫn giữ vững quan điểm HSTS là của VN, nhưng không cần phải lúc nào cũng phải lấy "HSTS là của VN" ra làm tiên đề, điều kiện cho các nước khác trong việc hợp tác chống TQ (tất nhiên chúng ta cũng không bao giờ nên công nhận HSTS là của nước nào khác).

    Bác có thể xem quan điểm của tôi và 1 bác QNCBĐ khác ở đây:

    http://the-diplomat.com/asean-beat/2011/10/20/a-south-china-sea-plan/

    Các bác cãi nhau dựa nhiều vào cảm tính cá nhân và dựa vào tài liệu mà các bác đọc thấy hợp tai chớ không dựa trên sự thật (facts) mà thế giới biết quá rõ. Và những sự thật nầy không biết khi ra toà án quốc tế thì người có thẩm quyền (quan toà) có dựa theo đấy mà phán quyết hay không? Nên nhớ với sức mạnh của tiền tài và quyền lực, các cường quốc (Mỹ và Trung Quốc) có thể khuynh đảo “công lý” dù là quốc tế theo chiều hướng mình muốn!

    Về Công hàm (Diplomatic Note) 1958 của ông Phạm Văn Đồng thì tuỳ theo phân tích dựa trên khoảng thới gian nào. Nếu phân tích dựa trên khoảng thời gian trước 30/4/1975 thì không có giá trị pháp lý vì không sử dụng “estoppel doctrine” được. Nếu phân tích dựa vào khoảng thời gian sau 30/4/1975 thì có thể sử dụng “estoppel doctrine” được vì rõ ràng là VNDCCH đã vi phạm Hiệp Định Paris 1973, tấn công chiếm đóng VNCH, CP CHLTMNVN (PRG) chỉ là một chính phủ, chưa có cơ sở pháp lý là quốc gia VNCH. Trung Quốc với tiền tài, quyền lực và mưu mô có thể nói rằng CHXHCNVN hiện nay là một tên mới của VNDCCH (đây là sự thật mà thế giới đều biết). Có gì đảm bảo là Trung Quốc sẽ không theo chiều hướng nầy? Và cũng có thế, những gì họ nói bề mặt chỉ là một kế “điệu hổ ly sơn”. Thế thì có nên tìm giải pháp nào tốt nhất cho Việt Nam?

    Tôi không rõ là bác Dương Danh Huy có chủ trương “tạm bỏ qua tranh chấp biển đảo để phân định hải phận với các nước” hay không?, nếu có thì tôi không hiểu tại sao bác ấy lại muốn tranh đấu để thế giới công nhận HSTS là của Việt Nam. Cái “lưỡi bò” thì cả thế giới đều “cười” vì phi lý, phi pháp. Nếu toà án quốc tế công nhận Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trường Sa mà VNCH nắm giữ trước 1974 là thuộc chủ quyền của Quốc Gia Viêt Nam (The State of Vietnam) thì đương nhiên là đường “luỡi bò” vô dụng (ít nhất là phần thuộc lãnh hải Viêt Nam).

    Bác KQĐ thấy không? Chưa ai chụp mũ bác mà bác đã giãy nảy lên rồi. Vậy mà bác năm này qua năm nọ núp sau hết nick này đến nick nọ lên internet chụp mũ người khác một cách rất anh hùng và hồn nhiên.

    Điều cơ bản bác và bác Trương Nhân Tuấn cần hiểu là nếu đúng là VNDCCH đã bị estopped và đúng là CHXHCNVN = VNDCCH thì không có chiêng trống, thần chú nào có thể xóa bỏ cái estoppel đó.

    Vì vậy chiến lược pháp lý để phản biện TQ là cho rằng CHXHCNVN không bị vướng estoppel, eg, bằng 1 trong những cách sau.

    1) Phản biện rằng VNDCCH đã không vướng đủ các điều kiện của estoppel. TS Từ Đặng Minh Thu đã bắt đầu phản biện đó, và chúng ta cần triển khai thêm, xem chỗ nào mạnh/yếu.
    2) Phản biện rằng trên diện pháp lý CHXHCNVN không phải chỉ là VNDCCH.
    3) Làm cả 2 điều trên.

    Và làm như thế không phải là "tự RU NGỦ bằng những lời LẤP LIẾM, CHE GIẤU, TỰ TRẤN AN một cách ngu ngơ (vì sợ nhân dân VN nhận ra những TỘI LỖI của ĐCSVN khi ký cái công hàm này) như một số "trí thức phò Đảng" đã và đang ra rả ngày đêm."

    Sự thật tôi cho rằng bác không phải là phò TQ mà là (a) bác không hiểu về luật quốc tế, hay (b) bác sẵng sàng làm điều có lợi cho TQ (dù bác không phò TQ) miễn là điều đó chửi CS (đó là mục đích của bác).

    Dĩ nhiên là bác chửi CS thì là chuyện của bác, không phải chuyện tôi quan tâm, nhưng nếu chửi sao cho không có lợi cho TQ trong tranh chấp HSTS thì tốt hơn.

    Tôi có 1 ý kiến với ông KQĐ , không phạm lỗi lạc quẻ , sát đề tài và chỉ ra cái mâu thuẫn trong lập luận của ông KQĐ với thực tiễn . Vậy không hiểu sao BBT Dân Luận lại giấu nó đi và cuối cùng để 2 ông KQĐ và D D H đá đi đá lại nói móc lẫn nhau .
    Mong BBT DL đăng ý kiến mà tôi đã góp với ông KQĐ khi ông ấy cho rằng VN không thể lấy được HS và TS vì TQ đang dử dụng CH PVĐ làm vũ khí PHÁP LÝ và TUYÊN TRUYỀN .

    Dương Danh Huy viết:
    KQĐ bảo là đưa ra để cho chúng ta biết người để tìm cách đối phó nhưng người ta tìm cách phản biện thì nick ấy lại bảo là "không nên tự RU NGỦ bằng những lời LẤP LIẾM, CHE GIẤU, TỰ TRẤN AN một cách ngu ngơ (vì sợ nhân dân VN nhận ra những TỘI LỖI của ĐCSVN khi ký cái công hàm này) như một số "trí thức phò Đảng" đã và đang ra rả ngày đêm."

    Nếu có người muốn có phong cách chụp mũ như KQĐ thì người ta cũng có thể chụp mũ KQĐ là "trí thức phò TQ", nhưng hai cái bẩn không làm thành 1 cái sạch.

    Cám ơn ông Dương Danh Huy đã có nhã ý tặng cho tôi cái DANH DỰ là "trí thức phò TQ". Rất tiếc tôi khó mà dám nhận hai chữ TRÍ THỨC (như ai đó đã có học hàm Tiến sĩ). Tôi không may mắn được học hành giỏi dang đến nơi đến chốn, học cao như ai đó, nên cùng lắm là tôi được mang DANH DỰ là "người Việt phò TQ" (cũng ngang cơ với loại "người Việt YÊU Phi" của ai đó mà có người tặng cho). Có điều được là "người Việt phò TQ", e rằng tôi phải lên tiếng CA TỤNG TQ mỗi khi chúng bắn giết những ngư dân Việt, hoặc đâm chìm tàu thuyền ngư dân Việt ở HS, TS. Tôi phải CA TỤNG Đảng "ta" khi Đảng cho TQ vào chiếm đóng vị trí quân sự trọng yếu ở Tây Nguyên với danh nghĩa khai thác bôxit, hay CA TỤNG cụ Thủ tứong Phạm Văn Đồng nức nở khi cụ Đồng của "ta" ký cái công hàm 14/9/1958 dâng HS, TS cho TQ. Tiếc thay, tôi chưa làm được những điều này, vì khả năng "PHÒ" của tôi còn quá kém so với ai đó. Nghĩa là, để được qualified là "người phò TQ", tôi phải không bao giờ DÁM ngang nhiên chống lại những gì TQ đã nói hay làm, cho dù điều này có hại cho VN đến bao nhiêu chăng nữa. Cũng vậy, để ai đó được VINH DỰ gọi là "trí thức phò Đảng", thì ai đó phải làm TẤT CẢ những gì Đảng muốn, dù điều đó có hại cho Tổ quốc chăng nữa cũng mặc. Thí dụ, Đảng muốn bỏ qua tranh chấp HS, TS (mặc dù TQ đang CƯỠNG ĐOẠT HS và nhiều đảo ở TS) để cùng ông "bạn vàng" TQ thảo luận phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, thì ai đó phải lập tức dùng những tài năng thiên phú của một trí thức lỗi lạc để VIẾT BÀI kêu gọi phải KHÔN NGOAN tạm bỏ qua tranh chấp biển đảo để phân định hải phận với các nước. Cái hay ở đây là ai đó biết cách tổng quát hóa vấn đề, thay vì chỉ phân định với TQ, nay phân định với các nước, và biết thêm chữ TẠM để ra tuồng là ai đó cũng như Đảng không hề có ý định BỎ ĐẢO, mặc dù ai đó biết quá rõ ý đồ BỎ ĐẢO, GIỮ BIỂN của Đảng "ta". Cũng thế, khi Đảng HÈN không dám ra mặt ủng hộ Phi trong tranh chấp ở Scarborough, phải dùng ai đó để nói thay cho Đảng, thì ai đó sẽ làm sao cho bằng được VIẾT BÀI thảm thiết kêu than da diết nào có ai cứu Phi chăng, và sau đó, ai đó sẽ gửi thư cùng người khác lên tiếng ỦNG HỘ Phi. Để qualified là "trí thức phò Đảng", thì ai đó còn làm nhiều điều THAY THẾ cho Đảng, trong khi ai đó BIẾT THỪA ĐI là Đảng đếch thèm làm cái cóc gì cả (vì quá sợ TQ, hay vì đã lở bán mẹ nó mất mấy cái quần đảo rồi).

    Thế đấy, dù rất muốn được hưởng cái DANH là "trí thức" như ai đó, lại được thêm cái HỢP THỜI, HỢP ĐẠO là "phò TQ", siêu cường đang lên, người thầy vĩ đại, người đồng chí anh em, người láng giềng môi răng của "cụ" Hồ và Đảng "ta", nhưng TIẾC THAY tôi khó lòng làm nổi cái nghề "trí thức phò Tàu" mà ai đó đã có lòng ban cho. Xin chân thành cảm tạ, và xin gửi tặng lại ai đó để xài.

    KQĐ bảo là đưa ra để cho chúng ta biết người để tìm cách đối phó nhưng người ta tìm cách phản biện thì nick ấy lại bảo là "không nên tự RU NGỦ bằng những lời LẤP LIẾM, CHE GIẤU, TỰ TRẤN AN một cách ngu ngơ (vì sợ nhân dân VN nhận ra những TỘI LỖI của ĐCSVN khi ký cái công hàm này) như một số "trí thức phò Đảng" đã và đang ra rả ngày đêm."

    Nếu có người muốn có phong cách chụp mũ như KQĐ thì người ta cũng có thể chụp mũ KQĐ là "trí thức phò TQ", nhưng hai cái bẩn không làm thành 1 cái sạch.

    Như tôi đã nói, các ý kiến như của Stein Tonnesson, Greg Austin chỉ là ý kiến để tham khảo, để so sánh với các ý kiến khác, để phản biện thôi.

    Stein Tonnesson là 1 sử gia, không phải là luật sư, mà ông này hơi thiên vị cho TQ: ông này cho rằng Việt Nam nên chấp nhận là HS là của TQ và cho rằng HS có vùng đặc quyền kinh tế, có nghĩa TQ có thể lấn vào vun`ng biển miền Trung của VN. Tức là ông ấy muốn VN bị thiệt hại cả biển lẫn đảo.

    Vấn đề mới mấy ông/mấy nick Hoàng Trường Sa (talawas), Khách Qua Đường (Dân Luận) là mấy ông/mấy nick năm nay qua năm khác tung hô những ý kiến như của Tonnesson, Austin lên thành chân lý, sự thật, một cách rất một chiều.

    Thí dụ như khía cạnh estoppel thì 2 ông đó cũng chỉ nói "estoppel" chứ không phân tích xem có thật là VNDCCH có mắc đủ các điều kiện để dính estoppel hay không, trong khi TS Từ Đặng Minh Thu đã phân tích là không đủ các điều kiện để VNDCCH dính estoppel. Thế nhưng mấy ông/mấy nick Hoàng Trường Sa (talawas), Khách Qua Đường (Dân Luận) vẫn tung hô "estoppel" một cách một chiều, không dựa trên phân tích. Xét thêm các phiên tòa quốc tế thì tôi cho rằng TS Từ Đặng Minh Thu đúng hơn.

    Còn khía cạnh trên diện pháp lý CHXHCNVN có phải là duy nhất 1 quốc gia VNDCCH, hay là 2 quốc gia bắc và nam vĩ tuyến 17 sáp nhập lại với nhau thành 1 thì mấy ông/mấy nick Hoàng Trường Sa (talawas), Khách Qua Đường (Dân Luận) cũng nằng nặc cho rằng quan điểm của TQ, Tonnesson, Austin là đúng, trong khi có nhiều chứng cứ pháp lý cho thấy CHXHCNVN là 2 quốc gia bắc và nam vĩ tuyến 17 sáp nhập lại với nhau thành 1. GS Chemillier-Gendreau cũng cho rằng CHXHCNVN có quyền thừa kế từ cả 2 quốc gia ở MB và MN.

    HTS/KQĐ cũng tung hô Greg Austin lên bằng GS Chemillier-Gendreau. Trên thực tế, GS Chemillier-Gendreau là GS luật quốc tế, có nhiều publications trong lãnh vực luật quốc tế. Greg Austin tuy có PhD về luật quốc tế nhưng nghề nghiệp của ông ấy là trong nghành chính trị chứ không phải luật như GS Chemillier-Gendreau.

    Một thí dụ khác cho thấy về suy nghĩ một chiều (chiều có hại cho VN) của KQĐ/HTS là họ biết tung hô "estoppel" theo hướng tấn công chủ quyền Việt Nam, nhưng họ bỏ qua estoppel theo hướng bênh vực chủ quyền Việt Nam. Thí dụ như chính TQ đã công nhận CP CHMNVN là chính phủ hợp pháp và duy nhất của Việt Nam nên sẽ có vấn đề estoppel nếu ngày nay TQ cãi rằng quyết định của CP CHMNVN về sáp nhập với VNDCCH là không hợp pháp. Mà từ năm 76 tới nay TQ cũng chưa bao giờ nói đó là không hợp pháp. Vì vậy sẽ có v/đ estoppel nếu TQ nói CHXHCNVN = VNDCCH.

    Công hàm Phạm Văn Đồng, dù muốn dù không, cũng gây ra vô vàn TAI HẠI cho chủ quyền của VN trên hai quần đảo thiêng liêng HS và TS của Tổ quốc ta. TQ đã sử dụng nó như là một VŨ KHÍ TUYÊN TRUYỀN trước nhân dân toàn thế giới cho cái gọi là “chính nghĩa” của Tàu khi xâm lấn HS, TS của ta, và họ đã rất thành công. TQ chắc chắn sẽ sử dụng nó như một VŨ KHÍ PHÁP LÝ trong tranh chấp chủ quyền với VN về HS và TS trước một Tòa án Quốc tế nếu họ bắt buộc phải chịu ra tòa với VN để tìm giải pháp cho HS, TS.

    Chắc chắn người Việt ta phải tìm mọi cách để HÓA GIẢI cái Công hàm ô nhục, phản quốc này, bằng tất cả mọi phương sách có thể thực hiện được. Muốn thế, ta cần phải TRƯỚC TIÊN tìm hiểu các nhà luật học, các học giả thế giới nghĩ gì về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ, và tìm cách ĐỐI PHÓ, chứ không nên tự RU NGỦ bằng những lời LẤP LIẾM, CHE GIẤU, TỰ TRẤN AN một cách ngu ngơ (vì sợ nhân dân VN nhận ra những TỘI LỖI của ĐCSVN khi ký cái công hàm này) như một số "trí thức phò Đảng" đã và đang ra rả ngày đêm. Bởi vì biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Dù trái tai và đau xót đến đâu, ta cũng cần lắng nghe những ý kiến của các chuyên gia quốc tế để tìm hiểu SỰ THẬT và từ đó tìm ra giải pháp TỐI ƯU để bảo vệ HS, TS, để GIỮ CHO BẰNG ĐƯỢC tài sản thiêng liêng mà cha ông ta đã tốn bao mồ hôi, nước mắt, và cả bằng máu, để gầy dựng và truyền lại cho chúng ta và con cháu mai sau.

    Rất tiếc là đối với một số luật gia và nhà nghiên cứu quốc tế (như Tiến sĩ GREG AUSTIN của Úc và Tiến sĩ STEIN TONNESSON của Thụy Điển ), Công hàm Phạm Văn Đồng đã ét-tốp (estopped), tức là vô hiệu hóa, chủ quyền của VN trên Hoàng Sa (và Trường Sa) – như trong bài dưới đây:

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ét-tốp (estopped) tuyên bố chủ quyền của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Greg Austin)

    (trích cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của Greg Austin, trang 126-130)

    Những lý lẽ mạnh nhất do nước CHND TH (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa – ghi chú của Trúc Lê) đưa ra để hỗ trợ cho những tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa là các tuyên bố này đã được thừa nhận bởi quốc gia kế tục An Nam, nước VNDCCH (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – ghi chú của Trúc Lê), sau khi được độc lập đã lâu từ nước Pháp vào năm 1945. Nước CHND TH đã nêu ra những lý lẽ trên trong bức thư do Đại Diện Thường Trực của CHND TH gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 11 năm 1980.[96] Bức thư khẳng định:

    Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc từ thuở xa xưa… Đây là một sự kiện mà phía Việt Nam, qua các tuyên bố và các công hàm của chính phủ, qua các báo chí và tập san và qua các bản đồ và sách giáo khoa, đã nhiều lần trịnh trọng lên tiếng thừa nhận và tôn trọng.[97]

    Nước CHND TH nêu ra một công hàm ngoại giao do ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNDCCH, gửi cho CHND TH ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của nước CHND TH vào năm 1958.[98] Công hàm của ông Phạm Văn Đồng không đặc biệt đề cập đến Quần đảo Hoàng Sa nhưng bởi vì bản tuyên bố của CHND TH có đề cập đến quần đảo này, CHND TH cho rằng việc thiếu sót của Việt Nam đã không phản kháng việc ghi quần đảo này như lãnh thổ của CHND TQ là một minh chứng rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận tuyên bố chủ quyền này của CHND TH.[99] Bức thư, trích dẫn công hàm của Việt Nam, đã nói rằng Việt Nam “thừa nhận và ủng hộ” bản tuyên bố và “tôn trọng quyết định này” của CHND TH.[100] Vào ngày 6 tháng 9 năm 1958, Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Lao Động Việt Nam, đã đăng trang trọng lên trang đầu đầy đủ tất cả mọi chi tiết của bản tuyên bố của CHND TH mà không bình luận gì hết.[101] Tờ nhật báo này được xem như là ấn loát chính thức của chính quyền do sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng Lao Động trên chính quyền.

    Ngày 9 tháng 5 năm 1965, chính phủ nước VNDCCH ra tuyên bố về việc phân chia các vùng giao tranh dọc duyên hải Việt Nam của Hoa Kỳ.[102] Tuyên bố này của VNDCCH đã diễn tả vùng giao chiến này là xâm phạm “vùng biển của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc”. Vào ngày 13 tháng 5 năm 1969, báo Nhân Dân tường thuật một vụ xâm phạm của phi cơ Hoa Kỳ trên “Đảo Yongxing và Đảo Đông thuộc Quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc”.[103] Nước CHND TH tuyên bố rằng nhiều bản tường thuật tương tự như thế đã được báo chí Việt Nam đưa ra.[104]

    Nước CHND TH cũng nêu ra các tuyên bố của một vị Thứ trưởng Ngoại giao và một công chức cao cấp trong Bộ Ngoại giao năm 1956 ủng hộ chủ quyền của CHND TH trên các Quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa).[105]

    Trong cuốn Bạch Thư 1979 của nước CHXHCN VN gửi kèm theo một bức thư cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, sự thiếu vắng các hành động của VNDCCH và CHXHCN VN trong việc bảo vệ cái mục đích chủ quyền của Việt Nam là đáng kinh ngạc. Tất cả mọi hành động từ năm 1955 đến 1974 được nêu ra trong Bạch Thư đều do “nhà cầm quyền Sài Gòn” thực hiện. Tuyên bố minh bạch đầu tiên của VNDCCH và CHXHCN VN về chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa chỉ xuất hiện vào tháng 6 năm 1976 cùng lúc với bản đồ chỉ rõ Hoàng Sa là lãnh thổ của VNDCCH.[106] Phản ứng chính thức của chính phủu VNDCCH đối với việc CHND TH dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 cũng chỉ giới hạn trong một thời gian dài vào một tuyên bố đưa ra khoảng độ một tháng sau trận đánh:

    …những tranh chấp lãnh thổ và biên giới phức tạp thường xảy ra giữa các nước láng giềng đòi hỏi sự thẩm xét thận trọng và cẩn mật. Các quốc gia liên hệ cần nên giải quết các tranh chấp như thế qua các thương thuyết và trong tinh thần láng giềng hữu nghị.[107]

    Trong tất cả mọi bằng chứng do CHND TH đưa ra như là chứng cớ là VNDCCH đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, bằng cớ có tính kết luận nhất có thể là cái công hàm của Thủ Tướng VNDCCH ủng hộ tuyên bố lãnh hải của CHND TH. Công hàm này là một văn kiện trao đổi từ một chính phủ gửi cho một chính phủ khác. Và chủ đề của công hàm là về chủ quyền lãnh thổ trên, gồm cả, Quần đảo Hoàng Sa; và nước VNDCCH không những đã không phản kháng chủ quyền do CHND TH đưa ra mà lại còn ủng hộ nó. Như đã đề cập trong Phụ lục I, vài tác giả cho rằng luật quốc tế rất rõ ràng về điểm nói rằng một khi mà một nước đã thừa nhận tư cách chủ quyền [của một nước khác] thì nước đó trong tương lai sẽ không còn được thụ lý trong việc tranh chấp về tính hợp pháp của chủ quyền của nước đó nữa. Như thế, chỉ qua hành động này thôi nước VNDCCH có thể đã bác bỏ (ét-tốp) bất cứ quyền nào của họ trong việc tranh chấp tư cách chủ quyền với CHND TH về các đảo này.

    Tuy nhiên CHND TH không cần nghỉ ngơi –và họ đã không nghỉ ngơi- trên hành vi ét-tốp-pen (estoppel) này. Một số những hành động khác của VNDCCH do CHND TH nại ra trên đây có thể được sử dụng như là bằng cớ thừa nhận của VNDCCH về tuyên bố chủ quyền của CHND TH.[109] Những hành động này gồm có việc xuất bản thường xuyên của các cơ quan chính quyền VNDCCH các bản đồ ghi rõ Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.[109] Mặc dù các bản đồ này không phải là bằng chứng bó buộc của sự thừa nhận của VNDCCH, tuy nhiên một cách hợp lý ta có thể xem chúng như là bằng cớ của một niềm xác tín trong chính phủ VNDCCH rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.

    Quan trọng hơn nữa, việc VNDCCH không phản kháng sự chiếm đóng một phần hay toàn thể Quần đảo Hoàng Sa trong một thời gian 20 năm từ 1955 tới 1975 hầu như chắc chắn sẽ được diễn giải như là một sự thừa nhận.[110] Đáng lưu ý đặc biệt là sự thất bại của VNDCCH đã không lên tiếng phản đối việc CHND TH đã dùng vũ lực chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa vào đầu năm 1974 và sự thất bại sau đó của VNDCCH trong việc phản kháng việc chiếm giữ này cho đến khi các liên hệ chính trị đã suy sụp trầm trọng, làm cho tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN có vẻ như là một tuyên bố chính trị thay vì một tuyên bố pháp lý.

    Ý nghĩa pháp lý của việc thừa nhận của VNDCCH là như sau đây. Trong các trường hợp phân xét quyền sở hữu bất lợi về lãnh thổ, việc thừa nhận là điều cốt yếu trong tiến trình tậu được tư cách chủ quyền.[111] Các tuyên bố của CHXHCN VN về sự chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa của CHND TH là một sự sở hữu bất lợi như thế. Vậy mà trong suốt 20 năm chính phủ VNDCCH đã giữ im lặng. Trong hoàn cảnh của việc tranh chấp lãnh thổ này, thực không phải là không hợp lý nếu CHND TH lý luận rằng VNDCCH có nhiệm vụ phải phản kháng việc chiếm đóng nếu họ mong muốn giữ được bất cứ quyền nào tại đây.

    Câu trả lời duy nhất mà CHXHCN VN có thể nêu ra trước những phản bác như thế là một khi nhà cầm quyền Sài Gòn (nước VNCH) còn phản kháng và chống đối bằng hành động cụ thể trước việc chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa, thì không cần gì phải có thêm sự phản kháng và chống đối của VNDCCH nữa. Nước CHXHCN VN có thể lập luận rằng họ là quốc gia kế tục của VNCH, cho nên họ được thừa hưởng mọi quyền lợi của VNCH trong việc tranh chấp lãnh thổ với CHND TH. Tuy nước CHXHCN VN không nói rõ ra điều này nhưng trong các tuyên bố của họ đã rõ là có hàm ý điều đó. CHXHCN VN cũng lý luận rằng do hoàn cảnh cực kỳ khó khăn mà họ đã phải đối diện trong suốt cuộc nội chiến kéo dài họ bắt buộc phải tập trung toàn lực để đối phó với những vấn đề quan trọng hơn là việc về chủ quyền trên các đảo bị tranh chấp.[112]

    Tuy nhiên những phản biện này đã không đi vào vấn đề chính. Giá mà VNDCCH giữ im lặng, thì vấn đề có lẽ vẫn còn được bỏ ngỏ. Nhưng những bước chủ động do VNDCCH thực hiện để thừa nhận hoàn toàn mà không có chút ngần ngại lưỡng lự trước tuyên bố của CHND TH về chủ quyền lãnh hải trong đó có liệt kê Quần đảo Hoàng Sa như là lãnh thổ của CHND TH đã tạo cho CHND TH các căn cứ hợp lý để tin rằng VNDCCH đã không có cùng chủ quyền giống như VNCH đối các đảo này. Nếu VNDCCH giữ lại một chút kỳ vọng chủ quyền nào trên các đảo này, thì hầu như chắc chắn là họ bắt buộc phải đăng ký lập trường này khi họ nhận được lập trường chính thức trong bản tuyên bố chủ quyền của CHND TH. Sự thiếu vắng sau đó của phản kháng của VNDCCH/CHXHCNVN trong 20 năm đã nhân lên nhiều lần hiệu quả bất lợi cho CHXHCN VN trước sự thừa nhận của VNDCCH năm 1958.

    Hiệu quả pháp lý của sự bác bỏ quyền thụ lý này chỉ giới hạn vào các hành vi trước khi CHXHCN VN thay đổi chính sách và tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa.

    CHXHCN VN hoàn toàn có tự do thay đổi chính sách và đăng ký tuyên bố chủ quyền, nhưng việc bị bác bỏ (ét-tốp) có nghĩa là, khi tuyên bố chủ quyền, CHXHCN VN chỉ được phép dựa vào những biến cố sau ngày thay đổi chính sách để hỗ trợ cho tuyên bố của mình. Cơ sở duy nhất cho tuyên bố chủ quyền này là kỳ vọng chủ quyền chứa đựng trong các tuyên bố và các bản văn lập pháp của CHXHCN VN sau năm 1975, không đủ sức mạnh để trục bỏ tư cách chủ quyền do CHND TH và nước Trung Hoa thành lập qua việc thực thi chủ quyền trên các đảo này giữa các năm 1920s và thời điểm này.

    Kết luận

    Tuyên bố chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa có lẽ nên được xem như là đã được chứng minh bởi những bằng cớ trong thảo luận trên đây, chủ yếu là dựa vào cơ sở của sức mạnh tương đối của các tuyên bố chủ quyền của CHND TH so sánh với các tuyên bố của CHXNCN VN, đặc biệt là trước “thời điểm tới hạn” hợp lôgic nhất là năm 1931.

    Kết luận này không dựa vào các tuyên bố quyền sở hữu lâu đời. Sự thiếu sót bằng cớ rõ ràng về hành sử qua tư cách chủ quyền của cả hai phía Việt Nam hay Trung Quốc trong thời trung cổ đã làm hao mòn (yếu đi) giá trị của các tài liệu do hai bên trưng dẫn thuộc giai đoạn trước năm 1816. Trong khi Việt Nam có lẽ đã thành lập được tư cách chủ quyền hợp pháp qua việc sáp nhập vào năm 1816 và qua các cuộc thám sát theo sau, nhưng có vẻ là Pháp quốc, như là chính quyền bảo hộ sau 1884, đã ngự trị gây nên sự thất cách của tư cách pháp nhân của An Nam được thành lập trước đó- qua sự thất bại đã không phản kháng và ngăn cản việc hành sử chủ quyền thường xuyên của người Trung Hoa trong một khoảng thời gian đáng kể và qua sự thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa trễ nhất là năm 1929.

    Giá mà nước Pháp giữ được tư cách chủ quyền, thay mặt cho An Nam, từ những năm 1830s tới 1931, thì có lẽ là tư cách này có thể được nước CHXHCN VN tuyên bố như là quốc gia kế tục của VNCH, trên cơ sở là VNCH đã giữ được khẳng định chủ quyền và sự hiện diện cụ thể trên các đảo này kể từ lúc Pháp rút ra khỏi Đông Dương cho đến năm 1974.
    Tuy nhiên, có nhiều căn bản đáng kể để kết luận rằng việc VNDCCH thừa nhận chủ quyền của CHND TH trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1958 và việc họ đã không phản kháng tuyên bố của Trung Quốc trong thời gian từ 1958 đến 1975 đã tạo ra một ét-tốp-pen [tức là bác bỏ quyền thụ lý tranh chấp - lời người d ịch) đối với tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN trên Quần đảo Hoàng Sa.

    Trọng lượng bằng chứng có vẻ cho thấy khẳng định chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa là mạnh hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Greg Austin

    Ah, xin lỗi bác, copy & paste error. Cái đó là bác Hồng Lạc viết.

    slinkee viết:
    slinkee viết:

    Chúc bác Dương Danh Huy và QNCBĐ thành công đòi lại HSTS đã mất về tay Đại Hán Trung Quốc. Cũng chúc thế giới công nhận CHXHCNVN không có tù nhân chính trị, chỉ có phạm nhân! (phạm điều 79 và điều 88 bộ LHS)

    Cái này không do tớ viết .

    Thật ra quan điểm của Greg Austin (CHXHCNVN chỉ thừa kế từ VNDCCH, không thừa kế từ VNCH/CHMNNV) là tương đương với quan điểm mà TQ đã dùng và đăng trên website BNG họ cả chục năm rồi, cho nên không phải không biết về quan điểm của Greg Austin thì không biết TQ có thể dùng lập luận gì.

    Tuy nhiên, biết Greg Austin nghĩ gì như 1 ý kiến để tham khảo, để phản biện thì cũng tốt (tôi đã nói điều đó rồi).

    Nhưng không phải là bác năm này qua năm khác bác báo động quan điểm của Greg Austin để người khác phản biện, mà là chính bác cũng theo quan điểm của Greg Austin là CHXHCNVN chỉ thừa kế từ VNDCCH, không thừa kế từ VNCH/CHMNNV, và chính bác cho rằng ngày nay CHXHCNVN không có chủ quyền đối với HSTS.

    Dường như (nếu tôi hiểu lầm thì cho tôi xin lỗi) bác muốn người Việt tin là

    a) ngày nay CHXHCNVN không có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS, và
    b) phải làm như bác TNT đề nghị thì mới có.

    phải không?

    Ý tôi nói là:

    • Bác muốn người Việt tin điều (a) là muốn điều có hại. Đang trong 1 cuộc tranh chấp khó khăn mà lại làm cho phe mình tin là mình không có chủ quyền hợp pháp thì là dại.
    • Nếu làm như bác TNT đề nghị thì không thay đổi gì. Nếu CH PVĐ là có giá trị pháp lý giữa VN và TQ thì VN không thể đơn phương phủ nhận nó. Nếu có thể đơn phương phủ nhận nó thì là nó không có giá trị pháp lý.
    Khách Qua Đường viết:
    Dương Danh Huy viết:
    Cảm ơn bác Hồng Lạc và slinkee về lời chúc của hai bác.
    slinkee viết:
    Chúc bác Dương Danh Huy và QNCBĐ thành công đòi lại HSTS đã mất về tay Đại Hán Trung Quốc. Cũng chúc thế giới công nhận CHXHCNVN không có tù nhân chính trị, chỉ có phạm nhân! (phạm điều 79 và điều 88 bộ LHS)

    Nếu Trung Đế Quốc không chụu ra Tòa thì không CP nào đòi lại được HS và phần TS bị chiếm, chứ đừng nói đến cá nhân.

    Điều chúng tôi cố gắng làm là nói với người Việt và người nước ngoài là nước Việt Nam ngày nay có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS. Ngược với Hoàng Trường Sa (talawas), Khác Qua Đường (Dân Luận), vv, đi theo và quảng bá quan điểm như của Greg Austin là Việt Nam ngày nay không có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS.

    Đoạn in đậm là không liên quan gì đến vấn đề chúng ta đang nói tới.

    slinkee viết:
    Chúc các bác may mắn trong việc chứng minh VNDCCH không phải là CHXHCNVN!

    Cảm ơn bác. Nếu trên diện pháp lý CHXHCNVN = VNDCCH thì có lẽ chủ quyền của VN đối với HSTS đã chết cùng với VNCH/CHMNVN rồi. Và nếu thế thì bây giờ đi khua chiêng gõ trống, niệm thần chú, liên quan đến chính thể đã chết (VNCH/CHMNVN), hay làm cho chính thể đó sống lại, thì cũng không làm cho chủ quyền của VN đối với HSTS sống lại được.

    Ông Dương Danh Huy nói SAI HOÀN TOÀN. Ai cũng rõ là trong mọi tranh chấp, hay tranh đấu nói chung, thì câu biết người biết ta trăm trận trăm thắng là điều cần luôn luôn ghi nhớ. Những gì tôi đưa ra là quan điểm của một học giả Úc, tiến sĩ Greg Austin, chuyên gia môn công pháp quốc tế, phân tích về những LÝ LẼ PHÁP LÝ của hai phía CHXHCNVN và CHNDTH về chủ quyền của hai nước VN và TQ trên Hoàng Sa. Ông này nêu ra những lý lẽ mà cả hai phía VN và TQ có thể đưa ra, trong đó có nhận định quan trọng là do VNDCCH đã phạm lỗi estoppel do Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 và do những tuyên bố đơn phương và những sự thừa nhận chủ quyền TQ trên HS của phía VNDCCH, và ngoài ra do lỗi của Pháp đã không phản đối các hoạt động để “thụ đắc” HS của phía TQ trong khoảng thời gian từ 1909 đến 1931, nên tuyên bố chủ quyền của TQ có phần ƯU THẮNG so với CHXHCNVN. Đây là những SỰ KIỆN (FACTS) mà phía VN ta cần phải BIẾT để tìm cách HÓA GIẢI và đem lại THẮNG LỢI cho VN, là bảo vệ được HS và TS, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc ta. Thay vì chỉ ru ngủ, lấp liếm những LỖI LẦM của ĐCSVN từ thời ông Hồ đến nay và chạy theo đuôi, làm những gì ĐCSVN muốn (dù phải hy sinh cả HS, TS) như một số “trí thức phò Đảng” đang làm. Lấp liếm sự nguy hại của Công hàm PVĐ bằng những câu ru ngủ, tự uống thuốc an thần rằng Công hàm này không sao đâu, nó không có giá trị v.v…, liệu là TỐT HƠN hay là tìm cách PHỦ NHẬN nó và tìm phương sách giành lại tố quyền cho VN đã bị đánh mất vì cái Công hàm ô nhục này (như ông Trương Nhân Tuấn đề nghị)?
    Thử hỏi ông HUY rằng nếu tôi không đưa ra đây quan điểm của Tiến sĩ Greg Austin thì liệu phía TQ họ có biết hay chăng, khi quan điểm này được nêu ra trong một cuốn sách bằng Anh ngữ, xuất bản đã hơn chục năm trước? Nếu ta KHÔNG BIẾT GÌ CẢ, mà chủ quan khinh địch, liệu ta có thể TẤT THẮNG trong việc tranh chấp với TQ về HS và TS hay chăng? Vấn đề cần phải tự hỏi là tại sao chủ quyền của VN trên HS rất rõ ràng, HS vốn là lãnh thổ của VN từ ít nhất là từ thời vua Gia Long (tức là từ 1802), tại sao hôm nay lại lâm vào nguy cơ có thể bị từ khước trên mặt công pháp quốc tế (như ông Greg Austin đã nghĩ)? Nếu VNDCCH không ký cái Công hàm ô nhục 14/9/1958 để phải phạm lỗi estoppel, hay nếu VNDCCH không xâm lăng và xóa sổ VNCH (chính quyền kế thừa hợp pháp của HS từ triều Nguyễn) vào năm 1975, hay nếu CHXHCNVN, sau ngày 30/4/1975, chịu để cho CPLTNVN ra mắt chính phủ và tuyên bố thay thế Chính phủ VNCH, công bố Hiến pháp mới của nước VNCH (hay ngay cả nước Cộng Hòa Nam Việt Nam nếu muốn), tiếp nối thừa kế các chính quyền miền Nam trước đó, thì thế giới bây giờ đâu có ai đặt vấn đề rằng CHXHCNVN chỉ đơn giản là VNDCCH được ĐỔI TÊN sau năm 1976 (như ông Greg Austin đã nhận định, mà người VN nào sống qua giai đoạn 1975 đến hôm nay, đều phải ĐỒNG Ý, dù muốn hay không)?

    slinkee viết:

    Chúc bác Dương Danh Huy và QNCBĐ thành công đòi lại HSTS đã mất về tay Đại Hán Trung Quốc. Cũng chúc thế giới công nhận CHXHCNVN không có tù nhân chính trị, chỉ có phạm nhân! (phạm điều 79 và điều 88 bộ LHS)

    Cái này không do tớ viết .

    Dương Danh Huy viết:
    Cảm ơn bác Hồng Lạc và slinkee về lời chúc của hai bác.
    slinkee viết:
    Chúc bác Dương Danh Huy và QNCBĐ thành công đòi lại HSTS đã mất về tay Đại Hán Trung Quốc. Cũng chúc thế giới công nhận CHXHCNVN không có tù nhân chính trị, chỉ có phạm nhân! (phạm điều 79 và điều 88 bộ LHS)

    Nếu Trung Đế Quốc không chụu ra Tòa thì không CP nào đòi lại được HS và phần TS bị chiếm, chứ đừng nói đến cá nhân.

    Điều chúng tôi cố gắng làm là nói với người Việt và người nước ngoài là nước Việt Nam ngày nay có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS. Ngược với Hoàng Trường Sa (talawas), Khác Qua Đường (Dân Luận), vv, đi theo và quảng bá quan điểm như của Greg Austin là Việt Nam ngày nay không có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS.

    Đoạn in đậm là không liên quan gì đến vấn đề chúng ta đang nói tới.

    slinkee viết:
    Chúc các bác may mắn trong việc chứng minh VNDCCH không phải là CHXHCNVN!

    Cảm ơn bác. Nếu trên diện pháp lý CHXHCNVN = VNDCCH thì có lẽ chủ quyền của VN đối với HSTS đã chết cùng với VNCH/CHMNVN rồi. Và nếu thế thì bây giờ đi khua chiêng gõ trống, niệm thần chú, liên quan đến chính thể đã chết (VNCH/CHMNVN), hay làm cho chính thể đó sống lại, thì cũng không làm cho chủ quyền của VN đối với HSTS sống lại được.

    Ông Dương Danh Huy nói SAI HOÀN TOÀN. Ai cũng rõ là trong mọi tranh chấp, hay tranh đấu nói chung, thì câu biết người biết ta trăm trận trăm thắng là điều cần luôn luôn ghi nhớ. Những gì tôi đưa ra là quan điểm của một học giả Úc, tiến sĩ Greg Austin, chuyên gia môn công pháp quốc tế, phân tích về những LÝ LẼ PHÁP LÝ của hai phía CHXHCNVN và CHNDTH về chủ quyền của hai nước VN và TQ trên Hoàng Sa. Ông này nêu ra những lý lẽ mà cả hai phía VN và TQ có thể đưa ra, trong đó có nhận định quan trọng là do VNDCCH đã phạm lỗi estoppel do Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 và do những tuyên bố đơn phương và những sự thừa nhận chủ quyền TQ trên HS của phía VNDCCH, và ngoài ra do lỗi của Pháp đã không phản đối các hoạt động để “thụ đắc” HS của phía TQ trong khoảng thời gian từ 1909 đến 1931, nên tuyên bố chủ quyền của TQ có phần ƯU THẮNG so với CHXHCNVN. Đây là những SỰ KIỆN (FACTS) mà phía VN ta cần phải BIẾT để tìm cách HÓA GIẢI và đem lại THẮNG LỢI cho VN, là bảo vệ được HS và TS, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc ta. Thay vì chỉ ru ngủ, lấp liếm những LỖI LẦM của ĐCSVN từ thời ông Hồ đến nay và chạy theo đuôi, làm những gì ĐCSVN muốn (dù phải hy sinh cả HS, TS) như một số “trí thức phò Đảng” đang làm. Lấp liếm sự nguy hại của Công hàm PVĐ bằng những câu ru ngủ, tự uống thuốc an thần rằng Công hàm này không sao đâu, nó không có giá trị v.v…, liệu là TỐT HƠN hay là tìm cách PHỦ NHẬN nó và tìm phương sách giành lại tố quyền cho VN đã bị đánh mất vì cái Công hàm ô nhục này (như ông Trương Nhân Tuấn đề nghị)?
    Thử hỏi ông HUY rằng nếu tôi không đưa ra đây quan điểm của Tiến sĩ Greg Austin thì liệu phía TQ họ có biết hay chăng, khi quan điểm này được nêu ra trong một cuốn sách bằng Anh ngữ, xuất bản đã hơn chục năm trước? Nếu ta KHÔNG BIẾT GÌ CẢ, mà chủ quan khinh địch, liệu ta có thể TẤT THẮNG trong việc tranh chấp với TQ về HS và TS hay chăng? Vấn đề cần phải tự hỏi là tại sao chủ quyền của VN trên HS rất rõ ràng, HS vốn là lãnh thổ của VN từ ít nhất là từ thời vua Gia Long (tức là từ 1802), tại sao hôm nay lại lâm vào nguy cơ có thể bị từ khước trên mặt công pháp quốc tế (như ông Greg Austin đã nghĩ)? Nếu VNDCCH không ký cái Công hàm ô nhục 14/9/1958 để phải phạm lỗi estoppel, hay nếu VNDCCH không xâm lăng và xóa sổ VNCH (chính quyền kế thừa hợp pháp của HS từ triều Nguyễn) vào năm 1975, hay nếu CHXHCNVN, sau ngày 30/4/1975, chịu để cho CPLTNVN ra mắt chính phủ và tuyên bố thay thế Chính phủ VNCH, công bố Hiến pháp mới của nước VNCH (hay ngay cả nước Cộng Hòa Nam Việt Nam nếu muốn), tiếp nối thừa kế các chính quyền miền Nam trước đó, thì thế giới bây giờ đâu có ai đặt vấn đề rằng CHXHCNVN chỉ đơn giản là VNDCCH được ĐỔI TÊN sau năm 1976 (như ông Greg Austin đã nhận định, mà người VN nào sống qua giai đoạn 1975 đến hôm nay, đều phải ĐỒNG Ý, dù muốn hay không)?

    Cảm ơn bác Hồng Lạc và slinkee về lời chúc của hai bác.

    slinkee viết:
    Chúc bác Dương Danh Huy và QNCBĐ thành công đòi lại HSTS đã mất về tay Đại Hán Trung Quốc. Cũng chúc thế giới công nhận CHXHCNVN không có tù nhân chính trị, chỉ có phạm nhân! (phạm điều 79 và điều 88 bộ LHS)

    Nếu Trung Đế Quốc không chụu ra Tòa thì không CP nào đòi lại được HS và phần TS bị chiếm, chứ đừng nói đến cá nhân.

    Điều chúng tôi cố gắng làm là nói với người Việt và người nước ngoài là nước Việt Nam ngày nay có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS. Ngược với Hoàng Trường Sa (talawas), Khác Qua Đường (Dân Luận), vv, đi theo và quảng bá quan điểm như của Greg Austin là Việt Nam ngày nay không có chủ quyền hợp pháp đối với HSTS.

    Đoạn in đậm là không liên quan gì đến vấn đề chúng ta đang nói tới.

    slinkee viết:
    Chúc các bác may mắn trong việc chứng minh VNDCCH không phải là CHXHCNVN!

    Cảm ơn bác. Nếu trên diện pháp lý CHXHCNVN = VNDCCH thì có lẽ chủ quyền của VN đối với HSTS đã chết cùng với VNCH/CHMNVN rồi. Và nếu thế thì bây giờ đi khua chiêng gõ trống, niệm thần chú, liên quan đến chính thể đã chết (VNCH/CHMNVN), hay làm cho chính thể đó sống lại, thì cũng không làm cho chủ quyền của VN đối với HSTS sống lại được.

    Tôi nói là TQ đưa ra, không phải quốc tế xét .

    Chúc các bác may mắn trong việc chứng minh VNDCCH không phải là CHXHCNVN!

    slinkee viết:
    Về công hàm PVĐ, tôi coi trên mạng thấy TQ đã đưa ra trường hợp estoppel liên quan đến bản công hàm Phạm Văn Đồng. Một bản công hàm đồng ý với tuyên cáo về lãnh thổ của một đất nước nào đó không cần nước đưa ra công hàm phải có chủ quyền đối với vùng đất đó . Ví dụ, TQ đang tranh giành đảo Senkoku với Nhật, VN có quyền ra công hàm ủng hộ chủ quyền của TQ hoặc của Nhật đối với đảo này mà không cần có chủ quyền hay đang tranh chấp chủ quyền với đảo này . Bản công hàm có giá trị VN tự ý từ bỏ quyền tranh chấp (nếu có) của mình đối với vùng lãnh thổ đó . Ý thứ 2 là tôn trọng/ủng hộ chủ quyền của nước mà VN ủng hộ trong công hàm đối với vùng lãnh thổ đó . Tức có nghĩa bản công hàm Phạm Văn Đồng là một lý do rất chính đáng để cáo buộc VN đang chiếm đóng trái phép trên vùng đất được nêu trong công hàm . Nếu có tranh chấp, TQ chỉ tranh chấp với các nước khác, ngoại trừ VN.

    Trả lời thêm cho bác Sáu, các nước khác chấp nhận cho VN vào UN không có nghĩa chính phủ nhà bác không làm điều gì xấu, chỉ có nghĩa -như tôi đã nêu- là chính quyền đó hiện đang là thực thể đại diện cho một quốc gia có chủ quyền . Chuyện làm chủ như thế nào chưa bao giờ là nhân tố chính để quyết định nên cho hay không cho một nước trở thành thành viên .

    Bác slinkee,

    Ai quyết định là estoppel ? Tòa án quyết định là estoppel chứ không phải là các bên ra hầu tòa.
    Mọi việc cứ việc đưa nhau ra tòa án quốc tế và tòa án biển làm trọng tài. Tại sao TQ đơn phương nhất định không chịu ? Tụi TQ ngang ngược, vô lý, không thể chấp nhận được

    Trở lại công hàm của PVĐ ký, nó không có giá trị như một hiệp ước giữa các quốc gia. Phải có tham khảo giữa các phái đoàn hai bên chính phủ, thông qua QH và trưng cầu dân ý vì đây là vấn đề chủ quyền biển đảo chứ có phải là trò đùa đâu mà chỉ có một cái công hàm của chính phủ mà quyết định chủ quyền biển đảo ? Chính phủ Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ năm nội các) ra một công hàm không có giá trị pháp lý .

    Không cùng đối tượng : VNDCCH không phải là VNCH và CHXHCNVN

    Về công hàm PVĐ, tôi coi trên mạng thấy TQ đã đưa ra trường hợp estoppel liên quan đến bản công hàm Phạm Văn Đồng. Một bản công hàm đồng ý với tuyên cáo về lãnh thổ của một đất nước nào đó không cần nước đưa ra công hàm phải có chủ quyền đối với vùng đất đó . Ví dụ, TQ đang tranh giành đảo Senkoku với Nhật, VN có quyền ra công hàm ủng hộ chủ quyền của TQ hoặc của Nhật đối với đảo này mà không cần có chủ quyền hay đang tranh chấp chủ quyền với đảo này . Bản công hàm có giá trị VN tự ý từ bỏ quyền tranh chấp (nếu có) của mình đối với vùng lãnh thổ đó . Ý thứ 2 là tôn trọng/ủng hộ chủ quyền của nước mà VN ủng hộ trong công hàm đối với vùng lãnh thổ đó . Tức có nghĩa bản công hàm Phạm Văn Đồng là một lý do rất chính đáng để cáo buộc VN đang chiếm đóng trái phép trên vùng đất được nêu trong công hàm . Nếu có tranh chấp, TQ chỉ tranh chấp với các nước khác, ngoại trừ VN.

    Trả lời thêm cho bác Sáu, các nước khác chấp nhận cho VN vào UN không có nghĩa chính phủ nhà bác không làm điều gì xấu, chỉ có nghĩa -như tôi đã nêu- là chính quyền đó hiện đang là thực thể đại diện cho một quốc gia có chủ quyền . Chuyện làm chủ như thế nào chưa bao giờ là nhân tố chính để quyết định nên cho hay không cho một nước trở thành thành viên .

    Bác nêu ra không có ai đề nghị đề nghiếc đuổi gì cả .

    Tôi đã nói rồi, criteria không phải là peace-loving, và quyết định phần lớn là do chiều hướng của UN lúc đó . Đó là cách TQ của Mao vào UN thế chỗ chính quyền của Tưởng để trở thành thành viên thường trực . Tức là để thương thảo, VN và những "nước khác" đã có thể dùng trường hợp đó như một leverage.

    slinkee viết:
    Tôi cũng đang bàn về criteria để trở thành thành viên . Việc trục xuất là để trả lời một còm trong này nói là vì VN không bị trục xuất nên mọi thứ đều fine & dandy. Chỉ nêu ra là mặc dù VN không bị trục xuất hoặc bị đề nghị trục xuất không có nghĩa VN có chính nghĩa . Một chính thể độc tài vẫn còn tại vị không có nghĩa chính quyền đó không độc tài và không có người oán ghét nó .

    Chỉ được cái nói gà, nói vịt!!!

    Người ta đã nói rõ ràng là VN chỉ 2 năm sau 1 cuộc chiến đẫm máu kéo dài (không peace loving tý nào cả) lại được nhận ngay vào UN!!! Chứng tỏ là lúc ấy có uy tín, được sự ủng hộ của nhiều nước, của cả Mỹ, Anh, Pháp, những nước dân chủ sáng ngời, là ủy viên thường trực, có quyền veto! tự nhiên lại xoay qua nói chuyện trục xuất là thế nào??? Chuyện trục xuất chỉ nói khi ai đó là thành viên rồi.

    Ỏ đây người ta đang bàn về chuyện có lý, hay không có lý, khi đem ra phân xử bằng tòa án quốc tế và vai trò của Liên Hiệp Quốc!!!

    Vì ghét CHXHCN VN, chiến sỹ slinkee tìm cách chứng minh rằng trong Liên Hiệp Quốc rất nhiều thằng độc tài ngồi trong đó, bọn này thương nhau, nên CHXHCN VN, dù không có chính nghĩa, vẫn được lôi vào, không bị trục xuất ra.

    Hóa UN là cái ổ bị bọn 'độc tài' lũng đoạn, theo ý của slinkee!!! Nhưng không qua UN thì qua bọn nào bây giờ??? Đời nhiều khi khổ vậy đấy!!!???

    Tôi nói là không rõ những vận động hậu trường ra sao, và criteria để trở thành thành viên không phải là chiếm đóng, và peace-loving có thể hiểu sao cũng được . Chưa hết, còn tùy chiều hướng của các thành viên UN và ông Tổng Thư Ký, chưa kể, như đã nêu ra trường hợp TQ, có thể bỏ qua phản đối của (ít nhất) một thành viên thường trực .

    Tôi coi trên mạng về chính phủ 2 miền trước 75, miền Nam không được nhận là thành viên vì Liên Xô phản đối, và miền Bắc bị Mỹ phản đối, nên cả 2 đều không thể là thành viên . Sau này có thể dựa vào criteria chính là sovereign tức chủ quyền mà vận động . Cái khó là Mỹ, thì [chắc Mỹ cũng muốn bỏ miền Nam để lấy lòng TQ nên cho VN -như là một thực thể- vào]. Phần [...] là giả thuyết đặt ra, không có chứng cứ xác thực .

    Tôi cũng đang bàn về criteria để trở thành thành viên . Việc trục xuất là để trả lời một còm trong này nói là vì VN không bị trục xuất nên mọi thứ đều fine & dandy. Chỉ nêu ra là mặc dù VN không bị trục xuất hoặc bị đề nghị trục xuất không có nghĩa VN có chính nghĩa . Một chính thể độc tài vẫn còn tại vị không có nghĩa chính quyền đó không độc tài và không có người oán ghét nó .

    Chúc bác Dương Danh Huy và QNCBĐ thành công đòi lại HSTS đã mất về tay Đại Hán Trung Quốc. Cũng chúc thế giới công nhận CHXHCNVN không có tù nhân chính trị, chỉ có phạm nhân! (phạm điều 79 và điều 88 bộ LHS)

    Dương Danh Huy viết:
    Tóm lại, tôi thấy cách giải mã CHPVĐ trong bài viết của Nguyễn Thái Linh dù có thể là chưa hoàn hảo, chắc chắn 100%, nhưng vẫn là hướng đi dựa tên pháp lý nhiều nhất, có lập luận mạnh mẽ nhất mà chúng ta có cho đến nay:

    1. Cho đến 1976 có 2 Quốc gia.

    Hai quốc gia luôn luôn đối lập hoặc dung hòa để thành 1 Quốc Gia Chung là mục tiêu , nguyện vọng thâu suốt của dân Việt Nam , nó khác hoàn toàn với 2 quốc gia độc lập , việc ai nấy làm NÊN không gọi đó là Quốc Gia như mọi quốc gia độc lập khác. Điều phân biệt 2 quốc gia này không có ý nghĩa gì cả mà chỉ Tồn tại thực sự 2 chính phủ và Chính phủ nào cũng muốn thu giang sơn kèm biển đảo về 1 mối .

    Dương Danh Huy viết:
    2. Quốc gia phía Nam có chủ quyền với HSTS. Quốc gia phía Bắc không có thẩm quyền gì với HSTS.

    .
    KHÔNG ĐÚNG
    Quốc gia Phía Nam có chủ quyền không những với HSTS mà còn cả Miền Bắc , vịnh Bắc bộ .... trên vĩ tuyến 17 , nhưng không ( chưa có điều kiện) kiểm soát, quản lý . Quốc gia phía Bắc cũng vậy, không những có chủ quyền với Phú Quốc , Sơn trà, HSTS mà cả một dải Miền Nam từ vĩ tuyến 17 đến Mũi Cà Mau.

    Dương Danh Huy viết:
    3. Năm 1976 2 Quốc gia đó thống nhất thành VN ngày nay, và quốc gia thống nhất đó thừa kế chủ quyền lãnh thổ từ cả 2 Quốc gia trước đó.

    Thử so sánh hướng đi đó & những lập luận của nó với hướng đi của các ông Hoàng Trường Sa (talawas), Khách Qua Đường (Dân Luận), Trương Nhân Tuấn:

    Quan điểm này đúng . Sau năm 1976 , nguyện vọng lớn lao của cả dân tộc Việt Nam được thực hiện với sự thắng lợi của đường lối , chính sách Chính phủ VNDCCH và Quốc gia Việt Nam thực sự được thống nhất trọn ven với sự quản lý của 1 chính phủ . Quốc tế công nhận có tư cách để bình đẳng với các quốc gia khác.

    Dương Danh Huy viết:
    4. VNDCCH không có chủ quyền đ/v HSTS

    Không đúng . VNDCCH có chủ quyền đối với mọi nơi mà VNCH đang kiểm soát .

    Dương Danh Huy viết:
    5. VN ngày nay chỉ thừa kế từ VNDCCH, không thừa kế chủ quyền lãnh thổ từ Quốc gia phía Nam, cho nên VN từ 1975/1976 đến nay không có chủ quyền đối với HSTS.

    Không đúng . VN thống nhất lãnh thổ và có chủ quyền mọi điểm lãnh thổ của cả 2 miền và quản lý , kiểm soát nó .

    Dương Danh Huy viết:
    6. Nhưng nếu bây giờ làm 1 số thủ thục thì sẽ biến không có chủ quyền thành có.

    Không có thủ tục nào thay thế được những Hành động chứng minh nhân dân Việt Nam, Quốc Gia VN có chủ quyền với HS và TS : Thông báo rộng rãi cho nhận loại , đặc biệt là nhân dân Trung Quốc thấy được các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của VN đối với HS và TS.Tận dụng mọi cơ hội để thảo luận công khai với chính phủ Trung Quốc về việc trả lại HS và TS cho VN . Qua thu thập thông tin tình báo chứng minh sự cố ý phớt lờ những nỗ lực của phái Việt Nam THÌ VN phải tính đến lập ra 1 thế trận đánh chiếm , lấy lại HS và TS .

    Dương Danh Huy viết:
    Theo tôi, trong hướng đi đó, chỉ có điểm 4 là phù hợp với pháp lý quốc tế.

    Điểm 4 đã không đúng thì không có gì để phù hợp . Việc sơ suất trong chính sách ngoại giao của VNDCCH là một sai sót chính trị . Tòa án không căn cứ vào các tuyên bố , mà căn cứ theo bằng chứng , Tòa có thể hủy giá trị của các tuyên bố trên cơ sở chứng minh các tuyên bố đó không dựa vào bằng chứng hiện hữu .

    Dương Danh Huy viết:
    Điểm 5 không phù hợp với pháp lý quốc tế.

    Do điểm 5 vô lý nên nếu Tòa phân xử thì Tòa sẽ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của VN là nước CHXHCNVN .

    Dương Danh Huy viết:
    Điểm 6 chỉ là bánh vẽ dựa trên việc không biết luật quốc tế là gì.

    Điều này đúng

    Tóm lại, tôi thấy cách giải mã CHPVĐ trong bài viết của Nguyễn Thái Linh dù có thể là chưa hoàn hảo, chắc chắn 100%, nhưng vẫn là hướng đi dựa tên pháp lý nhiều nhất, có lập luận mạnh mẽ nhất mà chúng ta có cho đến nay:

    1. Cho đến 1976 có 2 Quốc gia.
    2. Quốc gia phía Nam có chủ quyền với HSTS. Quốc gia phía Bắc không có thẩm quyền gì với HSTS.
    3. Năm 1976 2 Quốc gia đó thống nhất thành VN ngày nay, và quốc gia thống nhất đó thừa kế chủ quyền lãnh thổ từ cả 2 Quốc gia trước đó.

    Thử so sánh hướng đi đó & những lập luận của nó với hướng đi của các ông Hoàng Trường Sa (talawas), Khách Qua Đường (Dân Luận), Trương Nhân Tuấn:

    4. VNDCCH không có chủ quyền đ/v HSTS
    5. VN ngày nay chỉ thừa kế từ VNDCCH, không thừa kế chủ quyền lãnh thổ từ Quốc gia phía Nam, cho nên VN từ 1975/1976 đến nay không có chủ quyền đối với HSTS.
    6. Nhưng nếu bây giờ làm 1 số thủ thục thì sẽ biến không có chủ quyền thành có.

    Theo tôi, trong hướng đi đó, chỉ có điểm 4 là phù hợp với pháp lý quốc tế. Điểm 5 không phù hợp với pháp lý quốc tế. Điểm 6 chỉ là bánh vẽ dựa trên việc không biết luật quốc tế là gì.

    1. Tôi đang nói về việc trở thành thành viên LHQ, cụ thể là việc VN trở thành thành viên LHQ, bác lại lạc đề sang thâu lại membership/đuổi ra.

    2. Bác xem lại tiêu chuẩn/thủ tục trở thành thành viên LHQ bác sẽ thấy có 2 bước

    (i) Hội đồng bảo an phải bỏ phiếu có recommend 1 nước hay không.
    (ii) Sau khi HĐBA recommend thì đại hội đồng LHQ sẽ bỏ phiếu có cho nước đó tham gia hay không.

    Trong bước (i), mỗi thành viên thường trực của HĐBA có quyền block recommendation (=phủ quyết). Cho nên Mỹ, Anh, Pháp, TQ đều có thể block VN vào LHQ nhưng họ đã cho VN vào.

    http://www.un.org/en/members/about.shtml

    Trích dẫn:
    Membership in the Organization, in accordance with the Charter of the United Nations, “is open to all peace-loving States which accept the obligations contained in the [United Nations Charter] and, in the judgment of the Organization, are able to carry out these obligations”. States are admitted to membership in the United Nations by decision of the General Assembly upon the recommendation of the Security Council. The procedure is briefly as follows:

    The State submits an application to the Secretary-General and a letter formally stating that it accepts the obligations under the Charter.
    The Security Council considers the application. Any recommendation for admission must receive the affirmative votes of 9 of the 15 members of the Council, provided that none of its five permanent members — China, France, the Russian Federation, the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and the United States of America — have voted against the application.
    If the Council recommends admission, the recommendation is presented to the General Assembly for consideration. A two-thirds majority vote is necessary in the Assembly for admission of a new State.
    Membership becomes effective the date the resolution for admission is adopted.

    slinkee viết:
    UN có quyền thâu lại membership -tức đuổi ra- khỏi UN, nhưng đã nói rồi, tùy theo chiều hướng của các thành viên và cách vận động hậu trường của các nước độc tài . Nói thẳng ra, các nước được xem là dân chủ không phải thuộc số đông trong UN, và, một lần nữa, độc tài thường cảm thấy cô đơn nên hay liên kết với nhau .

    Nếu tôi không lầm, đã hơn 1 lần, một số thành viên UN đã tẩy chay, quay mặt lại với các tuyên cáo, đòi hỏi ... của Libya, aka chính quyền của Gadhafi, nhưng không đề nghị đuổi Libya ra khỏi UN. Gadhafi, Polpot còn không đuổi ra thì VN dư xăng ở lại .

    Về quyền thừa kế thì phải coi lại . Thú thật là tôi không rành . Nhưng để vô hiệu hóa bản công hàm Phạm Văn Đồng -vì là chính phủ được UN thừa nhận- thì, tôi nghĩ, phải vô hiệu hóa chính phủ miền Bắc trước .

    HongLac viết:
    Dương Danh Huy viết:

    Tôi đồng ý với bác khi bác nói "chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (PRG) thay thế chính phủ nước VNCH", nhưng đó là chính phủ thay thế chính phủ, chứ không phải quốc gia thay thế quốc gia.

    Tôi viết như trên mà bác vẫn chưa hiểu ý tôi! Tôi nói chính phủ thay chính phủ, không nói quốc gia thay quốc gia. Tôi hiểu ý bác muốn nói, chính phủ thay chính phủ là đủ rổi, vẫn là quốc gia VNCH (bao nhiêu nước đã công nhận điều nầy hay chỉ là “most communist states”). Nhưng tôi thấy là chưa được, thế giới biết và xem đó là môt hình thức chiếm đóng của nước VNDCCH đối với Quốc gia Việt Nam (State of Vietnam, Republic of Vietnam) và vi phạm Hiệp định Paris 1973. Giá mà sau 30/4/1975, ĐCSVN để miền Nam hình thành như một quốc gia độc lập có Hiến pháp mới, Quốc hội mới, có một nền ngoại giao riêng để được nhiều nước trên thế giới công nhận, thiết lập ngoại giao, rồi vài năm sau hãy thống nhất thì chắc là không bị rắc rối như ngày nay (?).

    Ý của bác Hồng Lạc đúng theo suy nghĩ của tớ.

    Nhưng đảng CS VN vì lòng tham (danh vọng, quyền lực, tài sản.....) nên đã vội vàng vất bỏ CPLTCHMN VN không thương tiếc, không suy nghĩ, khi đã đạt được mục đích, lật đổ chính quyền VNCH.
    Điều này đã làm thất vọng những thành phần ủng hộ CPCMLT CHMN VN. Song song đó là mặc nhiên đồng thuận với TQ trong một thời gian dài 37 năm.
    Những bước tính sai lầm, thiển cận, không nhìn xa, đối với mọi vấn đề của đất nước đã đưa VN đến ngày hôm nay. Khó khăn trong tất cả mọi vấn đề: Nội bộ, đối ngoại, nhất là TQ. Viễn ảnh TQ đô hộ VN sẽ xẩy ra, chỉ là thời gian, sớm hay muộn thôi.

    UN có quyền thâu lại membership -tức đuổi ra- khỏi UN, nhưng đã nói rồi, tùy theo chiều hướng của các thành viên và cách vận động hậu trường của các nước độc tài . Nói thẳng ra, các nước được xem là dân chủ không phải thuộc số đông trong UN, và, một lần nữa, độc tài thường cảm thấy cô đơn nên hay liên kết với nhau .

    Nếu tôi không lầm, đã hơn 1 lần, một số thành viên UN đã tẩy chay, quay mặt lại với các tuyên cáo, đòi hỏi ... của Libya, aka chính quyền của Gadhafi, nhưng không đề nghị đuổi Libya ra khỏi UN. Gadhafi, Polpot còn không đuổi ra thì VN dư xăng ở lại .

    Về quyền thừa kế thì phải coi lại . Thú thật là tôi không rành . Nhưng để vô hiệu hóa bản công hàm Phạm Văn Đồng -vì là chính phủ được UN thừa nhận- thì, tôi nghĩ, phải vô hiệu hóa chính phủ miền Bắc trước .

    Đây là criteria chính để trở thành thành viên của LHQ, không liên quan gì tới việc chiếm đóng

    In principle, only sovereign states can become UN members

    Peace-loving chỉ là subjective, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu . Tôi không rõ những vận động hậu trường ra sao .

    Trường hợp Cambodia: trở thành thành viên từ 1955, Polpot lên chỉ thế chỗ, chính phủ đương thời lên (lại) thế chỗ

    Trường hợp TQ:

    On 25 October 1971, United Nations General Assembly Resolution 2758 was adopted, by which recognized the People's Republic of China instead of the Republic of China as the legitimate representative of China in the UN and effectively expelled the Republic of China from the UN in 1971 (see the section Former members: Republic of China). This act did not constitute as the expulsion of a member state under Article 6, as this would have required Security Council approval and been subjected to vetoes by its permanent members, which included the Republic of China itself and the United States, which at that time still recognized the Republic of China.

    Tức là UN có quyền phủ quyết, ít nhất trong trường hợp này, phiếu chống của một thành viên thường trực, kết quả phiếu chống của Mỹ bị loại .

    Ở trên cũng nói, tùy theo khuynh hướng của UN và ông Tổng thư ký thế nào . Độc tài thường cảm thấy cô đơn .

    Chiếm đóng hay không chiếm đóng, chưa bao giờ là criteria để trở thành một thành viên của LHQ cả .

    http://en.wikipedia.org/wiki/Member_states_of_the_United_Nations

    Pages